* Nhân Vật Lưu Bị:
THÁI QUỐC MƯU
Lưu Bị (劉備), tự Huyền Đức (玄德), 161-223 người huyện Trác. Quận Trác thuộc U châu.
Ông là dòng dõi của Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng (bị nghi vấn, các sử gia
đang tra cứu lại). Lưu Bị còn được gọi Hán Chiêu Liệt Đế, là một vị thủ lĩnh
quân phiệt, người lập nước Thục Hán thời Tam Quốc.
Lưu Bị được lưu truyền là
dòng dõi xa của hoàng tộc nhà Hán. Nhưng thuyết nầy đang bị nhiều nghi vấn.
Ban đầu khi Lưu, Quan,
Trương, khởi nghiệp, theo địa vị kinh tế, xã hội, Trương Phi là người giàu có
nhất, có học nhất,... sống ở quận Trạch, có trang điền, là một chủ trang viên
có tài sản và tiền của. Còn Lưu Bị chỉ là một kẻ “bán giày, đan chiếu”, mặc dù
tự xưng là hậu duệ của hoàng thất (không loại trừ khả năng mạo nhận). Tuy sau
đó Hán Hiến Đế Lưu Hiệp có một lần (chỉ moat lần) gọi ông ta bằng “Hoàng thúc”.
Nhưng theo giới sử học ngày nay hai tiếng “Hoàng thúc”, nên hiểu đó chỉ thủ
đoạn của nhu cầu chính trị mà thôi!
Nhiều sử gia Trung Quốc gần
như đều đồng ý: “Lưu Bị chẳng qua chỉ là một người thuộc tầng lớp tiểu thủ
công, vô sản. Có cùng họ Lưu với các vua Nhà Hán, nhưng là dị tộc (hệ phái
khác).
Từ đó ta có thể suy luận, mối
quan hệ giữa Chư Cát Lượng và ba anh em Lưu, Quan, Trương xuất thân từ những
tầng lớp khác nhau, cho nên khó thể tránh khỏi những bất đồng. Và thái độ cư xử
giữa phần tử trí thức với giới lao động không sao tránh được sự bất bình, khác
biệt.
Giả thuyết Lưu Bị từng bái Lư
Thực làm thầy, nên cho rằng trình độ văn hóa của ông hơn hẳn Quan Vũ và Trương
Phi. Hơn Quan Vũ thì chắc chắn, còn bảo hơn Trương Phi thì cần xét lại. Lưu Bị
vốn xuất thân nhà nghèo, thuở nhỏ Lưu Bị phải tự lao động kiếm sống suốt thời
thời trẻ. Không được học hành chi cả.
Gặp lúc nhà Hán suy yếu và nổ
ra chiến tranh giành quyền lực của các nhóm quân phiệt. Lưu Bị cùng hai người
bạn kết nghĩa là Quan Vũ và Trương Phi dần dần tự gây dựng lực lượng và tham
gia vào cuộc chiến này. Tuy nhiên, cuộc tranh hùng không thuận lợi cho Lưu Bị,
ông nhiều lần thất bại và phải đi nương nhờ dưới trướng của các chư hầu đương
thời như Lã Bố, Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Biểu.
Trong thời gian nương nhờ Lưu
Biểu ở Kinh châu, Lưu Bị được Chư Cát Lượng theo phò tá và vạch ra Long Trung
Đối Sách để tranh thiên hạ. Theo đường lối này, ông liên kết với quân phiệt Tôn
Quyền ở Giang Đông cùng chống Tào Tháo ở phía Bắc, chiếm được một phần Kinh
Châu và gần trọn Ích Châu làm đất dựng nghiệp.
Chiến lược Long Trung Đối
Sách của Khổng Minh đối với Tôn Quyền sớm rạn nứt rồi đổ vỡ (chứng tỏ sách lược
của Khổng Minh quá tầm thường). Tôn Quyền đánh chiếm Kinh Châu và giết Quan Vũ,
khiến Lưu Bị cất quân đánh báo thù và định giành lại đất, sau khi chính thức
xưng hoàng đế để kế tục nhà Hán vừa bị họ Tào đoạt ngôi (Lưu Bị xưng đến để KẾ
TỤC NHÀ HÁN, xưng đế thì có, nhưng KẾ TỤC NHÀ HÁN còn là nghi vấn, vì lý lịch
“dòng tôn thất” của Lưu Bị chưa hẳn là sự thật). Thất bại ở Di Lăng khiến Lưu
Bị suy sụp, lâm bệnh rồi qua đời.
Trước khi trút hơi thở sau
cùng Lưu Bị truyền sự nghiệp lại cho người con cả Lưu Thiện và giao cho thừa
tướng Gia Cát Lượng phò tá.
Ở Trận Trường Bản diễn ra năm
208 giữa hai thế lực quân phiệt Lưu Bị và Tào Tháo. Sau khi Tào Tháo đã tiêu
diệt xong các thế lực quân phiệt phương Bắc hoàn toàn làm chủ phương Bắc, nắm
trong tay 8 trong số 13 châu lớn trên toàn quốc. Tám châu đã có là Tư Lệ,
Duyện, Dự, Từ, Thanh, U, Tinh, Ký; 5 châu còn lại là Dương, Kinh, Giao, Ích,
Lương.
Để tiếp tục mở rộng thế lực,
tiêu diệt các thế lực cát cứ còn lại, Tào Tháo mở cuộc Nam chinh. Mục tiêu đầu
tiên ở phương nam của Tào Tháo là Kinh Châu (荊州), vùng đất có ý nghĩa chiến lược, nằm giữa Ích Châu
và Dương Châu. Diệt Kinh châu đồng nghĩa cùng lúc diệt cả 2 họ Lưu (Lưu Biểu và
Lưu Bị), làm bàn tấn công Giang Đông – vùng đất hiểm trở của Tôn Quyền, lực
lượng đáng kể nhất trong các quân phiệt còn lại.
Sau hai cuộc đụng độ năm 203
và 207, sang năm 208, Tôn Quyền phát động đánh quận Giang Hạ thuộc Kinh Châu
lần thứ 3. Lần này quân Giang Đông thắng lớn, giết được thái thú Hoàng Tổ của
Lưu Biểu. Lưu Biểu vội điều quân ra cứu, giữ được Giang Hạ (江夏) rồi cử con lớn Lưu Kỳ ra trấn thủ.
Chiến thắng của Tôn Quyền tuy
chưa giúp thế lực họ Tôn tiến sang Kinh Châu nhưng khiến Tào Tháo thấy lo ngại
và phải gấp rút hành động để nhanh tay giành lấy vùng đất chiến lược. Vì vậy,
ngay trong năm 208, Tào Tháo quyết định xuất quân nam chinh.
Sau khi diệt họ Viên chiếm Ký
châu, Tào Tháo lấy trung tâm Ký Châu là Nghiệp Thành làm căn cứ mới. Ông bãi bỏ
chức Tam Công Nhà Hán, lập lại chức thừa tướng và Ngự Sử Đại Phu, rồi tự phong
mình làm thừa tướng, nắm trọn đại quyền.
Về quân sự, ông sai Trương
Liêu ra trấn thủ Trường Xã, Nhạc Tiến đóng quân ở Dương Địch để bảo vệ Hứa
Xương. Tào Tháo còn vỗ về Hàn Toại và Mã Đằng, triệu Mã Đằng vào Nghiệp Thành,
tiến cử lên Hán Hiến Đế phong làm Vệ úy, thực chất là giam lỏng để ngăn ngừa
biến loạn từ phía tây. Sách lược đưa Mã Đằng vào triều làm Vệ Úy, chứng tỏ mưu
lược Tào Tháo rất khôn ngoan.
Tháng 7 năm 208, Tào Tháo
khởi 20 vạn quân từ Nghiệp Thành tấn công xuống phía Nam. Trước khi đi, ông
viết thư về Hứa Xương hỏi kế Tuân Úc. Tuân Úc khuyên ông áp dụng chiến thuật
“tiến nhanh, đánh nhanh, thắng nhanh”, ra quân từ Uyển Thành, cùng lúc cho quân
khinh kỵ xuất phát từ huyện Nhiếp, đánh bất ngờ.
Quân thám báo Tào Tháo phát
hiện hai mục tiêu trọng yếu của Kinh Châu là thủ phủ Tương Dương nơi Lưu Biểu
đang ở và Giang Lăng là nơi chứa vũ khí lương thảo, vì vậy đã nghe theo kế của
Tuân Úc, áp dụng chiến thuật này.
Tháng 8 năm 208, Lưu Biểu qua
đời giữa lúc quân Tào đang áp sát Kinh Châu. Thấy quân Tào lại gần, Lưu Bị vẫn
chưa biết Lưu Biểu đã chết, vội bỏ Tân Dã rút về Phàn Thành (樊城) lệnh cho toàn quân chuẩn bị chiến đấu và sai sứ cấp
báo về Tương Dương cho Lưu Biểu, nhưng đợi mãi vẫn không thấy phản hồi từ Tương
Dương (襄阳).
Con út Lưu Biểu là Lưu Tông
được lập lên kế vị làm Châu Mục Kinh Châu. Theo lời khuyên của Sái Mạo, Khoái
Việt và Phó Huấn, Lưu Tông quyết định đầu hàng Tào Tháo, nhưng không dám báo ý
định này cho Lưu Bị biết. Tào Tháo tiếp nhận thư hàng của Lưu Tông, liền thúc quân
tiến vào Uyển Thành thuộc quận Nam Dương. Lúc đó Lưu Tông mới sai Tống Trung
sang Phàn Thành báo cho Lưu Bị biết.
Tam Quốc Diễn Nghĩa kể rằng
Lưu Tông sai Tống Trung đi dâng thư hàng lên Tào Tháo, nửa đường Tống Trung bị
Quan Vũ bắt được.
Nghe Lưu Tông khuyên mình
phải cùng hàng Tào Tháo, Lưu Bị kinh ngạc và tức giận, quát đuổi Tống Trung.
Lưu Bị tự biết không thể lấy lực lượng nhỏ ở Phàn Thành để chống đại quân Tào.
Lưu Bị cùng Gia Cát Lượng, Từ Thứ dẫn các tướng sĩ bỏ chạy về phía Nam. Quân
Lưu Bị chia làm 2 đường:
1. Cánh quân thủy 1 vạn người
do Quan Vũ chỉ huy, rút về Giang Hạ để hợp binh với Lưu Kỳ, cũng có 1 vạn quân,
đang trấn thủ tại đây.
2. Cánh quân bộ do Lưu Bị đi
cùng Chư Cát Lượng, Từ Thứ, Triệu Vân, Trương Phi và đại bộ phận các tướng văn
võ, qua Tương Hà định đi tới chỗ hiểm yếu Giang Lăng là nơi chứa lương thực và
vũ khí của Kinh Châu. Hơn 10 vạn dân Kinh Châu không muốn hàng Tào Tháo cũng đi
theo đoàn quân bộ của Lưu Bị. (Các sử gia lý giải điều này vì 2 nguyên nhân:
một vì Lưu Bị có tiếng là người nhân nghĩa bác ái ở Kinh Châu, hai vì trong quá
khứ Tào Tháo từng tàn sát dân Từ Châu và 8 vạn hàng binh Viên Thiệu trong trận
Quan Độ.)
Lúc đó quân tiên phong của
Tào Tháo đã tiến vào Tân Dã. Nhiều nhân sĩ, thủ hạ cũ của Lưu Biểu không muốn
theo Lưu Tông hàng Tào Tháo, liền bỏ Tương Dương mang gia quyến cùng hàng vạn
dân Kinh Châu ở khu vực Tương Dương cũng sợ bị Tào Tháo tàn sát nên bỏ Lưu Tông
theo Lưu Bị, vì vậy số người đi theo ông về phía Nam lên tới hơn chục vạn, với
hàng ngàn cỗ xe.
Nghe theo kế của Tuân Úc, Tào
Tháo mang quân khinh kỵ, bỏ hết trang bị nặng, tiến thẳng tới thủ phủ Tương
Dương để tiếp nhận Lưu Tông đầu hàng, nhằm nhanh chóng thâu tóm Kinh Châu.
Trung tuần tháng 9, Tào Tháo
tiến đến Tương Dương, lại nghe tin Lưu Bị đã đi Giang Lăng (江陵), sợ họ Lưu sẽ tranh mất nơi chứa lương thảo và vũ
khí, nên ông vội lấy 5 ngàn quân tinh nhuệ, sai em họ là Tào Thuần cùng hàng
tướng Văn Sính chỉ huy cùng đi, cấp tốc đuổi theo, mỗi ngày đêm đi được 300
dặm.
Lưu Bị dẫn đám đông quân lẫn
với dân, chạy loạn rất lộn xộn, không thành hàng ngũ, lại không thể đi nhanh dù
biết Tào Tháo đang truy kích. Mỗi ngày đoàn quân của ông chỉ đi được hơn 10
dặm. Phía trước còn 300 dặm đường mới tới Giang Lăng, tức là phải mất 1 tháng
nữa. Lưu Bị lo lắng phải bố trí lại lực lượng, sai Trương Phi mang 2 ngàn quân
mã chặn hậu, Triệu Vân dẫn vài trăm quân hộ vệ gia quyến; còn Lưu Bị cùng Chư
Cát Lượng và Từ Thứ dẫn quân chủ lực bảo vệ dân tị nạn. (Theo các học giả ngày
nay phân tách, trong Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, La Quán Trung viết đoạn nầy với
mục đích ca ngợi lòng dạ nhân từ của Lưu Bị mà thôi, thực tế, chẳng ai dùng
quân chủ lực để bảo vệ quần chúng).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét