Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

Chân Dung Nhà Biên Khảo THÁI QUỐC MƯU

SỰ SAI BIỆT GIỮA BỘ TIỂU THUYẾT TAM QUỐC DIỄN NGHĨA CỦA LA QUÁN TRUNG VỚI BỘ CHÁNH SỬ TAM QUỐC CHÍ CỦA SỬ GIA TRẦN THỌ.

Thái Quốc Mưu



Lời giới thiệu của Giáo sư, Hiệu trưởng La Ngạc Thụy:

Tam Quốc bao quát cả một thời kỳ lịch sử gần một thế kỷ (từ 184 đến 280 sau công nguyên), tại đó, ba nước Ngụy, Thục, Ngô đã hình thành thế chân vạc trong quá trình đánh dẹp cuộc khởi nghĩa nông dân và trong cuộc chiến tranh giữa các chư hầu với nhau. Bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa của ba anh em Trương Giốc mà lịch sử gọi là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn vàng) cho tới khi Tư Mã Viêm, cháu Tư Mã Ý, tướng Ngụy, thống nhất được Trung Quốc để lập nên nhà Tấn và chấm dứt cục diện tam quốc phân tranh.


Căn cứ vào bộ tiểu thuyết giả sử Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và bộ Chính sử Tam Quốc Chí của Trần Thọ, nhà văn, nhà nghiên cứu Thái Quốc Mưu đã phân tích, lý giải với quan điểm hoàn toàn mới để chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về những nhân vật chủ chốt của bộ Tam Quốc Chí.

La Ngạc Thụy
(Giáo sư, Hiệu trưởng trường trung học Tây Ninh
Chủ nhiệm trang nhà datdung.com)

huy ba 6 Tháng Chín, 2016 at 6:46 chiều
Tơi mong cĩ nhiều bậc trí nhân nghiên cứu về lịch su63 Việt Nam sâu như bài này. Học người một , học mình mười.

***
Tác giả Bộ Chánh Sử Tam Quốc Chí là Trần Thọ (陈寿), tự Thừa Tộ, sanh năm 233, mất năm 297, nguyên quán ở quận Ba Tây (nay thuộc đô thị Nam Sung, tỉnh Tứ Xuyên), làm quan Nhà Thục Hán, khi Thục Hán diệt vong, ông làm quan Nhà Tây Tấn. Trần Thọ thuở nhỏ hiếu học, bái Tiều Chu làm thầy, sau đó giữ chức Quan Các Lệnh Sử triều đình Thục Hán.

Trần Thọ vốn người ngay thẳng, trung thực được người đương thời tôn là bậc chính nhân quân tử, không theo phe phái nào, nhất là bọn hoạn quan Hoàng Hạo.
Trong thời gian đó, Trần Thọ khi làm Trước Trác Lang bắt đầu biên soạn Thục Tướng Gia Cát Lượng Tập dâng lên triều đình, nhờ đó được thăng chức Trung Chính ở quận Dương Bình. Từ đó, Trần Thọ dồn hết tâm huyết để biên soạn tác phẩm Tam Quốc Chí, ghi chép lại lịch sử Trung Quốc thời kỳ Tam Quốc, tổng cộng 65 thiên, trở thành một trong 24 bộ chính sử lớn của Trung Quốc.

Dưới đây là danh sách Nhị Thập Tứ Sử Trung Hoa, gồm có:
1. Sử ký, của Tư Mã Thiên, 130 cuốn.
2. Hán thư, của Ban Cố, 100 cuốn.
3. Hậu Hán thư, của Phạm Diệp, 120 cuốn.
4. Tam quốc chí, của Trần Thọ, 65 cuốn.
5. Tấn thư, do Phòng  Huyền Linh chủ biên, 130 cuốn.
6. Tống thư, của Thẩm Ước, 100 cuốn.
7. Nam Tề thư, của Tiêu Tử Hiển, 59 cuốn.
8. Lương thư, của Diêu Tư Liêm, 56 cuốn.
9. Trần thư, của Diêu Tư Liêm, 36 cuốn.
10. Ngụy thư, của Ngụy Thâu, 114 cuốn.
11. Bắc Tề thư, của Lý Bách Dược, 50 cuốn.
12. Chu thư, do Lệnh Hồ Đức Phân chủ biên, 50 cuốn.
13. Tùy thư, do Ngụy Trưng chủ biên, 85 cuốn.
14. Nam sử, của Lý Diên Thọ, 80 cuốn.
15. Bắc sử, của Lý Diên Thọ, 100 cuốn.
16. Cựu Đường thư, do Lưu Hú chủ biên, 200 cuốn.
17. Tân Đường thư, của Âu Dương Tu và Tống Kỳ, 225 cuốn.
18. Cựu Ngũ Đại sử, do Tiết Cư Chính chủ biên, 150 cuốn.
19. Tân Ngũ Đại sử, do Âu Dương Tu chủ biên, 74 cuốn.
20. Tống sử, do Thoát Thoát chủ biên, 496 cuốn.
21. Liêu sử, do Thoát Thoát chủ biên, 116 cuốn.
22. Kim sử do Thoát Thoát chủ biên,         135 cuốn.
23.Nguyên sử, do Tống Liêm chủ biên, 210 cuốn.
24. Minh sử, doTrương Đình Ngọc chủ biên, 332 cuốn.

Ngoài 24 bộ chánh sử nêu trên, về sau còn có thêm 2 bộ sử nữa:
- Tân Nguyên sử, do Kha Thiệu Văn chủ biên, 257 cuốn.
- Thanh sử cảo, doTriệu Nhĩ Tốn chủ biên, 529 cuốn.

Trong Tấn Thư chép, khi Tam Quốc Chí ra đời được đánh giá rất cao. Đương thời và cùng lúc với Hạ Hầu Trạm biên soạn cuốn Ngụy Thư. Khi Hạ Hầu Trạm xem Tam Quốc Chí của Trần Thọ, Hạ Hầu Trạm thấy mình viết không bằng Tam Quốc Chí của Thọ, liền tự tiêu hủy tác phẩm của mình.

Lưu Hiệp, người thời Lương (Nam, Bắc triều) trong cuốn Văn Tâm Điêu Long, tại mục Sử Truyện chép rằng: “Duy Trần Thọ Tam Quốc Chí, văn chất biện hiệp, Tuân, Trương tỷ chi ư Thiên, Cố, phi vọng dự dã” (Dịch: Tam quốc chí của Trần Thọ thấm nhuần chất văn, như Tuân, Trương so sánh với Thiên, Cố, chẳng phải khen quá lời).

Tam Quốc Chí của Trần Thọ không những chỉ chép khái quát tình hình chính trị, kinh tế, quân sự thời Tam Quốc mà còn đề cập đến nhiều nhân vật xuất sắc trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, kỹ thuật..., đồng thời ghi chép về một số dân tộc thiểu số ở Trung Hoa và viết thêm về các nước láng giềng của Trung Quốc (như Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam...)

Tính trung thực của Trần Thọ khi viết bộ Tam Quốc Chí cũng có nhiều ý kiến phê bình khác nhau.

Theo Tấn Thư chép lại, thì Trần Thọ từng nói với Đinh Nghi, tự Chính Lễ, Đinh Hạo, tự Đinh Dị, có sách chép là Đinh Dự (con của Đinh Xung, bạn thân của Tào Tháo), cả hai người đều có tiếng tăm ở nước Ngụy, rằng: "Khả mịch thiên hộc mễ kiến dữ, đương vị tôn công tác giai truyện" (Dịch: Nếu tìm cho ta được nghìn hộc lương - khoảng 10 ngàn kgs gạo, ta sẽ vì tôn phụ mà viết truyện cho hay). Kết quả bị từ chối, Trần Thọ cũng không viết truyện về người cha của hai anh em họ Đinh nữa.

Câu chuyện cho rằng Trần Thọ ra điều kiện với anh em họ Đinh hoàn toàn bia đặt, sai sự thật, vì Đinh Nghi (), tự Chính Lễ, làm quan Ngụy Tào, mất năm 220, trong khi Trần Thọ sanh năm 233, nghĩa là Đinh Nghi chết trước khi Trần Thọ chào đời 13 năm. Còn Đinh Hạo, tuy trong sách sử không nói rõ ràng, nhưng ta có thể hiểu Hạo cũng thuộc tầng lớp trước Trần Thọ thì lấy ai để Trần Thọ đặt điều kiện như trên mô tả? Điều nầy có thể bởi những kẻ cùng thời với Trần Thọ vì ganh ghét nhân cách, đố kỵ tài năng mà ngậm nọc độc phun vào tên tuổi Trần Thọ? Thời nào, ở đâu mà chẳng có loại người vô liêm sỉ?

Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng, do cha của Trần Thọ bị Khổng Minh GIA Cát Lượng xử tội, nên trong quyển 35 Tam Quốc Chí phần viết về “GIA Cát Lượng Truyện”, Trần Thọ đánh giá Chư Cát Lượng là “danh quá kỳ thực” (Dịch: tiếng tăm vượt quá sự thật) là Thọ dùng việc công để báo thù riêng. (thực tế, Khổng Minh không phải họ GIA Cát mà là họ CHƯ Cát. Từ đây, đến kết thúc bài nầy, khi đề cập đến họ GIA Cát – tôi viết lại là CHƯ Cát – để chỉnh lại cho hoàn chỉnh và đúng với nguyên tác).

Để quý độc giả biết rõ vì sao từ họ GIA Cát, tôi (TQMưu) chỉnh thành họ CHƯ Cát, người viết xin mạo muộâi nói về nguồn gốc của họ “Chư Cát”. Có 2 thuyết:

(1). Trong cuốn "Phong Tục Thông Nghĩa" của Ứng Thiệu đời Đông Hán (25-220), phần “Dật văn” nói về các tên họ, như sau:

- Chư Cát thị: “Cát Anh vi Trần Thiệp tướng quân, hữu công phi tội nhi tru, Hiếu Văn đế truy lục phong kỳ tôn Chư huyện hầu, nhân tính thị yên.” Dịch: “Họ Chư Cát: Cát Anh là tướng của Trần Thiệp, có công, không có tội mà bị giết, Hiếu Văn đế truy tìm những ghi chép trong sách vở (về sự việc đó), rồi phong cháu nội của tướng Cát Anh cai trị huyện CHƯ, nhân đó ghép tên huyện với tộc họ chính với địa danh CHƯ thành ra họ CHƯ Cát.

(2). Trong phần chú thích tiểu sử (GIA) CHƯ Cát Cẩn (bào huynh CHƯ Cát Lượng), trong bộ Chính Sử “Tam Quốc Chí”. Sử gia Bùi Tùng Chi (372-451) ghi về nguồn gốc họ "CHƯ Cát" ở chú thích như sau:

- Ngô Thư viết: “Kỳ tiên Cát thị, bản Lang Nha CHƯ huyện nhân, hậu tỉ Dương Đô. Dương Đô tiên hữu tính CÁT giả, thời nhân vị chi Chư Cát, nhân dĩ vi thị. / Tam Quốc Chí. Qu. LII - Ngô Thư. Qu. VII.

Dịch: Ngô Thư nói: “Tiên tổ của (GIA) CHƯ Cát Cẩn vốn là người huyện CHƯ, quận Lang Nha, về sau dời đến (huyện) Dương Đô. Ở huyện Dương Đô, trước đó đã có họ CÁT, người thời đó gọi tiên tổ của GIA Cát Cẩn là “CHƯ Cát”, nhân đó lấy địa danh CHƯ làm họ chính.

Để rõ hơn, người viết xin giải thích một chút về câu “người thời đó gọi tiên tổ của CHƯ Cát Cẩn là “CHƯ Cát” - tức câu “Thời nhân vị chi CHƯ Cát”.

Trước đó ở lãnh thổ huyện Dương Đô đã có giòng họ CÁT, bây giờ tiên tổ của (GIA) Cát Cẩn cũng họ CÁT từ huyện CHƯ dọn tới, để phân biệt gốc gác của hai nhánh họ CÁT người huyện Dương Đô mới thêm tiếng CHƯ trước chữ CÁT của giòng họ (GIA) CÁT Cẩn là "CHƯ CÁT", ý nói rằng giòng họ CÁT này từ huyện CHƯ dọn tới, chứ không phải là giòng họ CÁT có gốc tại Dương Đô. Tóm lại, có đến 2 thuyết về họ CHƯ Cát của CHƯ Cát Lượng như tôi đã dẫn ở trên.

Tuyệt nhiên không có nói gì đến họ GIA. Vì sao từ họ CÁT của tướng CÁT ANH (Nội tổ của Khổng Minh) bỗng nhiên có chữ “GIA” đứng trước chữ CÁT để tạo thành họ GIA CÁT? Phải chăng do người dịch bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa đầu tiên do nhận mặt chữ sai lầm? Tôi (TQMưu) không lý giải được.

Thân phụ của Trần Thọ là Trần Thức (陳式) làm tướng của Hoàng Trung, sau chiến dịch Hán Trung và trận Hào Đình, Trần Thức được phong làm Đại Tướng Quân, phục vụ dưới trướng Lưu Bị. Trần Thức (Cha của Trần Thọ) làm Tham Quân cho Mã Tốc. Mã Tốc trái lệnh làm mất Nhai Đình bị Gia Cát Lượng xử chém.

Sau khi Đinh Xung mất, Tào Tháo nghe con của Xung là Đinh Nghi có tài, định gả con gái là Tào Thanh Hà (sau là công chúa Thanh Hà) cho Nghi. Nhưng Tào Phi vin cớ, mắt phải của Đinh Nghi bị dị tật, “tướng mạo bất giai” ngăn cản. Sau cùng, Tháo gả Thanh Hà cho Hạ Hầu Mậu.

Để giữ tình nghĩa với Định Xung, Tháo phong cho Đinh Nghi làm Tây Tào duyện.

Bởi hụt làm rể của Tào Tháo, Đinh Nghi cùng em là Đinh Dị quyến định kết thân với người con thứ ba của Tào Tháo là Tào Thực. Mỗi khi đối diện với Tào Tháo, anh em Đinh Nghi thường nói tốt Tào Thực trước mặt Tào Tháo. Đồng thời dâng ý kiến lên Tháo nên chọn Tào Thực làm thế tử. Còn Tào Phi lên làm Ngụy công. Do đó, khi Tào Tháo mất, Phi lên làm Ngụy Vương, nhớ lại chuyện nầy bèn xử trảm hai anh em Đinh Nghi cùng gia đình vợ con của anh em họ Đinh.

Phần Tào Thực, tự Tử Kiến, thụy là Trần Tư Vương, sanh năm 192 mất 27 tháng 12, 232. Thọ 40 tuổi. Tào Thực có tên trong Văn Học Kiến An là nền văn học bộc phát thời Hán Hiến Đế, nên dùng niên hiệu Kiến An của Hán Hiến Đế. Đặt tên cho nền văn học nầy. Hán Hiến Đế là vị vua cuối cùng của Hán trào.

Ban đầu nền Văn Học Kiến An có bảy văn, thi nhân nổi danh, được xưng tụng là Kiến An Thất Tử, gồm có:


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét