TIẾC THƯƠNG TƯỚNG QUÂN NGUYỄN KHOA NAM
[TIẾP THEO ]
Vận nước nổi trôi đến bước cùng
Tướng Quân thà chết với non sông
Tang bồng xếp lại hoa dù đỏ
Khí tiết vang theo tiếng súng đồng
Núi Ngự xót thương cây rủ lá
Sông Hương tiếc nhớ nước khô dòng
Nghiêm mình kính cẩn trang trung liệt
Gương sáng muôn đời sóng Cửu Long..!!
Nguyễn Minh Thanh cẩn tác
3 - Đời người đo bằng Hành Động, không đo bằng thời gian:
a - Văn Thiên Tường ( 1236 - 1283 ), Tể Tướng đời Nam Tống, Trung Hoa, bị quân Nguyên bắt và đày ải cùng cực, thà bị giết, nhứt định không hàng kẻ thù, dù chúng dụ phong y chức Tể Tướng. Vì trải qua qúa nhiều gian khổ trong cơn quốc nạn, Ông có bài thơ "Quá Linh Đinh Dương" , mô tả tình cảnh non sông cũng như tình cảnh của riêng ông đang khi sơn hà bị xâm lăng. Trong bài, có 2 câu cuối, bất hủ, rất nhiều người biết qua bài "Chí Nam Nhi" của cụ Nguyễn Công Trứ :
" Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh "
Dưới đây là nguyên văn toàn bài:
QUÁ LINH ĐINH DƯƠNG
Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh
Can qua liêu lạc tứ châu tinh
Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ
Thân thế phù trầm vũ đả bình
Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng
Linh Đinh dương lý thán linh đinh
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
VĂN THIÊN TƯỜNG
QUA BIỂN LINH ĐINH
Cay đắng kinh qua lắm cảnh tình
Bốn năm xiêu lạc lụy đao binh
Tả tơi mành gió đau hồn nước
Tan tác bèo mưa xót phận mình
Thác Hoàng Khủng trập trùng khủng khiếp
Biển Linh Đinh lai láng linh đinh
Xưa nay ai sống mà không chết
Để tấm lòng son rạng sử xanh..!!
Nguyễn Minh Thanh cẩn dịch
b - Thủ Khoa Huân tức Nguyễn Hữu Huân ( 1830 - 1875 ), người Định Tường, sĩ phu yêu nước đã chiêu mộ nghĩa binh kháng Pháp. Binh bại, bị giặc bắt. Giặc dùng bả vinh hoa dụ hàng. Ông khẳng khái từ chối, bị giặc Pháp hành hình . Trước khi mất Ông bình thản và đã để lại Tuyệt Mệnh Thi:
TUYỆT MỆNH THI
Hãn mã gian quan vị quốc cừu
Chi nhân binh bại trí thân hưu
Anh hùng mạc bả doanh thu luận
Vũ trụ trường khang tiét nghĩa lưu
Vô bố dĩ kinh Hồ Lỗ phách
Bất hàng cam đoạn tướng quân đầu
Đương niên Tho thủy lưu ba huyết
Long đảo Thu phong mộ mộ sầu
T. K. HUÂN
THƠ TUYỆT MẠNG
Diệt thù vó ngựa buị mù tung
Chỉ tại thua binh mạng phải cùng
Hãy lắng nghĩa trung lưu vũ trụ
Chớ đem thành bại luận anh hùng
Nổi xung Hồ Lỗ* kinh hồn khắp
Liều thác thân tàn rạng tiếng chung
Sóng nước Mỹ Tho pha máu đỏ
Gió Thu chiều úa lộng... cồn Rồng..!!
Nguyễn Minh Thanh cẩn dịch
* Chỉ giặc Pháp
c - Ngư dân Nguyễn Trung Trực ( 1838 - 1868 ) người Long An, mộ quân đánh giặc Pháp với Lãnh Binh Trương Công Định, năm 1861 đốt tàu giặc L`espérance trên sông Nhựt Tảo. Năm 1868 Ông đánh úp đồn giặc ở Kiên Giang. Đạo Nghĩa Binh của Ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Nhưng sau vì binh yếu thế cô, khoảng cuối năm 1868, trong tình thế ngặt nghèo, giặc bắt mẹ của Ông, làm áp lực. Để cứu Mẹ và bảo toàn lực lượng, Ông tự nạp mình. Chúng dụ hàng phong quan. Nguyễn Trung Trực quyết liệt từ chối, và còn dõng dạc nói tạt vào mặt chúng :"Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam, mới hết người Nam đánh Tây" .Trước khi bị giặc chém đầu Ông đã để lại :
Tuyệt Mênh Thi:
Thư kiếm tòng nhung tự thiếu niên
Yêu gian đảm khi hữu Long Tuyền
Anh hùng nhược ngộ vô dung địa
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên
NGUYỄN TRUNG TRỰC
Thơ Tuyệt Mạng
Trai trẻ binh nhung đã học bàn
LongTuyền kiếm báu quyết trừ gian
Anh hùng mạt lộ cam đành thác
Thề chẳng chung trời với sói lang
Nguyễn Minh Thanh cẩn dịch
4 - Phần Kết:
Trở lại Tướng Quân Nguyễn Khoa Nam, một trong Ngũ Hổ Tướng* VNCH đã lẫm liệt tuẫn tiết, viết trang sử sáng ngời cho Quân Lực VNCH, cho Dân Tộc VN nói chung.
Với Việt Sử, Ông đã : " Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh".
Với vũ trụ , Ông đã : " Vũ trụ trường khang tiết nghĩa lưu ".
Với đối phương, Ông đã :" Anh hùng nhược ngộ vô dung địa
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên ".
Ôi,
Hỡi những anh hùng, hỡi những người lẫm liệt của thiên thu...
Những người đã để lại cho hậu thế niềm tiếc thương bao la biển cả.
Những: Võ Tánh, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản, Phạm Hồng Thái, Cô Giang, Cô Bắc, Ấu Triệu..., Nguỵ Văn Thà, Nguyễn Khoa Nam... đã:
Nước mất, mất theo nước
Tàu mất, mất theo Tàu
Thành mất, mất theo Thành
Ngạn ngữ Tây phương có câu:
"- Đời người đo bằng hành động, không đo bằng thời gian ".
Qúi anh hùng, liệt nữ... sống hành động vì nghĩa cả và đều kết thúc đời mình một cách hiên ngang trang trọng và lẫm liệt như thế đó !!
Ôi,
Nước mất Nhà tan... sau 36 năm, giờ lưu lạc nơi xứ người, hồi ức lại những chuyện đã ngàn trùng xa cách về thời gian lẫn không gian, mà sao thấy rõ mồn một như mới hôm qua.
Đọc bài của vị sĩ quan làm tuỳ viên cho Tướng Quân, Trung Úy Lê Ngọc Danh (sách NKN trang 417 ), viết lại: lúc Tướng Quân tới bệnh viện Phan Thanh Giản ( Cần Thơ ) chiều 30 - 4 - 1975, đi thăm thương binh từng người, từng người...mà ngùi ngùi, ngùi ngùi...( trích ):
" ........................Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư Lệnh đi qua giãy kế bên và tiếp tục hơn một giờ thăm viếng thương, bệnh binh... buồn tẻ và nặng nề. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xoá, máu còn rịn ra lốm đốm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:
-Vết thương của em đã lành chưa?
-Thưa Thiếu Tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu chưa lành.
Với nét mặt buồn buồn, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư Lệnh chưa kịp nói thêm thì anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư Lệnh mếu máo:
- Thiếu Tướng đừng bỏ tụi em nhé Thiếu Tướng.
- Qua không bỏ các enm đâu! Qua ở lại với các em.
Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay nâng cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương của ông.Tư Lệnh cố nén xúc động, nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
-Em cố gắng điều trị... có qua ở đây.
Tư Lệnh bước nhanh ra cửa bệnh viện, khi ra đến ngoài sân Tư Lệnh dừng lại quay mắt nhìn về bệnh viện. Tư Lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe, không nói gì nữa cả. ......."( hết trích )
Tới đoạn Tướng Quân với 2 tùy viên lên sân thượng vào sáng sớm 1 - 5 - 1975 ( sách NKN trang 428 ), rồi 3 Thầy, trò đứng tựa lan can cùng khóc. Người viết bài này càng bùi ngùi ... thêm, và không cằm dược nước mắt! ( trích ):
".......................... Tư Lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư Lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra đại lộ Hoà Bình trước cửa dinh, tôi đứng bên tay phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trên lộ, chỉ có vài chiếc xe qua lại, người thưa thớt, khung cảnh vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu Tướng bật khóc. Tư Lệnh cố nén không khóc thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt tuôn trào chảy dài trên khuôn mặt đau buồn vì nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy. Ba người đứng trên sân thượng trước mặt tiền dinh, mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy....................."( hết trích )
Hôm nay, ngồi viết tiểu truyện này, nhằm: trải tấm lòng trân trọng của tôi đối với thượng cấp kính yêu cao quí Tướng Quân Nguyễn Khoa Nam. Ôi người anh hùng : Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục ( thà chết quyết không chịu nhục). Người đã: Sanh vi Tướng tử vi Thần ( sống làm Tướng chết làm Thần ). Sách xưa nói:" Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch ". Nhưng, những anh hùng liệt nữ... đều chọn những vùng đất sạch và thơm lừng trong lịch sử để an giấc ngàn thu.
Danh ngôn có câu: " Người quân tử có một lần để chết, kẻ tiểu nhân có nhiều lần để chết ".
Quí anh hùng liệt nữ... đều chỉ có một lần để chết và đã kết thúc đời mình một cách hiên ngang trang trọng và lẫm liệt như thế đó !!
Hỡi những anh hùng, liệt nữ... chúng tôi xin nghiêm mình: chào kính cẩn tận tâm trung.
Để kết thúc bài biên soạn bi cảm trong niềm đau xót riêng, chung: cá nhân và dân tộc.
Nơi đây, xin mượn 2 câu thơ xưa: xót xa tưởng niệm Tướng Quân Nguyễn Khoa Nam:
" Giai nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu"
( Xưa nay mỹ nữ như danh tướng
Chẳng muốn cho ai thấy bạc đầu ! )
NGUYỄN MINH THANH kính bút
( Viễn xứ mùa Quốc Hận )
Phụ chú:
Tiểu Sử Nguyễn Khoa Nam (1927-1975), sanh tại Đà Nẵng, nguyên quán ở làng An Cựu Tây, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam.
Ông học Tiểu học tại trường Ècole des Garcons, Đà Nẵng.
Lên Trung học theo chương trình Pháp, nội trú ở trường Quốc học Huế (Lycėe Khải Định).
Năm 1946, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, thi vào trường Hành chánh ở Huế (hệ Cao đẳng). Năm 1951, ông tốt nghiệp và được bổ dụng làm công chức tại Sở Ngân sách Trung Việt, một năm sau giữ chức vụ Chủ sự phòng.
Cuối tháng 3 năm 1953, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Theo học khóa 3 Đống Đa tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 4 năm 1953. Ngày 1 tháng 12 cùng năm mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy.
Ra trường gia nhập đơn vị Nhảy dù, ông được cử làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 1 trong Tiểu đoàn 7 Nhảy
*Ngũ hổ tướng: Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai.
Hoàng Khủng: tên thác nước ở Giang Tây
Linh Đinh: tên biển ở cửa sông Châu, Quảng Đông
Nguồn:
Sách NGUYỄN KHOA NAM, Nguyễn Mạnh Trí tổng hợp
T N ĐT & D N T Đ, GS Trịnh Vân Thanh
HÁN - VIỆT TỪ ĐIỂN, Đào Duy Anh
Các trang Web: NGUYỄN KHOA NAM, VĂN THIÊN TƯỜNG, NGUYỄN HỮU HUÂN, NGUYỄN TRUNG TRỰC...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét