Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

* Nhân Vật Lưu Bị:
THÁI QUỐC MƯU




Lưu Bị (劉備), tự Huyền Đức (玄德), 161-223 người huyện Trác. Quận Trác thuộc U châu. Ông là dòng dõi của Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng (bị nghi vấn, các sử gia đang tra cứu lại). Lưu Bị còn được gọi Hán Chiêu Liệt Đế, là một vị thủ lĩnh quân phiệt, người lập nước Thục Hán thời Tam Quốc.

Lưu Bị được lưu truyền là dòng dõi xa của hoàng tộc nhà Hán. Nhưng thuyết nầy đang bị nhiều nghi vấn.


Ban đầu khi Lưu, Quan, Trương, khởi nghiệp, theo địa vị kinh tế, xã hội, Trương Phi là người giàu có nhất, có học nhất,... sống ở quận Trạch, có trang điền, là một chủ trang viên có tài sản và tiền của. Còn Lưu Bị chỉ là một kẻ “bán giày, đan chiếu”, mặc dù tự xưng là hậu duệ của hoàng thất (không loại trừ khả năng mạo nhận). Tuy sau đó Hán Hiến Đế Lưu Hiệp có một lần (chỉ moat lần) gọi ông ta bằng “Hoàng thúc”. Nhưng theo giới sử học ngày nay hai tiếng “Hoàng thúc”, nên hiểu đó chỉ thủ đoạn của nhu cầu chính trị mà thôi!
Nhiều sử gia Trung Quốc gần như đều đồng ý: “Lưu Bị chẳng qua chỉ là một người thuộc tầng lớp tiểu thủ công, vô sản. Có cùng họ Lưu với các vua Nhà Hán, nhưng là dị tộc (hệ phái khác).

Từ đó ta có thể suy luận, mối quan hệ giữa Chư Cát Lượng và ba anh em Lưu, Quan, Trương xuất thân từ những tầng lớp khác nhau, cho nên khó thể tránh khỏi những bất đồng. Và thái độ cư xử giữa phần tử trí thức với giới lao động không sao tránh được sự bất bình, khác biệt.

Giả thuyết Lưu Bị từng bái Lư Thực làm thầy, nên cho rằng trình độ văn hóa của ông hơn hẳn Quan Vũ và Trương Phi. Hơn Quan Vũ thì chắc chắn, còn bảo hơn Trương Phi thì cần xét lại. Lưu Bị vốn xuất thân nhà nghèo, thuở nhỏ Lưu Bị phải tự lao động kiếm sống suốt thời thời trẻ. Không được học hành chi cả.

Gặp lúc nhà Hán suy yếu và nổ ra chiến tranh giành quyền lực của các nhóm quân phiệt. Lưu Bị cùng hai người bạn kết nghĩa là Quan Vũ và Trương Phi dần dần tự gây dựng lực lượng và tham gia vào cuộc chiến này. Tuy nhiên, cuộc tranh hùng không thuận lợi cho Lưu Bị, ông nhiều lần thất bại và phải đi nương nhờ dưới trướng của các chư hầu đương thời như Lã Bố, Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Biểu.

Trong thời gian nương nhờ Lưu Biểu ở Kinh châu, Lưu Bị được Chư Cát Lượng theo phò tá và vạch ra Long Trung Đối Sách để tranh thiên hạ. Theo đường lối này, ông liên kết với quân phiệt Tôn Quyền ở Giang Đông cùng chống Tào Tháo ở phía Bắc, chiếm được một phần Kinh Châu và gần trọn Ích Châu làm đất dựng nghiệp.

Chiến lược Long Trung Đối Sách của Khổng Minh đối với Tôn Quyền sớm rạn nứt rồi đổ vỡ (chứng tỏ sách lược của Khổng Minh quá tầm thường). Tôn Quyền đánh chiếm Kinh Châu và giết Quan Vũ, khiến Lưu Bị cất quân đánh báo thù và định giành lại đất, sau khi chính thức xưng hoàng đế để kế tục nhà Hán vừa bị họ Tào đoạt ngôi (Lưu Bị xưng đến để KẾ TỤC NHÀ HÁN, xưng đế thì có, nhưng KẾ TỤC NHÀ HÁN còn là nghi vấn, vì lý lịch “dòng tôn thất” của Lưu Bị chưa hẳn là sự thật). Thất bại ở Di Lăng khiến Lưu Bị suy sụp, lâm bệnh rồi qua đời.
Trước khi trút hơi thở sau cùng Lưu Bị truyền sự nghiệp lại cho người con cả Lưu Thiện và giao cho thừa tướng Gia Cát Lượng phò tá.

Ở Trận Trường Bản diễn ra năm 208 giữa hai thế lực quân phiệt Lưu Bị và Tào Tháo. Sau khi Tào Tháo đã tiêu diệt xong các thế lực quân phiệt phương Bắc hoàn toàn làm chủ phương Bắc, nắm trong tay 8 trong số 13 châu lớn trên toàn quốc. Tám châu đã có là Tư Lệ, Duyện, Dự, Từ, Thanh, U, Tinh, Ký; 5 châu còn lại là Dương, Kinh, Giao, Ích, Lương.

Để tiếp tục mở rộng thế lực, tiêu diệt các thế lực cát cứ còn lại, Tào Tháo mở cuộc Nam chinh. Mục tiêu đầu tiên ở phương nam của Tào Tháo là Kinh Châu (荊州), vùng đất có ý nghĩa chiến lược, nằm giữa Ích Châu và Dương Châu. Diệt Kinh châu đồng nghĩa cùng lúc diệt cả 2 họ Lưu (Lưu Biểu và Lưu Bị), làm bàn tấn công Giang Đông – vùng đất hiểm trở của Tôn Quyền, lực lượng đáng kể nhất trong các quân phiệt còn lại.

Sau hai cuộc đụng độ năm 203 và 207, sang năm 208, Tôn Quyền phát động đánh quận Giang Hạ thuộc Kinh Châu lần thứ 3. Lần này quân Giang Đông thắng lớn, giết được thái thú Hoàng Tổ của Lưu Biểu. Lưu Biểu vội điều quân ra cứu, giữ được Giang Hạ (江夏) rồi cử con lớn Lưu Kỳ ra trấn thủ.

Chiến thắng của Tôn Quyền tuy chưa giúp thế lực họ Tôn tiến sang Kinh Châu nhưng khiến Tào Tháo thấy lo ngại và phải gấp rút hành động để nhanh tay giành lấy vùng đất chiến lược. Vì vậy, ngay trong năm 208, Tào Tháo quyết định xuất quân nam chinh. 
                          
Sau khi diệt họ Viên chiếm Ký châu, Tào Tháo lấy trung tâm Ký Châu là Nghiệp Thành làm căn cứ mới. Ông bãi bỏ chức Tam Công Nhà Hán, lập lại chức thừa tướng và Ngự Sử Đại Phu, rồi tự phong mình làm thừa tướng, nắm trọn đại quyền.

Về quân sự, ông sai Trương Liêu ra trấn thủ Trường Xã, Nhạc Tiến đóng quân ở Dương Địch để bảo vệ Hứa Xương. Tào Tháo còn vỗ về Hàn Toại và Mã Đằng, triệu Mã Đằng vào Nghiệp Thành, tiến cử lên Hán Hiến Đế phong làm Vệ úy, thực chất là giam lỏng để ngăn ngừa biến loạn từ phía tây. Sách lược đưa Mã Đằng vào triều làm Vệ Úy, chứng tỏ mưu lược Tào Tháo rất khôn ngoan.

Tháng 7 năm 208, Tào Tháo khởi 20 vạn quân từ Nghiệp Thành tấn công xuống phía Nam. Trước khi đi, ông viết thư về Hứa Xương hỏi kế Tuân Úc. Tuân Úc khuyên ông áp dụng chiến thuật “tiến nhanh, đánh nhanh, thắng nhanh”, ra quân từ Uyển Thành, cùng lúc cho quân khinh kỵ xuất phát từ huyện Nhiếp, đánh bất ngờ.

Quân thám báo Tào Tháo phát hiện hai mục tiêu trọng yếu của Kinh Châu là thủ phủ Tương Dương nơi Lưu Biểu đang ở và Giang Lăng là nơi chứa vũ khí lương thảo, vì vậy đã nghe theo kế của Tuân Úc, áp dụng chiến thuật này.

Tháng 8 năm 208, Lưu Biểu qua đời giữa lúc quân Tào đang áp sát Kinh Châu. Thấy quân Tào lại gần, Lưu Bị vẫn chưa biết Lưu Biểu đã chết, vội bỏ Tân Dã rút về Phàn Thành (樊城) lệnh cho toàn quân chuẩn bị chiến đấu và sai sứ cấp báo về Tương Dương cho Lưu Biểu, nhưng đợi mãi vẫn không thấy phản hồi từ Tương Dương (襄阳).

Con út Lưu Biểu là Lưu Tông được lập lên kế vị làm Châu Mục Kinh Châu. Theo lời khuyên của Sái Mạo, Khoái Việt và Phó Huấn, Lưu Tông quyết định đầu hàng Tào Tháo, nhưng không dám báo ý định này cho Lưu Bị biết. Tào Tháo tiếp nhận thư hàng của Lưu Tông, liền thúc quân tiến vào Uyển Thành thuộc quận Nam Dương. Lúc đó Lưu Tông mới sai Tống Trung sang Phàn Thành báo cho Lưu Bị biết.

Tam Quốc Diễn Nghĩa kể rằng Lưu Tông sai Tống Trung đi dâng thư hàng lên Tào Tháo, nửa đường Tống Trung bị Quan Vũ bắt được.

Nghe Lưu Tông khuyên mình phải cùng hàng Tào Tháo, Lưu Bị kinh ngạc và tức giận, quát đuổi Tống Trung. Lưu Bị tự biết không thể lấy lực lượng nhỏ ở Phàn Thành để chống đại quân Tào. Lưu Bị cùng Gia Cát Lượng, Từ Thứ dẫn các tướng sĩ bỏ chạy về phía Nam. Quân Lưu Bị chia làm 2 đường:

1. Cánh quân thủy 1 vạn người do Quan Vũ chỉ huy, rút về Giang Hạ để hợp binh với Lưu Kỳ, cũng có 1 vạn quân, đang trấn thủ tại đây.

2. Cánh quân bộ do Lưu Bị đi cùng Chư Cát Lượng, Từ Thứ, Triệu Vân, Trương Phi và đại bộ phận các tướng văn võ, qua Tương Hà định đi tới chỗ hiểm yếu Giang Lăng là nơi chứa lương thực và vũ khí của Kinh Châu. Hơn 10 vạn dân Kinh Châu không muốn hàng Tào Tháo cũng đi theo đoàn quân bộ của Lưu Bị. (Các sử gia lý giải điều này vì 2 nguyên nhân: một vì Lưu Bị có tiếng là người nhân nghĩa bác ái ở Kinh Châu, hai vì trong quá khứ Tào Tháo từng tàn sát dân Từ Châu và 8 vạn hàng binh Viên Thiệu trong trận Quan Độ.)

Lúc đó quân tiên phong của Tào Tháo đã tiến vào Tân Dã. Nhiều nhân sĩ, thủ hạ cũ của Lưu Biểu không muốn theo Lưu Tông hàng Tào Tháo, liền bỏ Tương Dương mang gia quyến cùng hàng vạn dân Kinh Châu ở khu vực Tương Dương cũng sợ bị Tào Tháo tàn sát nên bỏ Lưu Tông theo Lưu Bị, vì vậy số người đi theo ông về phía Nam lên tới hơn chục vạn, với hàng ngàn cỗ xe.

Nghe theo kế của Tuân Úc, Tào Tháo mang quân khinh kỵ, bỏ hết trang bị nặng, tiến thẳng tới thủ phủ Tương Dương để tiếp nhận Lưu Tông đầu hàng, nhằm nhanh chóng thâu tóm Kinh Châu.

Trung tuần tháng 9, Tào Tháo tiến đến Tương Dương, lại nghe tin Lưu Bị đã đi Giang Lăng (江陵), sợ họ Lưu sẽ tranh mất nơi chứa lương thảo và vũ khí, nên ông vội lấy 5 ngàn quân tinh nhuệ, sai em họ là Tào Thuần cùng hàng tướng Văn Sính chỉ huy cùng đi, cấp tốc đuổi theo, mỗi ngày đêm đi được 300 dặm.

Lưu Bị dẫn đám đông quân lẫn với dân, chạy loạn rất lộn xộn, không thành hàng ngũ, lại không thể đi nhanh dù biết Tào Tháo đang truy kích. Mỗi ngày đoàn quân của ông chỉ đi được hơn 10 dặm. Phía trước còn 300 dặm đường mới tới Giang Lăng, tức là phải mất 1 tháng nữa. Lưu Bị lo lắng phải bố trí lại lực lượng, sai Trương Phi mang 2 ngàn quân mã chặn hậu, Triệu Vân dẫn vài trăm quân hộ vệ gia quyến; còn Lưu Bị cùng Chư Cát Lượng và Từ Thứ dẫn quân chủ lực bảo vệ dân tị nạn. (Theo các học giả ngày nay phân tách, trong Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, La Quán Trung viết đoạn nầy với mục đích ca ngợi lòng dạ nhân từ của Lưu Bị mà thôi, thực tế, chẳng ai dùng quân chủ lực để bảo vệ quần chúng).


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét