Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

Nguyễn Thanh
[Tiếp Theo ]
Image result for bùi hữu nghĩa
 

Kinh hoàng nghe được tin chẳng lành về việc chồng bị kết tội một cách oan ức, vợ Bùi Hữu Nghĩa là Nguyễn Thị Tồn, cấp tốc quá giang ghe bầu, vượt sóng gió ngày đêm lặn lội ra tận kinh dô Huế (1849), tìm cách kêu oan cứu chồng. Lúc bấy giờ, Tiến sĩ Phan Thanh Giản (nhà thơ Lương Khê) đang làm Thượng thư bộ Lại, Nguyễn Thị Tồn tìm đến tư dinh Phan Thanh Giản trình bày hết sự việc. Nghe theo lời chỉ dẫn của Phan Thanh Giản, bà Nguyễn Thị Tồn đến trước Tam pháp ty gióng ba hồi trống “Kích cổ đăng văn” (đánh trống, đội đơn)  có tính cách thúc giục vua lâm triều, để bà dâng sớ kêu oan cho chồng. Hành động can trường, đáng kính phục xuất phát từ lòng thương chồng, đã khiến cho vua Tự Đức động lòng, tha tội tử hình cho Bùi Hữu Nghĩa, nhưng họ Bùi 
phải chịu án nhẹ “quân tiền hiệu lực” tức là bị đày đi làm lính ở đồn Vĩnh Thông, thuộc tổng Châu Phú  (Châu Đốc) để lập công chuộc tội. Trong khi đó, bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, nghe tin có người đàn bà ở đất Đồng Nai ra tận kinh đô Huế minh oan cho chồng, liền cho vời đến gặp bà. Nguyễn Thị Tồn vào yết kiến mẹ vua và trình tâu hết mọi việc. Hoàng Thái hậu Từ Dũ (1810-1901) cảm động, ban tặng cho Nguyễn Thị Tồn một tấm biển đề bốn chữ vàng: “Liệt phụ khả gia” (người phụ nữ tiết liệt trong gia đình). Tuy cứu được chồng, nhưng khi trở về đến quê nhà ở Biên Hòa, bà Nguyễn Thị Tồn lâm bệnh và mất. Bà được an táng tại nơi đó. Nghe tin vợ mất, lúc bấy giờ Bùi Hữu Nghĩa đang ở nơi biên trấn xa xôi, một địa điềm giáp ranh biên giới với Kampuchia nơi ông nhận lệnh đi trấn đồn Vĩnh Thông sau khi bị kỷ luật. Về đến Biên Hòa thì việc an táng vợ đã xong. Bùi Hữu Nghĩa rất đau lòng và ngậm ngùi làmhai cặp câu đối (một chữ Hán, một chữ Nôm) và một bài văn tế vợ mất để tỏ lòng tiếc thương người vợ hiền phụ quá cố . Sau đây là hai câu đối chữ Hán : “Ngã bần, khanh năng trợ, ngã oan, khanh năng minh, triều dã giai xuân khanh thị phụ/ Khanh bệnh, ngã bất dược, khanh tử, ngã bất tán, giang sơn ưng tiếu ngã phi phu”. Nghĩa : Ta nghèo, mình hay giúp đỡ, ta tội, mình biết kêu oan; trong triều, ngoài quận đều khen mình mới thật là vợ/ Mình bệnh, ta không thuốc thang, mình chết, ta không chôn cất ; non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng. Bài văn tế vợ có lời kể lể thiết tha : “Phụng lìa đôi chếch mác, đừng nói sửa sang giềng mối, khi túng thiếu manh quần tấm áo, biết lấy ai mà cậy nhờ. Gà mất mẹ chít chiu, đừng nói nhắc biểu học hành, khi lạt thèm miếng bánh đồng gàng, biết theo ai mà thỏ thẻ…”. Trong một lần ra thăm mộ người vợ can trường đã khuất bóng ba năm, Thủ khoa đã xúc động, ngậm ngùi làm bài thơ Khóc vợ, với lời lẽ thống thiết nao lòng: Đã chẵn ba năm mới đặng thăm/Màn loan đâu vắng bặt hơi tăm/ Gió đưa đâu thấy hình dương liễu/ Đêm vắng ai hoài tiếng sắt cầm/ Chồng nhớ vợ, lòng tơ bối rối/ Con thương mẹ lụy ngọc tuôn dầm/ Có linh chín suối, đừng xao lãng/ Thỉnh thoảng về thăm lúc tối tăm.
Khi được điều về trấn nhậm ở Hà Âm, gần biên giới Tây Nam, Thủ khoa Nghĩa đã thấy tận mắt những đống xương khô của tử sĩ chết lâu ngày do chiến tranh của triều đình Nhà Nguyễn với các lân bang : Xiêm, Lào và Cao Miên trong suốt 20 năm qua, kéo dài từ giữa đời vua Minh Mạng (1820-1840) sang đời vua Thiệu Trị (1841-1847), đến đời vua Tự Đức (1847-1883) mới chấm dứt. Cuộc chinh chiến tóc tang đã làm mất đi bao nhiêu sinh mệnh của người dân vô tội. Hiện thực đau lòng ấy đã khiến nhà thơ không khỏi xót xa ngậm ngùi và cảm tác bài thơ  Kinh quá Hà Âm : Mù mịt mây đen kéo tối dầm / Đau lòng thuở nọ chốn Hà Âm/ Đống xương vô định, sương phau trắng/ Vũng máu phi thường có nhúm thâm/ Gió trốt dật dờ nơi chiến lũy/ Đèn trời leo lét dặm u lâm/ Nghĩ thương con tạo sao dời dổi/ Dắng dỏi trên đường tiếng dế ngâm. Sau khi bà Nguyễn Thị Tồn qua đời, Bùi Hữu Nghĩa vẫn tiếp tục ở đồn Vĩnh Thông, nhà thơ tục huyền với bà Lưu Thị Hoán, con gái của Xã trưởng Lưu Văn Dụ và về sau sinh được bốn người con. Con gái đầu lòng không rõ tên. Ba người con trai sau đó là : Bùi Hữu Khánh, Bùi Hữu Sanh và Bùi Hữu Út. Tình hình nơi Bùi Hữu Nghĩa đóng đồn thường không ổn định, do các cuộc nổi dậy chống triều đình của thổ dân và những người bên kia nước láng giềng. 
Trong một cuộc chạm trán, đồn Vĩnh Thông thất thủ, quan quân trong đồn bị giết và bị bắt dẫn đi hết trong đó có Bùi Hữu Nghĩa. Do từ lâu đã nghe tiếng Bùi Hữu Nghĩa là người nhân từ, từng quan tâm và giúp đỡ cho người Khmer nghèo khổ, nên đối phương tha cho ông về. Hơn nữa, vua Cao Miên lúc đó là Ong Duôn, còn cho thuyền đưa Bùi Hữu Nghĩa về đến biên giới Tịnh Biên. Không ngờ, vừa được tự do Thủ khoa Nghĩa  lại nghe tin con gái người con đầu lòng là Bùi Thị Xiêm qua đời, đúng ba năm sau ngày vợ ông mất. Nhà thơ quày quã trở về quê lo tang lễ cho con, thăm lại mộ vợ. Bùi Hữu Nghĩa đã làm bài văn tế khóc con gái với tình cảm dạt dào của người cha rất mực thương con : Thảo với Cha, lành với Mẹ như bát nước không xao/ Ra cùng xóm, ở cùng làng, ước hột cơm chẳng cắn/ Chị hay niềm, em hay nỡ, ai mà chẳng dấu chẳng yêu/ Ăn bữa trước, lo bữa sau, mẹ đà khỏi dò dặn/ Thấy con trẻ, Cha mừng hết lớn, nừng thì mừng mà dạ hãy băng sương/ Nghe con rên, Cha sợ muốn điếng hồn, sợ thì sợ, chạy trời sao khỏi nắng/…..Nhớ tiếng con cười, lời con thốt, càng thêm chua xót đời con/….
 
                  Ngày 18/2/1859, giặc Pháp chiếm Sài Gòn gây bao đau thương cho dân tộc và cũng làm thức tỉnh những sĩ phu, văn nghệ sĩ yêu nước. Tiếp đến, thực dân Pháp lại đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam kỳ (1962), Thủ khoa Nghĩa xin từ quan về quê dạy học, bốc thuốc, chữa bệnh cho dân và làm thơ (lúc này ông lấy biệt hiệu là Liễu Lâm chủ nhân). Nhà của Thủ khoa Nghĩa là nơi gặp gỡ của những con người yêu nước và những danh sĩ mang nặng quốc hồn để bàn bạc việc chống giặc Pháp cứu nước nhà. Năm 1868, nghe Bùi Hữu Nghĩa tham gia phong trào Văn Thân, thực dân Pháp đã bắt nhà thơ đem giam ở Vĩnh Long, sau đó đưa về Gia Định và có định ve vản để ra hợp tác với bọn xâm lược. Với tinh thần sắt son bất khuất và khí tiết kẻ sĩ sáng trong, Bùi Hữu Nghĩa không bao giờ để bọn cướp nước và tay sai mua chuộc, khiến chúng đành phải trả lại tự do nhà thơ. Mang trong lòng mối u hoài vì cảnh nước mất nhà tan mà chưa làm được gì cho đất nước, nhà thơ mượn hình ảnh Cây VôngCây Bần loài cây sanh ra cao lớn giữa đất trời mà chẳng ích lợi gì, để tự trách mình : + Uổng sanh trong thế mấy thu đông/ Cao lớn làm chi, vông hỡi vông /Da thịt càng già, càng lộp xộp/ Ruột gan chẳng có, có gai chông //+ Cao lớn làm chi bần hỡi bần/ Uổng sanh trong thế, đứng chần ngần/ Lá xanh tợ liễu, cành thưa thớt/ Bông bạc dường mai, nhụy sượng sần/ Quyến luyến bầy cò bay sập sận/ Chim qui đàn khỉ đến dần lân/ Rường soi cột trổ, chưa nên mặt/ Cao lớn làm chi, bần hỡi bần ! Là nhà thơ gõ đầu trẻ, Thủ khoa Nghĩa chú tâm khuyên dạy học trò làm những điều tốt : thức khuya dậy sớm cố gắng học hành, tránh xa thói hư tật xấu, để sau này trở thành công dân hữu ích cho nhân quần xã hội, bài :: Ăn ngủ làm chi, hỡi học trò/ Có công đi học phải toan lo/ Chơi bời hoa nguyệt. đừng mơ tưởng (Khuyên học trò). Trong những lúc ưu thời mẫn thế, nhà thơ tự ví mình như ông Lã Vọng ngày trước khi chưa gặp vua Văn Vương nhà Châu, phải ngồi câu cá chờ thời bên bờ sông Vỵ: Danh lợi màng bao chốn cửa hầu/ Thanh nhàn quen thú, một cần câu/…Khói nước năm hồ, tình cả đẹp/ Gió trăng kho cũ, cảnh riêng màu/ Bà vương hội cả dầu chưa gặp/ Thao lược này ai biết được đâu (Câu cá). Khi tham gia phong trào Văn Thân, nhà thơ họ Bùi tin tưởng đất Nam bộ không thiếu người nghĩa khí, thúc giục người họ đứng lên đuổi giặc cứu nước : Ai
                                                                  4
khiến thằng Tây tới vậy à/ Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba/ Nam kỳ chi thiếu người trung nghĩa/Báo quốc Cần vương, há một ta (Ai xui Tây đến); hay : Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây/ Đâu để giang sơn đến thế này/ Hùm nươg non rậm toan chờ thuở/ Cáo loạn vườn hoang thác có ngày/…Một góc cảm thương dân nước lửa/ Đền Nam trụ cả há lung lay(Thời cuộc).
 
                  Cuộc đời sáng đẹp, phẩm chất thanh cao của nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa đã được
minh họa trong văn chương của ông. Nam bộ là miền đất mới khá hiếm hoi về nhân tài văn học nhưng thế kỷ thứ 19 ở đất Đồng Nai, nhưng nhân dân vẫn coi nhà thơ họ Bùi là một trong bốn con rồng vàng văn học : Đồng nai có bốn rồng vàng / Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi. Ngoài vở tuồng Kim Thạch Kỳ duyên (có sự hơp tác của nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt) diễn tả cuộc tình duyên đầy sóng gió giữa chàng Kim Ngọc và nàng Thạch Vô Hà. Trong vở tuồng, tác giả muốn ca ngợi tình yêu chung thủy, và khinh ghét kẻ lọc lừa, tham vàng bỏ ngãi và sự chiến thắng thế lực độc ác, vượt ra ngoài chủ đề tôn quân. Từ điển Bách khoa toàn thư đánh giá :  “Cùng với các vở của Đào Tấn, Nguyễn Hiền Dĩnh, vởKim Thạch Kỳ duyên của Bùi Hữu Nghĩa, đánh dấu sự chuyển biến của tuồng Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20”. Nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, trong Giai thoại làng Nho, có nhắc lại một giai thoại thú vị về nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa, từ đó nói lên tài năng và nhân cách của tác giả Kim Thạch Kỳ duyên : Khoảng thời gian thực dân Pháp đã chiếm ba tỉnh miền Tây, Tổng đốc Trần Bá Lộc 1839-1899) là tên Việt gian tay sai khét tiếng, theo phò thực dân Pháp, hống hách nhiễu nhương dân chúng, chém giết nghĩa quân không gớm tay. Văn Bình là đàn em của Trần Bá Lộc, bản tính háo danh, ngạo mạn lại thích ba hoa nói chuyện văn chương. Một bữa nọ, Văn Bình có dịp đi công cán về Cần Thơ, tìm đến Bùi Hữu Nghĩa cho biết mặt vì nghe tin đồn đã lâu. Cùng mấy tên em út lần dò đến Bình Thủy, khi gần đến nhà Thủ khoa Nghĩa, Văn Bình thấy trên sân một nhà lá đơn sơ, cạnh đường đi có một ông già nhà quê, tuổi khoảng trên sáu mươi, đầu vấn khăn, mặc bộ đồ đen phai màu, đang ngồi một mình đan rỗ. Sau khi được Văn Bình cho biết lý do hắn đến, ông lão đan rỗ nhìn người khách lạ, thong thả : “ - Nhà Thủ khoa Nghĩa cách đây không xa mấy. Xin Ngài và các ông ngồi lại đây nghỉ chân một lát, rồi tôi sẽ đưa các ông đi gặp nhà thơ cũng không muộn” .Trong cuộc trò chuyện, ông lão đoán biết được thâm ý Văn Bình muốn thử tài thơ văn của Bùi Hữu Nghĩa, nên bình tỉnh : “- Cụ Thủ khoa là nhà thơ, thỉnh thoảng cũng có nhiều người tới gặp để cùng bàn bạc chuyện văn chương. Hôm nay, các Ngài đến đây chắc cũng không ngoài mục đích ấy. Vừa nói, ông lão đan rỗ vừa đứng dậy, chủ động mời Văn Bình vào nhà ông cách đó chỉ mươi mét. Tiệc trà nóng bắt đầu cho buổi trò chuyện giữa chủ nhà và khách. “-Thưa Ngài, tôi chỉ là người hàng xóm thích thơ ca và mến mộ cụ Thủ khoa, trước khi gặp nhà thơ, xin đề nghị ta cùng làm ít câu đối đáp nhau cho vui, có gì sai sót để được Ngài chỉ vẽ thêm cho. Theo luật đối đáp, người xướng ra một chữ hay một câu thì người đối sẽ đáp lại. Văn Bình, gật gù đồng ý với vẻ phớt tỉnh vì đã trúng ngay tủ thơ của hắn ta. Chậm rãi, ông lão nhà quê nhìn Văn Bình rồi xướng : VÕ ; Văn Bình đáp : VĂN. Ông lão chủ nhà khen : Thật chỉnh, Văn Bình phớt tỉnh như không. Hai bên tiếp tục: TRẮC - BÌNH, VÃNG - LAI,  NAM - BẮC, CÔ - CỤ. Ông lão đan rỗ, người xướng tán thành nhiệt liệt người đáp đã đối trong hai câu ngũ ngôn rất hay và đúng theo cung cách xướng họa, đối đáp. Ráp lại đầy đủ hai câu xướng và đối là: + VÕ TRẮC VÃNG NAM CÔ  và + VĂN BÌNH LAI BẮC CỤ.* Cuộc trò chuyện đối đáp văn chương vừa xong, cùng lúc với mấy tuần trà cũng đã hết. Bên ngoài, cơn nắng sáng già sang buổi trưa, Văn Bình tỏ ra sốt ruột, muốn được gặp mặt nhà thơ Bùi Hữu Nghĩa mà công chúng khắp nơi đã ngưỡng mộ tài năng và kính trọng về nhân cách. Nhưng Văn Bình được người nhà của ông lão nhà quê đan rỗ, đi hỏi thăm về báo lại là hôm ấy cụ Thủ khoa vắng nhà. Văn Bình cùng đoàn tùy tùng ra về và mấy hôm sau cũng đã hiểu ra được ý nghĩa sâu sắc của câu đối mình làm, để đáp lại câu xướng và ông lão nhà quê đan rỗ kia cũng chính là nhà thơ - thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa – con rồng vàng của đất Tây Đô.
 
                                                                                                             25. 10. 2016
                                                                                                     Nguyễn Thanh


 *Câu xướng : Võ trắc vãng nam cô, không có ý nghĩa.
   Câu đối có nghĩa : Văn Bình lai bắc cụ  có nghĩa là:
                 Ông Văn Bình lại (đây)…(nghĩa của tiếng lái hai chữ cuối câu: bắc cụ)

                                                                

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét