THƯ NHÀ VĂN NGUYỄN BÀNG
1/ Trong thư tôi có nói: Tiền thân của tỉnh Hưng Hóa là đạo thừa tuyên Hưng Hóa, rồi trấn Hưng Hóa. Nhưng không nói cụ thể Đạo thừa tuyên Hưng Hóa hồi thế kỷ 15 bao gồm đất đai thuộc các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La,Hòa Bình, Phú Thọ ngày nay, cùng một phần lãnh thổ Lào (thuộc các tỉnh Hủa Phăn, Xầm Nưa) và một phần tỉnh Vân Nam Trung Quốc hiện nay. Trải qua lịch sử, Hưng Hóa bị cắt ra thành nhiều địa danh, đến năm 1903 tỉnh Hưng Hóa mới (phần còn lại) được đổi tên thành tỉnh Phú Thọ, thành Hưng Hóa thuộc Phú Thọ.
2/ Câu ca dao:
Ai lên phố Cát, Đại Đồng/ Hỏi thăm cô Tú lấy chồng hay chưa…
Đã được Phạm Duy soạn lại thành:
Ai về chợ huyện Thanh Vân/ Hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa…
trong một bài hát cổ động phong trào Bình dân học vụ
Ai lên phố Cát cũng là nguồn cảm hứng cho nhà văn Lan Khai viết cuốn tiểu thuyết lịch sử cùng tên, xuất bản lần đầu 1937. Tôi đọc tác phẩm này hồi tái bản 1952 một cách say mê với cuộc tình của Vũ Mật và Lan Anh.
Thành Bàu hay còn gọi là thành Biều hoặc thành nhà Bầu, thành Nghị Lang là của Vũ Văn-Mật được xây-dựng để chống lại nhà Mạc trong thời Nam-Bắc-triều là giai-đoạn lịch-sử nội-chiến giữa nhà Mạc và nhà Lê trung-hưng của con cháu nhà Lê do họ Trịnh ủng-hộ từ năm 1527. Không chỉ có một thành Bàu mà là các thành Bàu dựng dọc theo thung-lũng Sông Chảy ở vùng đất tự trị Đại Đồng trấn Tuyên Quang và chúa Bầu Gia Quốc Công Vũ Văn Mật.
Vậy không thể nói thành Bàu là của nhà Mạc. Nhà Mạc có 2 thành ghi danh lịch sử, đó là thành nhà Mạc ở Kiến Thụy, Hải Phòng và thành nhà Mạc ở Tuyên Quang
3/ An Hải là vùng đất thuộc Hải Phòng, vì vậy năm 1826, Phan Bá Vành nổi dậy tại vùng châu thổ sông Hồng thuộc các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng và Nam Ðịnh ngày nay thì hiển nhiên là một vùng đất loạn lạc bất trị.
Theo lịch sử và cả những lời tương truyền:
Phan Bá Vành người Thái Bình, là thủ lĩnh của nông dân vùng Sơn Nam Hạ nổi dậy chống lại quan quân Bắc thành thời vua Minh Mạng.
Lúc đầu, cuộc nổi dậy là tập hợp những người nông dân cùng khổ và dân tộc Mường trong vùng bị bọn tham quan hà hiếp nên bùng phát rất mạnh. Nhưng cuộc nổi dậy mất đi ý nghĩa khi Phan Bá Vành kết hợp với phe Nguyễn Hạnh, Chiêu Liễn (các tướng cũ của Tây Sơn dù lúc này Hạnh đã gần 70 tuổi) phù Lê Duy Lương ở Đồ Sơn nên bị triều đình thẳng tay đàn áp.
Tháng 2 năm Bính Tuất (1826) cuộc nổi dậy bùng nổ ở vùng châu thổ sông Hồng khi Phan Bá Vành tập hợp được khá nhiều người tài giỏi và binh lực hùng hậu đánh bại mọi cánh quân của Bắc thành. Chiến công oanh liệt là ở Hải Dương, Bá Vành lập mưu đưa 200 chiến thuyền đến cảng Tiền Hải, rồi tung tin là thuyền bị mắc cạn. Tổng trấn Nam Định tin thật, điều động thủy quân tiến đánh. Thế là quân Nguyễn trúng phục kích chết hết và thuyền bè khí giới bị cướp sạch.
Tháng 12 cùng năm, Bá Vành lại tiếp tục thắng lớn ở cửa sông Văn Úc (Hải Phòng). Trận này quân Nguyễn do Phú vệ Hùng Cự và Đốc phủ Tiên Hưng chỉ huy dùng voi chiến đàn áp, quân Bá Vành chạy tán loạn thì xuất hiện một tráng sĩ (sách nhà Nguyễn chép là người cháu của Bá Vành tên Phan Khánh) dẫn một đám người tay cầm đại đao xông vào đánh nhau với voi, voi cuốn vòi chạy lui, biến thua thành thắng. Hùng Cự chết tại trận, Tiên Hưng bị bắt, cạo trọc đầu thả về để làm nhục triều đình.
Một năm trôi qua nhưng quan quân Bắc thành không dẹp được. Tháng Giêng năm Đinh Hợi (1827), vua Minh Mạng sai Binh tào Thị lang Nguyễn Công Trứ mang đạo quân Long Phi Hổ Dược từ Kinh đô ra Bắc dẹp loạn. Tháng 2, quân triều đình tiến đến Cổ Trai, Bá Vành rút về Trà Lũ bốn bề là ruộng bùn, xây đồn đắp lũy cố thủ. Ngoài ra, Bá Vành còn cho đào một con rạch thẳng ra biển để làm đường rút.
Ngày 26/02/1827, Bá Vành khao quân dạo hồ thăm dò quân tình. Nguyễn Công Trứ cho ca kỹ mở tiệc ca hát, Vành không nghi ngờ gì còn xem thường Công Trứ là phường hủ nho. Đột nhiên, Công Trứ ra lệnh tấn công. Quân Vành rối loạn bởi tính bất ngờ, Vành ra lệnh mở cửa rạch để rút ra biển nhưng không ngờ Công Trứ đã cho quân mang sẵn hơn 500 sọt đựng cát lấp rạch từ trước rồi. Quân triều đình vây đánh từ nhiều phía, quân Vành chết vô số. Riêng Bá Vành bị trúng đạn ở đùi, rồi bị bắt cùng với nhiều thuộc hạ của mình. Áp giải đến Bắc thành, Phan Bá Vành cắn lưỡi tự vẫn. Cuộc nổi loạn chấm dứt. Vậy là An Hải cùng các vùng đất trước đây được yên ổn từ đó.
Và theo đây, NCT dẹp Phan Bá Vành không phải là trên vùng An Hải và cũng không phải là 5 năm. Nhưng cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành từ 1821-1827 cũng dư 5 năm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét