* Trận Trường Bản:
THÁI QUỐC MƯU
Tào Tháo cùng Tào Thuần thúc
quân khinh kỵ ngày đêm đuổi riết. Khi Lưu Bị đi tới Trường Bản thì quân Tào
đuổi tới nơi, đụng độ với hậu đội của Lưu Bị do Trương Phi chỉ huy. Quân Tào
mạnh mẽ đánh tan hậu đội của Trương Phi rồi tấn công vào quân chủ lực của Lưu
Bị.
Quân Lưu Bị tuy đông hơn quân
Tào, nhưng không thể tổ chức thành đội ngũ chỉnh tề để nghênh chiến, bị Tào
Tháo tấn công dữ dội, Lưu Bị thua to, thất bại nặng nề... bèn cùng Chư Cát
Lượng, Từ Thứ, Trương Phi và mấy chục khinh kỵ bỏ chạy thoát thân, bỏ lại toàn
bộ quân trang nặng, gia quyến và dân chúng.
Quân, dân Lưu Bị thua chạy
tan tác mỗi người một nơi. Lưu Bị lạc mất Triệu Vân, nhiều người nói Triệu Vân
đã bỏ sang hàng Tào, Lưu Bị một mực tin tưởng Triệu Vân trung thành với mình.
Ông sai Trương Phi mang 20 kỵ binh đi chặn hậu, ngăn cản quân Tào. Trương Phi
đợi Lưu Bị cùng những người chạy kịp sang sông rồi đứng ở đầu cầu Trường Bản
ngăn chặn quân Tào.
Trong lúc đó Triệu Vân cầm
cánh quân hộ tống gia quyến Lưu Bị cũng bị quân Tào đánh tan, bèn lệnh cho
những người còn lại rút về Nam theo Lưu Bị, còn một mình tự xông pha trận địa
để tìm gia quyến Lưu Bị.
Em họ Tào Tháo là Tào Thuần
thống lĩnh quân Hổ báo truy kích Lưu Bị ở Trường Bản, bắt được gia quyến Lưu
Bị, trong đó có 2 phu nhân. Các sử gia xác định trong đó có Cam phu nhân và My
phu nhân, nhưng ngay sau đó, trong lộ trình quân Tào áp giải hai phu nhân Lưu
Bị chưa về tới trại Tào thì Triệu Vân đột kích phá vòng vây đánh tới nơi. Hai
phu nhân Lưu Bị và A Đẩu được Triệu Vân giải cứu, đưa thoát ra ngoài, trở về
với Lưu Bị. Lưu Bị vô cùng cảm kích.
Trong khi hỗn loạn, người vợ
Lưu Bị bảo vệ A Đẩu đi cùng không phải là Cam phu nhân mẹ đẻ A Đẩu, mà là My
phu nhân người vợ thứ của Lưu Bị. My phu nhân sau khi trao A Đẩu cho Triệu Vân
rồi tự sát để khỏi vướng chân Triệu Vân. Khi trở về, Lưu Bị đã vứt A Đẩu xuống
đất mắng: “Vì mày suýt nữa ta mất một đại tướng!”
Hành vi Lưu Bị ném A Đẩu
xuống đất và lời nói “Vì mầy suýt nữa ta mất một đại tướng!” chỉ là thủ đoạn
chánh trị, xuất phát từ những kẻ giả nhân nghĩa để lấy lòng người. Hơn nữa, ném
một trẻ thơ xuống đất, liệu nó có thể sống được hay không?
Trận đụng độ ở Đương Dương –
Trường Bản, Tào Tháo đã dùng đúng chiến thuật mà Tuân Úc vạch ra trước lúc lên
đường. Tuy có đại quân nhưng Tào Tháo chỉ đưa vào trận đánh một số ít lực lượng
tinh nhuệ nhất trong tay, có trang bị nhẹ và thiện chiến. Ngược lại, Lưu Bị tuy
có đông quân hơn nhưng trong tư thế của người rút chạy và vướng dân chúng,
không thể hành quân gấp gáp và không thể tổ chức tác chiến theo cách thông
thường, nên bị đánh tơi bời, thua tan tác.
Khoảng từ đầu tháng 6 đến
cuối tháng 6 năm 223, bệnh tình của Lưu Bị càng nguy kịch. Ông bèn viết chiếu
cho thái tử Lưu Thiện ở Thành Đô, có đưa trước cho Gia Cát Lượng và Lý Nghiêm
xem, với nội dung như sau:
“... Trẫm mắc bệnh nan y, xem
tình hình bệnh không khỏi. Người ta 50 tuổi đã không gọi là chết yểu, nay ta đã
hơn 60, chẳng có gì ân hận, bởi thế chẳng lo lắng cho mình, chỉ nghĩ đến tương
lai của anh em các ngươi.
Nghe thừa tướng Chư Cát Lượng
nói, ngươi có khí chất lớn, tiến bộ rất nhanh, vượt quá mong mỏi của ông cha,
nếu như thực sự như thế ta còn phải lo gì, hy vọng ngươi cũng phải nỗ lực, chớ
làm một điều ác nhỏ, cũng chớ không làm một điều thiện nhỏ.
Tất cả phải lấy cầu hiền, cầu
đức làm trọng, khiến cho thần dân có thể đối với người tâm phục hoàn toàn. Phụ
thân của ngươi vốn kẻ bạc đức, không nên học theo. Hy vọng rằng ngươi chăm đọc
nhiều sách, đặc biệt là Hán Thư và Lễ Ký nhất định phải đọc kỹ, lúc thư thả cần
nghiên cứu thêm Lục Thao và Thương Quân Thư, có thể rèn luyện thêm về trí tuệ
và chí khí.
Nghe nói thừa tướng Chư Cát
Lượng có chỉnh lý các thiên Thân Bất Hại, Hàn Phi Tử, Quản Tử, Lục Thao, rất
nên thỉnh giáo ông ta nhiều”.
Sau đó ông lại dặn dò Gia Cát
Lượng, gửi gắm thái tử còn ít tuổi cho thừa tướng nhờ giúp đỡ. Ông nói với Chư
Cát Lượng:
“... Tài thừa tướng gấp mười Tào Phi, tất yên
định được nhà nước, làm nên việc lớn. Đối với con trẫm, nếu có thể giúp được
thì giúp, nếu nó bất tài, hãy tự thay đi!”
Lời của Lưu Bị nói với Khổng
Minh trên đây, cho ta thấy ông ta là một “Chúa điếm”. Gởi gắm con cho người, mà
lại nói: “Đối với con trẫm, nếu có thể giúp được thì giúp, nếu nó bất tài, hãy
tự thay đi!”.
Hãy tự thay đi, có nghĩa là
“Hãy giết nó rồi soán ngôi.” Điều nầy đã đặt và buộc Khổng Minh phải có lời thề
trung thành với ấu chúa. Cho nên, Chư Cát Lượng khóc và một mực từ chối, thề sẽ
trung thành tận tâm với Lưu Thiện đến cùng.
Lưu Bị gọi Lỗ Vương Lưu Vĩnh
đến dặn dò các anh em:
“Sau khi ta qua đời, anh em
các ngươi phải coi thừa tướng như cha, ngươi phải cố sức cộng sự với ông ta.”
Lưu Bị đã cột chặt Khổng Minh vào lời được cho là “lời dặn con nầy!”
Ông gọi Lý Nghiêm đến, dặn
giúp Chư Cát Lượng phò ấu chúa. Cùng ngày, Lưu Bị gọi các cận thần lại, tuyên
bố việc gửi ấu chúa Lưu Thiện cho Chư Cát Lượng và Lý Nghiêm làm phó cùng phụ
chính.
Qua lời Lưu Bị công bố trên
đây, cho ta thấy Lưu Bị xứng đáng với danh hiệu “Chúa điếm”, chẳng khác gì ông
ta trói Khổng Minh bỏ vào rọ. Khổng Minh không thể nào phản hay bỏ Lưu Thiện
được. Cho dù Lưu Thiện là kẻ bất tài.
Giữa tháng 6 (sử ghi ngày 24
tháng 4 âm lịch) năm 223, Lưu Bị qua đời tại cung Vĩnh An, thọ 63 tuổi.
Khổng Minh Chư Cát Lượng được
cho là kẻ giàu mưu trí, nhưng qua lời trối trăn, gởi gắm, dặn con, ta mới thấy
Khổng Minh còn thua xa Lưu Bị.
Trong sử sách và trong “Tam
Quốc Diễn Nghĩa” có thể thống kê được ít nhất 4 lần Lưu Bị có hành động không
xứng đáng với một đại anh hùng, vứt bỏ vợ con, chạy lấy thân mình.
– Lần thứ nhất: Năm Kiến An
thứ nhất, khi đó Lưu Bị vừa tiếp nhận ấn soái Từ Châu. “Viên Thuật tới tấn công
tiên chu (Lưu Bị), tiên chủ chống lại ở Hu Di, Hoài Âm,…” Lưu Bị đành để Trương
Phi ở lại phòng thủ Hạ Phì còn bản thân mình thì đem quân chống lại Viên Thuật.
Kết quả Tào Tháo cấu kết với Lã Bố tấn công Hạ Phì, “Bố bắt vợ con Lưu Bị làm
tù binh”.
Lưu Bị không còn cách nào,
chỉ còn cách đồng ý giảng hòa cùng Lã Bố, “Bố mới thả vợ con (Lưu Bị) về”.
– Lần thứ 2: Năm Kiến An thứ
ba, do cuộc tấn công của Lã Bố ở Từ Châu, Lưu Bị chỉ còn biết đóng quân ở đất
Tiểu Bái. Trong thời gian nầy Lưu Bị ý muốn muốn tập hợp lực lượng lài, rồi tìm
Lã Bố trả thù. Không ngờ rằng lần tái chiến này lại tiếp tục gặp phải thất bại
đành chạy đến chỗ Tào Tháo. Tào Tháo đối đãi ông ta cũng chẳng bạc, phong ông
ta làm Dự Châu mục.
Nhưng Lưu Bị không cam tâm,
chuẩn bị tới huyện Bái để thu thập tàn quân, những mong rửa mối nhục cũ. Tào
Tháo cũng ủng hộ, cấp cho Lưu Bị quân lương, phái quân đội theo ông ta tìm Lã
Bố phục thù. Kết quả là Lưu Hoàng thúc không chịu thua kém ai lại bị bại dưới
tay bộ tướng của Lã Bố là Cao Thuận. Cao Thuận lại bắt được vợ con Lưu Bị đưa
về cho Lã Bố.
Cuối cùng chính Tào Tháo phải
thân chinh đánh Lã Bố. Bộ Chánh sử “Tam Quốc Chí” chép: “Tào công tự mình thân
chinh, giúp tiên chủ vây Lã Bố ở Hạ Phì, bắt sống được Bố”. Chỉ tới lúc này,
Lưu Bị mới có thể đem vợ con về.
– Lần thứ 3: Năm Kiến An thứ
5, Lưu Bị không cam tâm dưới trướng Tào Tháo, mượn cớ Viên Thuật mâu thuẫn với
Tào Tháo mà đánh chiếm Hạ Phì vốn đã thuộc về Tào Tháo. Lưu Bị vong ân, bội nghĩa
với Táo Tháo.
Tào Tháo không thể tha thứ
bèn đem quân đánh Lưu Bị. Lần này lại thêm một lần mất mặt. Chưa giao chiến,
chỉ mới thấy cờ quân Tào, binh Lưu Bị đã hoảng sợ không còn con đường lựa chọn
nào khác “bỏ dân mà chạy”. Kết quả là Tào Tháo lại “bắt được thê tử của Lưu Bị,
đồng thời bắt sống cả Quan Vũ”.
– Lần cuối cùng và cũng là
thứ 4: Vào năm Kiến An thứ 13, trong chiến dịch Trường Bản, Lưu Bị bỏ vợ con ở
lại, rối cùng Chư Cát Lượng, Trương Phi, Triệu Vân,… khoảng hơn mười người ngựa
bỏ chạy. Cam phu nhân và A Đẩu may mắn được Triệu Vân bảo vệ mới thoát khỏi
kiếp nạn.
Như vậy, Lưu Bị bốn lần ly
tán cùng gia đình, trong đó, Lã Bố bắt hai lần, Tào
Tháo bắt hai lần.
***
Khi Trần Thức kéo tàn quân
về, Khổng Minh xét thấy Trần Thức trái quân lệnh, truyền chém đầu thị chúng.
Tuy nhiên, có sách mô tả Trần Thức chỉ bị Chư Cát Lượng xử tội khôn hình để răn
đe (khôn hình là cạo sạch một bên đầu, hay cạo trọc đầu, mục đích để làm nhục!)
Chính sự kiện nầy khiến cho con của Khổng Minh là Chư Cát Chiêm mỗi khi gặp
Trần Thọ mới khinh khỉnh lộ vẻ coi thường...
Về cái chết của Trần Thức,
người viết mạo nghĩ, có thể ông bị xử tử chính xác hơn, vì Khổng Minh thà giết
Trần Thức chứ chẳng dại gì làm nhục để gây thù chuốt oán về sau.
Việc Khổng Minh chỉ biết giết
tướng nhà khi bại trận, cho ta thấy Khổng Minh chỉ biết dùng bá đạo để trị
quân.
Một chứng minh khác cho thấy,
Trần Thức bị Khổng Minh giết chết đúng hơn dùng khôn hình để trị tội ông, là
khi Thục Hán sắp mất về tay Nhà Tấn, Trần Thọ vì thù cha (qua việc Khổng Minh
giết cha ông), nên Trần Thọ không hề luyến tiếc trào Thục Hán. Trong khi, ngay
khi đó, Quan Tư Không Nhà Tấn là Trương Hoa mới gặp Trần Thọ đã ái mộ tài năng
nên liền giới thiệu Trần Thọ cho vua Tấn, và vua Tấn liền cho Thọ làm quan Nhà
Tấn.
Ngoài ra, khi viết về Khổng
Minh Chư Cát Lượng, ở quyển thứ 35, Trần Thọ hạ bút viết về Khổng Minh, “Danh
quá kỳ thực.” (tiếng tăm vượt quá tài năng). Nhận xét của Trần Thọ về Chư Cát
Lượng rất chính xác. Có điều, Trần Thọ đã là nhân vật được mọi người cho là bậc
chính nhân quân tử, mà xử sự trong việc phê phán Khổng Minh như vậy, chắc chắn
dễ gây ngộ nhận, rằng, chỉ vì hận thù cá nhân với Khổng Minh mà Trần Thọ mới
xét đoán như thế.
Ngoài bộ chánh sử Tam Quốc
Chí, Trần Thọ còn soạn bộ Cổ Quốc Chí gồm 50 thiên và Ích Đô Kỳ Cựu Truyện gồm
10 thiên.
Đánh giá tác phẩm Tam Quốc
Chí, Phòng Huyền Linh (房玄齡)
tên tục Kiều, tự là Huyền Linh; 579–648, người Sơn Đông, khi còn nhỏ cần cù,
thông minh, thạo kinh sách năm 15 tuổi (594) đỗ Tiến sĩ, nhận chức Vũ Kỵ Úy và
sau đó được thăng chức Thị Lang bộ Lại. Tể tướng và Tể phụ vua Đường Thái Tông.
Ông còn được gọi là Lương Văn Chiêu Công. Ông là người chủ biên bộ Tấn Thư –
một trong 24 bộ chính sử Trung Hoa, đã khen Trần Thọ: “Người đương thời khen
Thọ là giỏi kể chuyện và có tài viết sử.”
***
* Chư Cát Chiêm:
Năm 234, sau khi Khổng Minh
chết ở Ngũ Trượng, Hậu Chúa Lưu Thiện (con Lưu Bị) hoàng đế thứ hai cũng là sau
cùng của Nhà Thục Hán, nhớ ơn và công lao Chư Cát Lượng bèn phong cho Chư Cát
Chiêm làm Vũ Lâm Trung Lang Tướng, rồi Thanh Xạ Hiệu Uý, Thị Trung, Thượng Thư
Bộc Bạ, gia thêm chức Quân Sư Tướng Quân, tước Vũ Hương Hầu. Và, gã công chúa
cho Chư Cát Chiêm.
Chư Cát Chiêm (諸葛瞻), 217–263, tự Tử Viễn, người quận Lang Gia, Thanh
Châu (nay thuộc huyện Nghi Nam, Sơn Đông, Trung Quốc), là con trai trưởng và
cũng là con trai thứ của Khổng Minh với Hoàng Tố, tự Hoàng Nguyệt Anh. Bởi,
trước khi Hoàng Nguyệt Anh sinh Chiêm, Khổng Minh đã đem con của Chư Cát Cẩn là
Chư Cát Kiều, về làm con nuôi. Sau khi Chư Cát Kiều mất, con là Chư Cát Phần
trở về Đông Ngô.
Hoàng Tố, tự Hoàng Nguyệt
Anh, 188-255, là một trong năm người phụ nữ tài danh thời Hàn, nhưng, xấu nhất
trong lịch sử Trung Hoa (y thị nằm trong Ngũ Xú Trung Hoa). Bà là con gái của
danh sĩ Hoàng Thừa Ngạn. Truyền thuyết dân gian cho rằng Hoàng Nguyệt Anh có
tài thao lược, thường cùng Khổng Minh bàn thảo mưu cơ, chiến lược. Chính vì
vậy, nhiều sĩ phu thời đó, cho rằng những mưu cơ chiến lược của Khổng Minh có
sự đóng góp không nhỏ của Hoàng Nguyệt Anh.
Tương truyền, Chư Cát Chiêm
thông minh từ nhỏ, lúc trưởng thành giỏi thư họa, do đó, trở nên kiêu kỳ, cao
ngạo ngất trời. “Nhưng, một lòng trung quân ái quốc (?).”
Ở trận Miên Trúc, Chư Cát
Chiêm bị tướng Đặng Ngãi truy đuổi, bị quân Ngụy bắn trọng thương, nhào xuống
đất rồi than: “Sức ta đã cạn rồi, xin đem cái chết này để báo ơn nước.” nói
xong rút gươm tự tử.
Một người bị trọng thong,
thì, không thể nào còn sức lực để tự dùng gươm đâm mạnh vào ngực mình đến chết.
Có thể, giới quần thần Thục Hán do ái mộ Khổng Minh Chư Cát Lượng – nên tạo cho
dòng họ Chư Cát – cụ thể là Chư Cát Chiêm, một cái chết giàu lòng dũng cảm và
giàu tinh thần ái quốc!
Trong tập Di Động Tạp Ký của
Tôn Thịnh chép rằng: “Chư Cát Chiêm và Đổng Quyết thấy Khương Duy chinh chiến
nhiều khiến quốc lực suy kiệt, triệu về làm Thứ sử Ích Châu, bổ Dương Vũ ra
thay. Về sau Thường Cừ mới kể lại rằng: “Trần Thọ từng làm thư lại (thư ký) cho
Chiêm, bị Chiêm làm nhục, cho nên nhân việc đó đổ tiếng ác cho Hoàng Hạo, mà
nói rằng Chiêm không chỉnh đốn được triều chính.”
Câu chuyện trên, cho ta biết
Thường Từ là bọn vô danh tiểu tốt, chỉ nói càng, nói bừa, vô căn cứ, hoặc có
thể y cùng phe cánh với hoạn quan Hoàng Hạo nên tố khổ người lương chính như
Trần Thọ. Chúng ta hãy nghe Chư Cát Thượng, trước khi chết than: “Cha con ta
chịu trọng ân của quốc gia, chẳng sớm chém Hoàng Hạo, để sau cùng phải nghiêng
ngửa bại vong, còn sống để làm gì!” Lời than tự trách của Chư Cát Thượng, đủ đế
chứng minh Hoàng Hạo là kẻ gian trá, lộng hành.
* Hoạn quan Hoàng Hạo:
Hoàng Hạo (?-?) là một hoạn
quan phục vụ Lưu Thiện, khoảng những năm 220. Theo bộ chánh sử Tam Quốc Chí của
Trần Thọ, “Hoàng Hạo được Lưu Thiện ưa thích do có tài xu nịnh, nhân đó muốn
tham dự triều chính. Đổng Doãn thường nghiêm sắc mặt khuyên can Lưu Thiện không
nên trọng dụng Hoàng Hạo, đồng thời quở trách Hạo, khiến Hạo sợ hãi, không dám
làm trái. Khi Đổng Doãn còn sống, chức vụ của Hoàng Hạo chỉ là Hoàng Môn Lệnh (黃門令).”
Sau Hoàng Hạo làm Phụng Xa Đô
Úy, nắm hết quyền hành, làm nghiêng đổ triều đình Thục Hán. Đại tướng quân
Khương Duy nhiều lần đem quân đánh Ngụy không thành công, Hữu đại tướng quân là
Diêm Vũ âm mưu cùng Hoàng Hạo muốn cách chức Khương Duy để Diêm Vũ thay chân
vào đó.
Khương Duy ghét Hoàng Hạo
chuyên quyền, bẩm với Lưu Thiện, ý muốn giết đi. Lưu Thiện nói: “Hạo chỉ là đứa
tiểu thần để sai khiến, trước đây Đổng Doãn cứ nghiến răng căm tức, ta vẫn hận
việc ấy. Ngươi cần gì phải để ý.” Lời của Lưu Thiện đúng là lời lẽ của một tên
hôn quân, mê muội! Lời của Lưu Thiện một lần nữa cho ta chấy Thường Cừ nói, “Trần
Thọ từng làm thư lại cho Chiêm, bị Chiêm làm nhục..., cho nên đổ tiếng ác cho
Hoàng Hạo,...” chỉ xuất phát từ bè lũ
những kẻ ngu ngốc, giàu lòng
đố kỵ, ganh tỵ.
Năm 263, Tư Mã Chiêu sai hai
tướng Ngụy là Chung Hội và Đặng Ngải mang quân đánh Thục. Khương Duy dâng biểu
cấp báo với Lưu Thiện yêu cầu quân Thục phòng bị, Hoàng Hạo bèn mời đồng cốt
đến, nói rằng quân Ngụy sẽ không tới, bảo Lưu Thiện cứ gối cao đầu mà ngủ, quần
thần không hề hay biết gì. Đến khi quân Ngụy tiến sát, Lưu Thiện phải mời cha con
Chư Cát Chiêm, Chư Cát Thượng ra chống cự ở Miên Trúc nhưng thất bại.
Trong Tam Quốc Chí Diễn
Nghĩa, La Quán Trung viết: “Khi Hoàng Hạo theo Lưu Thiện đến Lạc Dương, Hoàng
Hạo liền bị Tư Mã Chiêu bắt xử tội lăng trì.”
Hai cái chết của Chư Cát
Thượng và Hoàng Hạ, cho ta thấy, cái chết của Chư Cát Thượng tiếng thơm để lại
đời đời. Còn cái chết của Hoàng Hạ thì đời sau sẽ thốt lên hai tiếng “Đáng
đời!”
Làm người hãy sống sao cho
“người ra NGƯỜI” khác với những kẻ mang danh NGƯỜI nhưng chẳng phải người là
vậy!
Ngoài ra, sau khi Đặng Ngải
chiếm được Thành Đô, Lưu Thiện đầu hàng, Đặng Ngải nghe tiếng Hoàng Hạo gian
hiểm, bắt muốn giết đi, Hoàng Hạo hối lộ nhiều cho bộ hạ của Đặng Ngải nên
thoát chết.
Cuộc đời của Hoàng Hạo cho ta
thấy, ở đời hễ ai có cách sống lương thiện, thật thà, đãi người bằng trái tim
chân chính,… thì dù là kẻ thù của quốc gia kẻ ấy cũng tôn trọng họ. Còn kẻ nào
giả nhân, giả nghĩa, đạo đức mồm, thuộc loại “Chúa điếm”, “Ngụy Quân Tử”... cho
dù cố tạo dáng bên ngoài để che đậy sự dã tâm, lòng nham hiểm trước sau gì
người đời cũng biết, cũng tránh xa, thậm chí kẻ thù của đất nước kẻ ấy cũng
chẳng dung tha nó.
***
* Hán Hoài Đế Lưu Thiện:
Lưu Thiện (刘禅), 207-271, tự A Đẩu (阿斗), tước An Lạc Tư Công (安樂思公), tự là Công Tự (公嗣), thụy là Hán Hoài Đế (懷帝), là con của Lưu Bị với Cam phu nhân, là hoàng đế thứ
hai và cũng là cuối cùng của Nhà Thục Hán.
Lưu Thiện cho lập Trương thị
trẻ tuổi, hiền hậu. Trương thị là con gái của Trương Phi, người em kết nghĩa
cùng Lưu Bị làm hoàng hậu và sai Thượng Thư Lang Đặng Chi sang giảng hòa với
nước Ngô sau mấy năm chiến tranh. Từ đó hai nước lập lại hòa hảo.
Năm 292, Đặng Ngải đưa quân
phá tan quân Thục ở Hầu Hòa, quân Thục bị tổn thất nghiêm trọng. Sau đó, Khương
Duy dùng chiến thuật “Dương Đông Kích Tây”, đánh bại Đặng Ngải, chiếm được 9
trại Kỳ Sơn, đồng thời chuẩn bị quân mã tấn công Trường An.
Thấy tình thế bất lợi, Đặng
Ngải sai người đem châu báu mua chuộc Hoàng Hạo, Hạo khuyên Lưu Thiện triệu Duy
về. Hoàng Hạo khoe tài muốn ra thay Khương Duy nên Lưu Thiện sai sứ hai ba lần
đến thúc giục Khương Duy lui binh. Khương Duy đành phải lui về. Hoàng Hạo sau
đó lại xin Lưu Thiện rút lại lệnh xuất quân. Khi Khương Duy về triều thì không
được Lưu Thiện cho gặp.
Khương Duy thấy Hoàng Hạo
chuyên quyền, xin Lưu Thiện giết đi. Lưu Thiện nói: “Hạo chỉ là đứa tiểu thần
để sai khiến, trước đây Đổng Doãn cứ nghiến răng căm tức, ta vẫn hận việc ấy.
Ngươi cần gì phải để ý”. Rồi sai Hoàng Hạo đến tạ tội Khương Duy, Nhưng, Khương
Duy sợ Hoàng Hạo sau nầy sẽ trả thù, để tránh hậu hoạn Khương Duy xin Lưu Thiện
đến Đạp Trung lập đồn điền để dưỡng già. Cuộc Bắc chinh chấm dứt.
Năm 263, Tướng nước Ngụy là
Tư Mã Chiêu muốn đánh Thục Hán, bèn sai Đặng Ngải cùng Chung Hội dẫn đại quân
đánh Thục. Khương Duy đang ở Đạp Trung được tin, bèn viết biểu về triều, đề
nghị Lưu Thiện điều động Trương Dực, Liêu Hóa bảo vệ Dương An và Âm Bình. Nhưng
Lưu Thiện tin theo Hoàng Hạo, không nghe theo Khương Duy, nên không phòng thủ.
Khi quân Đặng Ngải sắp đến Đạp Trung, Chung Hội sắp vào Lạc Cốc, Thục Hán mới
truyền cho Trương Dực, Đổng Quyết sai Dương An lập trại ngăn chận.
Tháng 10 năm 263, Đặng Ngải
cho tiến quân theo đường núi Âm Bình, vượt qua Cảnh Cốc, đánh nhau với tướng
Thục là Chư Cát Chiêm (con trai của Chư Cát Lượng) và con của Chư Cát Chiêm là
Chư Cát Thượng ở Miên Trúc. Ngải đem quân đi lẻn về phía Âm Bình Sơn, một vùng
núi non hiểm trở, nơi mà quân Thục không phòng bị.
Quân Ngụy vượt qua khỏi 800
dặm đường núi hoang vắng, xuống đồng bằng phá thành Miên Trúc. Đặng Trung và Tư
Mã Sư Toản đưa hai cánh quân tả hữu ra giao chiến với Chư Cát Chiêm, gặp bất
lợi định quay về. Đặng Ngải không chịu và phái trở lại tham chiến. Lần này quân
Ngụy giết chết cha con Gia Cát Chiêm vào thẳng Thành Đô.
Một dặm Tàu cũ có 444.00 mét
x 800 dặm = 355.52 km. / Về sau, 1 dặm Tàu có 500 mét x 800 dặm = 400 km. / Còn
1 dặm Anh có 1.609.3 mét x 800 dặm = 1.287.44 km. Người viết không biết La Quán
Trung viết chiều dài của dặm nào và thời gian hành quân bao lâu mới vượt qua
800 dặm đường dài?
Tại Thành Đô, Lưu Thiện nghe
theo lời của Tiều Chu và Đặng Lương, muốn ra hàng quân Ngụy. Bắc Địa Vương Lưu
Kham cầu xin tiếp tục giao chiến nhưng Lưu Thiện không chịu. Lưu Kham tuyệt
vọng, giết cả gia quyến rồi tự sát.
Lưu Thiện, Trương Thiệu, Tiều
Chu và Đặng Lương mang thư đến doanh trại Đặng Ngải xin hàng. Nước Thục diệt
vong.
Đặng Ngải bái Lưu Thiện làm
Phiêu Kỵ Tướng Quân và cho đưa ông về Lạc Dương. Ông viết thư khuyên Khương Duy
đầu hàng. Khương Duy trá hàng và dụ Chung Hội tạo phản để chống lại Tư Mã
Chiêu, nhưng không thành rồi bị giết.
Lưu Thiện được đưa về Lạc
Dương, kinh đô Nhà Ngụy. Triều đình Nhà Ngụy phong cho ông làm An Lạc Huyện
Công. Tuy vậy, Tư Mã Chiêu vẫn đề phòng Lưu Thiện.
Theo Hán Tấn Xuân Thu, một
hôm Tư Mã Chiêu mời Lưu Thiện cùng các
quan viên cũ của Thục, đến phủ mình dự tiệc. Trong buổi tiệc, Tư Mã Chiêu cho
cung nữ múa các điệu múa ở nước Thục, nhiều quan lại trước kia của nước Thục
cảm động khóc. Nhân đó, Tư Mã Chiêu hỏi Lưu Thiện, “Có còn nhớ đất Thục không?”
Lưu Thiện đáp: “Ở đây rất vui! Tôi không còn nhớ gì đến đất Thục nữa.”
Khước Chính ngồi nghe thấy
lời của Lưu Thiện thì không hài lòng và khuyên Lưu Thiện, nếu Tư Mã Chiêu còn
hỏi thì nên nói rằng: “Mồ mả tổ tiên vẫn còn ở Lũng Thục, chẳng ngày nào mà
không nhớ!”
Lát sau Tư Mã Chiêu lại hỏi,
Lưu Thiện đáp y như vậy. Chiêu bèn bảo: “Sao giống lời Khước Chính thế.” Tư Mã
Chiêu đúng là người xét việc như thần.
Lưu Thiện thất kinh, thú
thật! Mọi người xung quanh đều chê cười tên vua sớm mất nguồn cội nầy! Năm 271
đời Thái Thủy Nhà Tấn, Lưu Thiện mất.
Lưu Thiện chết để lại hai
người vợ và 8 người con. Hai bà vợ của Thiện là: Vương Quý Nhân và bà vợ thứ
hai là Lý Chiêu Nghi. Đặc biệt, bà Lý Chiêu Nghi, tự sát khi nước Thục Hán đầu
hàng Nhà Tấn. Thời nào cũng có những vị nữ anh thư tiết liệt. Cái chết của bà
Lý Chiêu nghi đáng quý làm sao!
Đến sau thế kỷ thứ III, Nhà
Tấn rối loạn bởi Tám vị vương vốn là tôn thất Nhà Tấn tranh quyền, gây bạo loạn
(gọi là Loạn Vĩnh Gia), gồm: Sở Vương Tư Mã Vĩ (con thứ 5 của Tấn Vũ Đế) / Nhữ
Nam Vương Tư Mã Lượng (con thứ 4 của Tư Mã Ý, vào hàng chú của Tấn Vũ Đế, ông
của Tấn Huệ Đế) / Triệu Vương Tư Mã Luân (con thứ 9 của Tư Mã Ý, em của Tư Mã
Lượng) là người tham vọng nhất, từng phế Huệ Đế Tư Mã Trung để làm vua, nhưng
bị các vương khác xúm lại đánh, buộc phải tự vẫn năm 301 / Tề Vương Tư Mã Quýnh
(con của Tư Mã Du – em của Tấn Vũ Đế. Du từng được Tư Mã Chiêu cho Tư Mã Sư làm
con nuôi) / Thường Sơn Vương Tư Mã Nghệ (sau là Trường Sa Vương – cháu thứ 6
của Tấn Vũ Đế) / Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh (con thứ 16 của Tấn Vũ Đế) / Hà Gian
Vương Tư Mã Ngung (cháu của Tư Mã Phu – em của Tư Mã Ý) / Đông Hải Vương Tư Mã
Việt (cháu của Tư Mã Ý).
Vì “Loạn Vĩnh Gia”. Dòng Thục
Hán bị dứt điểm. Tuyệt tự!
* Khước Chính:
Khước Chính (郤正), có tài liệu chép là Khích Chính (hay Chánh) tự Lệnh
Tiên, tục danh là Toản, người Yển Sư, Hà Nam, mất Cha sớm, mẹ tái giá, phải
sống tự lập, nghèo mà hiếu học, đọc đủ các sách. Lớn lên được vào triều làm thư
lại (như thơ ký ngày nay), rồi Lệnh Sử, thăng chức Lang, rồi làm Lệnh. Khích
Chánh không tham danh lợi, phú quý, thích văn chương, tìm tất cả sách nổi tiếng
mua đọc, dù vất vả thế nào cũng cố tìm cho được. Có lần đến tận Ích Châu để tìm
sách mua.
Khước Chính làm việc ở triều
Thục Hán 30 năm, biết Hoàng Hạo từ khi ông ta còn là tên hoạn quan tầm thường.
Đến khi Hạo lộng quyền, Hạo không ưa thích Khước Chính mà cũng không ghét.
Năm Cảnh Diệu thứ 6 (263),
Khích Chính nhận lệnh Lưu Thiện viết thư xin hàng Ngụy. Năm sau, Hậu Chúa Lưu
Thiện theo Tư Mã Chiêu về Lạc Dương, chỉ có Khích Chính và Điện Trung Đốc
Trương Thông, người Nhữ Nam, bỏ vợ con ở lại đất Thục, đi theo hầu vua cũ (Lưu
Thiện) đến Lạc Dương. Hậu thế đều ngợi khen Khích Chính và Trương Thông về lòng
trung thành.
Trên đường sang Ngụy, Lưu
Thiện được Khước Chính chỉ dẫn nhiều điều hay, nên than thở: “Phải chi ta sớm
biết nghe lời ông thì đâu có bị như ngày hôm nay.” người đương thời nghe được
khen ngợi Khước Chính vô cùng.
Ở Lạc Dương, Khích Chính được
ban tước Quan Nội Hầu, rồi An Dương Lệnh. Năm Thái Thủy thứ 8 (273) có chiếu thư
rằng: “Khước Chính xưa ở Thành Đô, giữa buổi nhiễu nhương mà vẫn giữ nghĩa,
không mất trung tiết, đến khi được dùng, tận tâm làm việc, có thành tích trị
lý, nên ban cho (Khước) Chính làm Ba Tây Thái Thú.”
Năm Hàm Ninh thứ 4 (278),
Khước Chính mất, để lại đời sau nhiều trước tác đến vài trăm thiên văn chương.
***
* Tư Mã Chiêu:
Tư Mã Chiêu (司馬昭), 211-265, tự Tử Thượng (子上), em của Tư Mã Sư, (司馬師), 208-255, Chiêu là con thứ hai của Tư Mã Ý, (司马懿) 179-7/9/251. Tư Mã Ý là con của Kinh Triệu Doãn Tư
Mã Phòng, trào Đông Hán. Tư Mã Chiêu là tướng Nhà Ngụy thấy triều đình Thục Hán
suy sụp, không bỏ lỡ thời cơ, năm 263, Chiêu dẫn 3 đạo tinh binh, thế như chẻ
tre, tiến vào Hán Trung, thẳng vô Thành Đô giật sập Nhà Thục Hán. Nhà Thục Hán
cáo chung.
Tào Phi (曹丕): 187 đến 29 tháng 6 năm 226, tự Tử Hoàn (子桓), sinh ở huyện Tiêu, nước Bái thuộc Dự Châu, ông là
con thứ hai của Tào Tháo và là anh của Nhà thơ Tào Thực. Mẹ người họ Biện.
Tào Thực (曹植), 192-232, tự Tử Kiến (子建), là con thứ 3 của Tào Tháo. Ông cùng nơi sanh với
anh trưởng là Tào Phi. Tào Thực một trong 7 nhà thơ nổi bật trong giới văn nhân
bộc phát thời Kiến An, Kiến An là niên hiệu của Hán Hiến Đế (汉献帝),
Hán Hiến Đế (汉献帝), tục danh Lưu Hiệp, tự Bá Hòa (伯和), (181 đến ngày 21/4/234, trị vì trên 11 năm từ 189 đến
25/11/220, niên hiệu Kiến An, là vị Hoàng đế thứ 14 của Nhà Đông Hán cũng là
hoàng đế cuối cùng của Hán triều. Ông ở ngôi vào thời Hán mạt, đất nước hỗn
loạn, quan chức tranh nhau tham ô của công, bốc lột dân lành, mua quan bán
chức, tranh quyền đoạt lợi, trộm cướp dẫy đầy, trăm họ đói nghèo, dân tình vô
vàn thống khổ, thán oán.
Văn Học Kiến An có 7 người
nổi danh nhất, được người đương thời tặng danh hiệu “Kiến An Thất Tử”, gồm:
Khổng Dung, Nguyên Vũ, Trần Lâm, Từ Cán, Lưu Trinh, Vương Sán và Ứng Dương
(theo Dịch Quân Tả thì là Ứng Sướng). Nếu tính luôn “Tam Tào” gồm: Tào Tháo,
Tào Phi, Tào Thực. Và đặc biệt là nữ sĩ Thái Diễm.
(Xin mời quý độc giả xem tiếp
bài 4)
Bài 4
***************************************
Thái Diễm (蔡琰), còn gọi là Sái Diễm, tự Chiêu Cơ (昭姬). Kết hợp chung thành: “Kiến An Thập Nhất Tài Danh”
Người đời gọi Văn Học Kiến
An, vì nền văn học nầy bộc phát trong thời Hán Hiến Đế nên dùng niên hiệu Kiến
An của ông làm cái mốc thời gian với văn học Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán) và
nền văn học thời Lục Triều.
Lục triều (六朝), 220 hoặc 222–589 là một danh từ dùng để chỉ 6 triều
đại đặt kinh đô tại Kiến Nghiệp/Kiến Khang (nay là Nam Kinh) gần Trường Giang,
gồm các nước: Đông Ngô (222–280) / Đông Tấn (317-420) / Lưu Tống (420–479) / Nam
Tề (479–502) / Lương (502–557) / Trần (557–589).
Còn 6 triều đại có quan hệ kế
thừa, đã sử dụng niên hiệu của các triều đại trên trong Biên Niên Ký Sự chính
thống, giai đoạn nầy là Lục triều, hoặc Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều, gồm các nước:
Tào Ngụy (220–265) / Tấn (265–420) / Lưu Tống (420–479) / Nam Tề (479–502) /
Lương (502–557) / Trần (557–589).
Năm 204, Tào Phi đánh bại
Viên Thiệu ở Nghiệp Thành, Phi gặp Chân phu nhân (dâu Viên Thiệu) Tào Phi ham
mê sắc đẹp của Chân thị bèn ép Chân thị lấy mình – dù chồng bà là Viên Hy vẫn
còn sống. Sau khi tiếm ngôi Nhà Hán, Tào Phi xưng là Tào Ngụy Văn Đế (曹魏文帝), Chân thị được Ngụy Văn Đế Tào Phi phong làm Chân
Phu Nhân, năm 205 Chân Phu Nhân hạ sinh Tào Duệ.
Ngụy Minh Đế (曹魏明帝) tức Tào Duệ (曹叡, 205-239); tự Nguyên Trọng (元仲), trị vì từ năm 226 đến 239. Tào Duệ là vị vua thứ 2
của Tào Ngụy, có thực quyền.
Ngụy Minh Đế Tào Duệ không có
con, xin con của Nhậm Thành vương Tào Giai (曹楷) là Tào Phương
– là hoàng thân quốc thích Nhà Tào Ngụy làm con nuôi rồi lập thành Thái Tử.
Tào Phương (曹芳), 232–274, tự Lan Khanh (蘭卿), ở ngôi 239-254, mới 7 tuổi đã làm hoàng đế thứ 3
của Tào Ngụy. Do lên ngôi lúc còn nhỏ, quyền chính về tay Tư Mã Ý. Năm 251, Tư
Mã Ý chết, quyền bính Nhà Tào Ngụy lọt vào tay hai người con của Tư Mã Ý là Tư
Mã Sư và Tư Mã Chiêu.
Năm 253, Tào Phương có ý muốn
dẹp quyền lực dòng Tư Mã, bị Tư Mã Sư đoán được bèn truất phế và lập Tào Mao
lên ngôi hoàng đế.
Tào Mao (曹髦) tự Ngạn Sĩ (彥士),
15/11/241- 2/6/260, tước Cao Quý Hương Công (高貴鄉公), con trai của Đông Hải Định Vương Tào Lâm và là cháu
nội Ngụy Văn Đế Tào Phi. Lên ngôi lúc 14 tuổi. Năm 260, Tào Mao muốn trừ khử
Chiêu, bị Chiêu giết và lập Tào Hoán lên thay, tức Ngụy Nguyên Đế Tào Hoán
(246–302).
Tào Hoán Ngụy Nguyên Đế, sanh
năm 246, tên thật Tào Hoàng (曹璜), là con trai của Yên Vương Tào Vũ (曹宇) là vị vua cuối cùng của Nhà Tào Ngụy.
Năm 263, Tư Mã Chiêu điều
binh diệt nước Thục Hán xong, được vua Ngụy phong tước Tấn Vương. Năm 265, Tư
Mã Chiêu đau nặng, bèn lập con cả là Tư Mã Viêm lên thay.
Tư Mã Viêm làm Tấn Vương,
không bao lâu bèn buộc Hoàng đế Tào Hoán tức Tào Ngụy Nguyên Đế thoái vị vào
ngày Nhâm Tuất tháng 12 năm Ất Dậu (tức 4 tháng 2 năm 266). Tư Mã Viêm soán
ngôi Tào Ngụy, lên ngôi Hoàng đế vào ngày Bính Dần cùng tháng (tức 8 tháng 2),
xưng là Tấn Vũ Đế. Nhà Tào Ngụy mất về dòng họ Tư Mã. Vương triều Tây Tấn ra
đời. Thời Tam Quốc cáo chung.
Quan Tư Không Nhà Tấn là
Trương Hoa yêu mến tài năng của Trần Thọ, tiến cử Thọ làm Hiếu Liêm, bổ nhiệm
làm Dương Bình Lệnh.
Bản thân được ổn định, Trần
Thọ tiếp tục viết bộ Tam Quốc Chí, ghi lại tất cả mọi diễn tiến trong thời kỳ
Trung Quốc bị phân ba nước: Ngụy, Thục Hán, Đông Ngô. Tổng cộng 65 thiên, sớm
trở thành một trong 24 bộ chính sử lớn nhất của Trung Hoa.
Bốn bộ sử liệu sau đây đã góp
phần không nhỏ cho Trần Thọ hoàn thành bộ Tam Quốc Chí:
I. Ngụy thư của Ngụy Thâu
II. Ngụy lược của Ngư Hoạn,
III. Ngô thư của Vi Chiêu.
IV. Tấn Thư của Phòng Huyền
Linh và Lý Diên Thọ
Riêng Thục Hán không có chính
sử, Trần Thọ phải tự thu thập tư liệu để viết.
Trong 4 bộ Sử Thư nêu trên
đây, chỉ có hai Bộ: Ngụy Thư của Ngụy Thâu và Tấn Thư của Phòng Huyền Linh và
Lý Diên Thọ là đáng chú ý nhất.
A. Bộ Ngụy thư của Ngụy Thâu
Ngụy Thâu (魏収), 506–572, tự Bá Khởi, thụy Văn Trinh, là con trai
của Thái học Bác sĩ (Bác sĩ ở đây xin hiểu là Tiến sĩ của ta, không là Bác sĩ
như của ta) Ngụy Tử Kiến, người Hạ Khúc Dương huyện Cự Lộc, Hà Bắc (nay thuộc
Bình Hương, Hà Bắc) là Nhà văn, Nhà sử học thời Bắc Tề, chủ biên bộ chính sử
Ngụy Thư, năm Thiên Bảo thứ 5 (năm 554), đến năm Thiên Bảo thứ 10 (năm 559) mới
hoàn thành.
Bộ Ngụy thư có 114 quyển, gồm
Đế kỷ 12 quyển, Liệt truyện 92 quyển, Chí 10 quyển, chép về lịch sử hưng thịnh
và suy vong của Bắc Ngụy thời Nam Bắc Triều từ khi Đạo Vũ Đế kiến quốc năm 386
cho đến khi Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế bị phế truất năm 550.
Khi viết, Ngụy Thâu ví nặng
tình phe phái, có lòng thiên vị, thiếu trung thực, phán xét sai lầm, lệch lạc
nên đây là bộ Sử bị phê phán nhiều nhất. Chẳng hạn, với chủ đích tâng bốc tổ
tiên của tác giả qua hình thức ca ngợi Bắc Ngụy quá trớn, mà hạ nhục tổ tiên
đối thủ chính trị với tổ tiên mình và bản thân tác giả. Người đương thời gọi
Ngụy Thư là “Uế thư” (Sách nhơ bẩn như rác rưới).
Ngoài ra, còn viết sai lầm
lịch sử, cụ thể, trước Bắc Ngụy nước Đại chỉ là tiểu quốc, từng là chư hầu của
các nước Tiển Yên, Tiền Tần, Tây Tấn, Hậu Triệu nhưng, trong Ngụy Thư lật ngược
lại cho rằng nước Đại là một cường quốc, từng làm bá chủ các nước nêu trên,
những nước mà trước kia nước Đại chỉ là chư hầu của họ.
Ngoài ra, tác giả chỉ đưa tên
hoàng đế Đông Ngụy là Hiếu Tĩnh Đế vào bộ Ngụy Sử mà cố tình “bỏ quên” không
viết tên tuổi các vị hoàng đế phía Tây Ngụy chỉ vì nước Tây Ngụy vốn là kẻ thù
địch của Đông Ngụy, trong khi tác giả Ngụy Thâu làm quan ở triều Đông Ngụy. Mặt
khác, trong Ngụy Sử, Ngụy Thâu không trung thực khi gọi các nước thuộc Nam
Triều và các quốc gia lâng bang bằng quốc hiệu, mà chỉ viết các quốc gia ấy là
thứ man di, mọi rợ,… Vì thế, đến đời Tùy, Tùy Văn Đế sai thuộc hạ soạn lại tòan
bộ, bộ Ngụy Thư,
Tùy Văn Đế (隋文帝), 541-604 tên thật Dương Kiên (楊堅), tự Na La Diên (那羅延), Tây Ngụy Cung Đế ban cho họ Phổ Lục Như (普六茹), là con của Dương Trung. Ông là người sáng lập triều
đại nhà Tùy, ở ngôi từ năm 581 đến năm 604. Sau khi xem xong bộ Ngụy Sử (hay
Ngụy Thư) của Ngụy Thâu, thấy Ngụy Thâu viết không chính xác, thiếu trung thực,
ông không hài lòng bèn truyền lệnh cho Nhan Chi Suy cùng Ngụy Đạm soạn lại,
chưa xong thì Tùy Văn Đến bị chính con ruột của mình là Dương Quảng, dùng độc
tửu giết chết!
Những năm cuối đời, tính tình
Tùy Văn Đế thay đổi thất thường, giết người một cách tùy ý. Có lần đến kho vũ
khí tuần tra, thấy trong kho hơi dơ bẩn, ông ra lệnh bắt trưởng kho, hạ lệnh tử
hình.
Lại còn nghe lời gièm pha của
người con thứ là Dương Quảng phế con trưởng là Thái tử Dương Dũng, lập con thứ
là Dương Quảng làm Hoàng Thái Tử.
Tháng 7 âm lịch năm Nhâm Thọ
thứ 4 (604), khi Tùy Văn Đế đang bệnh, bị Hoàng Thái Tử Dương Quảng hại chết,
thọ 64 tuổi,
Dương Quảng (楊廣) hay Dương Anh (楊英), tự A Ma (阿), sau khi giết chính cha ruột của mình là Tùy Văn Đế,
để soán ngôi, xưng là Tùy Dạng Đế (隋炀帝), 569 đến 11/4/618) (có sách viết là Tùy Dượng Đế).
Sau khi soán ngôi của vua
cha, Tùy Dạng Đế sai Dương Tố, Phan Huy, Trử Lượng, Âu Dương Tuân cùng Nhan Chi
Suy, Ngụy Đạm họp thành nhóm chủ biên, nghiên cứu, viết tiếp Ngụy Thư, đến khi
hoàn tất, có 114 quyển.
Tùy Dạng Đế có công hoàn tất
Ngụy Thư (hay Ngụy Sử), nhưng y sớm trở thành tên bạo chúa. Giết anh ruột
nguyên là Thái Tử bị phế Dương Dũng, rồi giết tất cả con cái của Dương Dũng.
Hãm hại em trai là Dương Tú, Dương Lượng. Bức tử em gái là Công chúa Lan Lăng.
Lại bắt xây thành quách, cung điện ở Đông Đô vô cùng xa xí.
Về sau Đường Trường Nhụ chủ
trì tu chỉnh, nhuận sắc lại bộ Ngụy Thư (Ngụy Sử) mới được hoàn chỉnh như ngày
nay.
B. Bộ Tấn Thư của Phòng Huyền
Linh và Lý Diên Thọ.
- Tấn thư (晋書) là 1 trong 24 Bộ Chánh Sử của Trung Hoa, do Phòng
Huyền Linh và Lý Diên Thọ biên soạn năm 648, do lệnh Đường Thái Tông Lý Thế
Dân.
Đường Cao Tổ (唐高祖), 566 đến 25 tháng 7 năm 635, tục danh là Lý Uyên (李淵), tự Thúc Đức (叔德), là vị hoàng đế khai quốc của triều Đường. Ông ở
ngôi trên 8 năm (618-626). Trước, Lý Uyên là tôi thần Nhà Tùy, cai quản khu vực
tỉnh Sơn Tây ngày nay.
Lợi dụng khi triều đại Nhà
Tùy mục nát, Năm 617, Lý Thế Dân khuyên cha là Lý Uyên chống lại Nha Tùy. Khởi
đầu đánh chiếm kinh đô Trường An. Xong, Lý Uyên tự phong là đại thừa tướng,
hưởng tước Đường Vương. (Người viết, mạo muội giải thích. Thừa tướng với Đường
vương khác nhau như thế nào? Thừa Tướng là chức danh (chức vụ). Đường Vương là
ngạch trật để hưởng lương. Giống như sau nầy, một vị tốt nghiệp Quốc Gia Hành
Chánh, ngạch Đốc sự được bổ nhiệm làm Phó Tỉnh Trưởng. Phó Tỉnh ở đây là chức
vụ. Còn ngạch trật là để hưởng lương. Trường hợp cả hai vị đều ngạch trật bằng
nhau, nhưng chức vụ họ khác nhau. Một vị được bổ nhiệm làm Phó Tỉnh, còn vị kia
làm Trưởng ty. Cả hai vị đều hưởng lương bằng nhau. Chỉ có phụ cấp chức vụ khác
nhau mà thôi, nhưng phụ cấp chức vụ thì chẳng bao nhiêu.) Để che dấu ý đồ, Lý
Uyên tôn Dương Hựu lên ngôi làm hình nộm, tức là Tùy Cung Đế.
Tùy Cung Đế 隋恭帝, 605-14 tháng 9 năm 619, tên húy là Dương Hựu (杨侑), là hoàng đế thứ 3 của triều Tùy. Theo truyền thống,
ông được xem là vị hoàng đế cuối cùng của triều đại do là người đã chính thức
thiện nhượng cho. Lý Uyên, là hoàng đế khai quốc triều Đường, mặc dù sau đó,
Dương Đồng đã xưng đế và tiếp tục tại vị cho đến năm 619. (Theo Tùy Thư
Dạng Đế Truyện chép rằng”: “Ban đầu Dương Hựu được phong là Trần vương
và sau được cải phong là Đại Vương, song trong Cung Đế Bản Kỷ cải chính rằng
Dương Hựu ngay từ lúc đầu đã được phong là Đại Vương. Tức là Dương Hựu không có
thọ chức Trần Vương).
Sau khi cướp ngôi Nhà Tùy, Lý
Uyên xưng đế hiệu là Lý Cao Tổ, phong vợ là Đậu thị làm Thái Mục Hoàng Hậu. Con
trưởng là Lý Kiến Thành làm Đông Cung Thái Tử.
Đậu Thái Mục Hoàng Hậu ở với
Đường Cao Tổ Lý Uyên, có 4 người con trai và một người con gái, theo thứ tự: Lý
Kiến Thành, Bình Dương Chiêu công chúa, Lý Thế Dân, Lý Huyền Bá và Lý Nguyên
Cát.
Lý Thế Dân nghĩ mình có nhiều
công lao với vua cha, nên tranh giành ngôi vị Thái Tử với anh trưởng là Thái Tử
Lý Kiến Thành. Vào ngày 2 tháng 7 năm 626, Lý Thế Dân cho phục kích tại Huyền
Vũ Môn giết chết người anh ruột của mình là Thái tử Lý Kiến Thành và người em
trai ruột là Lý Nguyên Cát.
Biết rõ tâm địa của Lý Thế
Dân, Đường Cao Tổ Lý Uyên (có lẽ sợ chết mà cũng không thể bắt tội con) bèn
truyền ngôi cho Lý Thế Dân.
Đường Cao Tổ Lý Uyên lên làm
Thái Thượng Hoàng, an hưởng tuổi già đến cuối đời. Lý Thế Dân tức vị, xưng đế
hiệu là Đường Thái Tông. Đường Thái Tông (唐太宗), sanh 23 tháng 1-598 chết 10 tháng 7-649. Ông là con
trai thứ 2 cũng là người nối ngôi Đường Cao Tổ Lý Uyên.
Đường Thái Tông là vị vua thứ
2 của triều đại Nhà Đường. Ông trị vì được 24 năm (626-649) niên hiệu là Trinh
Quán (貞觀). Suốt thời gian
tại vị Đường Thái Tông chỉ dùng duy nhất niên hiệu nầy.
Thuở nhỏ, Lý Thế Dân đã biểu
lộ tài hoa, giỏi thư pháp, âm nhạc, tinh thông thậpâp bát ban võ nghệ, có tài
cầm quân, thạo binh pháp, rất can đảm, không nề những việc hiểm nguy. Khi tấn
công thì như thác trào nước lũ, ào ạt như vũ bão,… đối phương luôn kiêng dè, nể
sợ.
Lúc 18 tuổi, đã nắm binh
quyền, được nhiều danh tài tìm đến đầu phục. Có những kẻ giàu khả năng, thiện
chí như Lý Tĩnh, Uất Trì Kính Đức, Tần Thúc Bảo, Từ Mậu Công, Trình Giảo Kim...
Ông được xem là Khai Quốc Hoàng Đế, đồng sáng lập Nhà Đường với vua cha là
Đường Cao Tổ Lý Uyên.
Đường Thái Tông là một vị vua
tài ba, đem cường thịnh tột đỉnh đến Nhà Đại Đường. Ông được coi là một trong
những vị hoàng đế vĩ đại nhất trong đất nước Trung Hoa, không kém gì các vì vua
như Tần Thủy Hoàng Doanh Chính, Hán Cao Tổ Lưu Bang, Tống Thái Tổ Triệu Khuông
Dẫn.
Bộ Tấn Thư có 132 quyển gồm
Mục Lục 1 quyển, Đế Kỷ 10 quyển, Chí (ghi chép) 20 quyển, Liệt Truyện 70 quyển,
Ký Tái 30 quyển. Phần Mục Lục có 2 quyển, bị mất. Hiện nay chỉ còn lại 130
quyển. Sách kể về lịch sử các sự kiện bắt đầu từ Tư Mã Ý thời Tam Quốc đến khi
Lưu Dụ phế Tấn Cung Đế lập nhà Lưu Tống năm 420, đồng thời sách còn bổ sung
thêm hình thức "Ký Tái" (ghi chép thêm), dùng để tường thuật tình
hình chính quyền của 16 nước.
Nhóm tác giả "Tấn
Thư" tổng cộng có 21 người bao gồm:
– Ba người trông coi việc tu
sửa: Phòng Huyền Linh, Chử Toại Lương, Hứa Kính Tông.
– Tác giả của ba chí Thiên Văn,
Luật Lịch, Ngũ Hành: Lý Thuần Phong
– Thể lệ tu sử đã định: Kính
Bá (chú thích: không có lưu truyền lại)
16 người khác: Lệnh Hồ Đức
Phân, Lai Tế, Lục Nguyên Sĩ, Lưu Tử Dực, Lư Thừa Cơ, Lý Nghĩa Phủ, Tiết Nguyên
Siêu, Thượng Quan Nghi, Thôi Hành Công, Tân Khâu Ngự, Lưu Dận Chi, Dương Nhân
Khanh, Lý Diên Thọ, Trương Văn Cung, Lý An Kỳ và Lý Hoài Nghiễm.
Ngoài ra Đường Thái Tông Lý
Thế Dân còn viết thêm bốn thiên bàn luận lịch sử trong phần Tuyên Đế Kỷ Tư Mã
Ý, Vũ Đế Kỷ Tư Mã Viêm, và hai phần liệt truyện là Lục Cơ, Vương Hi Chi, cho
nên mới có tựa đề là “Ngự Soạn” (do vua soạn thảo).
Tam Quốc Chi của Trần Thọ ra
đời cùng lúc Hạ Hầu Trạm biên soạn cuốn Ngụy Thư. Sau khi ông đọc Tam Quốc Chí
của Trần Thọ rồi, tự thấy không bằng liền tự đem đốt bản thảo của mình. Điều
nầy cho chúng ta thấy, sự xuất hiện tác phẩm Tam Quốc của Trần Thọ đã khiến
nhiều học giả đương thời nể trọng. Còn giới quan lại Thục Hán chê Trần Thọ là
kẻ vô tình, bất trung, tuyệt Hán!
Tam Quốc Diễn Nghĩa, được La
Quán Trung viết vào đầu Nhà Minh. (Nhà Minh hay triều Minh (明朝) từ 23 tháng 1 năm 1368 đến 25 tháng 4 năm 1644, là
triều đại cuối cùng do người Hán trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1368, Hàn Tống
Ngô vương Chu Nguyên Chương sau khi tiêu diệt Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành
và Phương Quốc Trân cùng các thế lực quần hùng, cùng năm ngày 4 tháng Giêng âm
lịch đăng quang tại phủ Ứng Thiên, lấy quốc hiệu Đại Minh. Đầu thời kiến quốc,
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương định đô tại phủ Ứng Thiên (nay là Nam Kinh), đến
năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), Minh Thành Tổ Chu Lệ dời đô đến phủ Thuận Thiên
(nay là Bắc Kinh) Khoảng cách giữa chánh sử Tam Quốc Chí của Trần Thọ ra đời
với bộ tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung khoảng trên 1 ngàn
năm. Trong thời gian đó bộ chánh sử Tam Quốc Chí đã được quần chúng lưu truyền
và các giới văn học nghệ thuật đã tiếp tay phổ biến qua hình thức kịch, ca hát,
tuồng tích, văn thơ... Tất nhiên, những thể loại đó được thêm thắt, hư cấu
không ít và La Quán Trung cũng đã dựa vào các giả thuyết, hư cấu ấy để viết Tam
Quốc Diễn Nghĩa, làm sao tránh khỏi sơ xuất?
Chính việc biên chép Tam Quốc
Diễn Nghĩa của La Quán Trung sai sót, thiếu trung thực, đề cao quá đáng những
vật của Hậu Hán mà đè bẹp những nhân vật chống Nhà Hán. Cho nên, về sau, rất
nhiều người chỉnh sửa, nhuận sắc lại nguyên bản của La Quán Trung cho đúng sự
thật. Những bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa ra đời sau đó được lưu trữ đến ngày nay, gồm
có: Tam Quốc Diễn Nghĩa năm Dần với niên hiệu Hoằng Trị đời Minh (1494) / Tam
Quốc Diễn Nghĩa năm Nhâm Ngọ với niên hiệu Gia Tĩnh (1522) gồm có 24 cuốn 240
tiết. Những bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa đã lưu hành trước đây, nội dung đều có chỉnh
sửa, nhưng không khác nhau nhiều.
Bản gốc, Tam Quốc Diễn Nghĩa
của La Quán Trung so với bản của đời Nhà Nguyên, có những khác biệt:
– Loại bỏ một số phần mê tín,
nhân quả báo ứng và những tình tiết hoang đường.
– Viết thêm, nội dung làm cho
nội dung bộ truyện thêm phong phú.
– Tô vẽ tính cách và hình
tượng nhân vật cho sâu sắc, đậm nét hơn.
– Nâng cao ngôn ngữ, tăng
cường thêm sức hấp dẫn của nghệ thuật.
– Làm nổi bật lên một cách
minh bạch và mãnh liệt mang tính văn học.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều
sai sót.
Đến đầu đời Thanh, 1664, Mao
Luân cùng con trai là Mao Tôn Cương, người Tràng Châu tỉnh Giang Tô, bắt đầu tu
đính lại truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa. Phải mất 15 năm, đến đời Khang Hy thứ 18
(1678) mới hoàn tất.
Trọng tâm của Mao Tôn Cương
trong việc chỉnh sử Tam Quốc Diễn Nghĩa gồm thêm bớt, nhuận sắc, sắp xếp lại
các hồi mục, câu đối, câu văn, câu thơ lẫn lộn, lời trùng, sai sót,… và tước bỏ
các chương tấu không cần thiết, dồn 240 tiết vào 120 hồi và thêm vào đó những
lời bàn... Từ đó bản Tam Quốc Diễn Nghĩa do Mao Tôn Cương nhuận sắc được lưu
truyền rộng rãi.
Đến năm 1958, nhà xuất bản
Văn Học Xuất Bản Xã ở Bắc Kinh lại thêm một lần hiệu đính lại từ bản của Mao
Tôn Cương. Công việc chỉnh sửa, hiệu đính lại lần nầy rất kỹ. Họ dò lại, đối
chiếu từng câu, từng chữ, từng tên riêng với bản của La Quán Trung. Sau đó, đem
sửa chữa ấy đối chiếu lại với bản của Mao Tôn Cương để tìm những chỗ chữ sai,
hỏng mà hoàn chỉnh lại. Tóm lại, vẫn giữ gần như nguyên bản của họ Mao.
Đa số, những bản in gần đây,
đều theo bản hiệu đính của nhà xuất bản nầy.
Như vậy, ta có thể hiểu, ban
đầu bộ tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa do La Quán Trung viết, về sau, Tam Quốc
Diễn Nghĩa trở thành bộ sách của rất nhiều tác giả.
***
Tham khảo có trích đoạn:
– Kể chuyện Tam Quốc, của Lê
Đông Phương
– Tướng soái cổ đại Trung
Hoa, của Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân
– Khổng Minh Gia Cát Lượng đại
truyện, của Trần Văn Đức
– Tam Quốc Chí của Trần Thọ.
– Bách Khoa Toàn Thư
– Trần Thọ, Tam Quốc chí, do
Bùi Tùng Chi chú
– Kể chuyện Lưỡng Tấn Nam Bắc
triều, của Thẩm Khởi
– Kể chuyện Tam Quốc, Nhà
xuất bản Đà Nẵng, 2007 của Lê Đông Phương
– Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất
bản Đà Nẵng, 2007 của Lê Đông Phương, Vương Tử Kim.
- Nguyễn Hiến Lê, Đại cương
Văn học sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Trẻ, 1997.
Nguyễn Khắc Phi, Từ điển Văn
học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
- Dịch Quân Tả, văn học sử
Trung Quốc quyển I. GS. Huỳnh Minh Đức dịch, Nhà xuất bản Trẻ, 1992.
- Tam Quốc bình giảng, Nhà
xuất bản tổng hợp An Giang, 1989 của Nguyễn Tử Quang (1989),
- Tướng soái cổ đại Trung
Hoa, Nhà xuất bản Lao động, 2006 của
Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân
- Kiến Thức net.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét