Gởi các bạn đọc đầu tuần
Thanks
TYH
*
Phan Nhự Thức
Phan Nhự Thức đọc thơ nhân ngày đầu tiên các bạn cựu hs Trần Cao Vân họp mặt.
(Gò Vấp, SG, VN, 1990, ảnh Trần Yên Hòa lưu giữ)
Phan Nhự Thức (còn có bút danh Mê Kung, Đạm Hải Triều, Hà Diện Đàm, Chế Phan Nguyên (họ của ba người bạn ghép lại: Chế Quân, Phan Đình Phước, Nguyễn Văn Minh)) tên thật Nguyễn Văn Minh, sinh ngày 4 tháng 2 năm 1942 (?) tại Đà Nẵng, quê nội Phú Thọ, Tư Hiền, Tư Nghĩa (nay thuộc Nghĩa Phú, Tư Nghĩa), Quảng Ngãi. Tốt nghiệp sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa 24. Học tập cải tạo từ 1975 đến 1982. Thơ ông xuất hiện trên văn đàn miền Nam giữa thập niên 1960 thế kỷ trước. Thân phận, cuộc sống, quê hương, chiến tranh, tình yêu, bạn bè là đề tài sinh động trong thơ ông. Ông nguyên là chủ tịch hội đồng tỉnh Quảng Ngãi, sáng lập viên Quảng Ngãi Nghĩa thục, phụ tá hiệu trưởng Quảng Ngãi Nghĩa thục, chủ biên tạp chí Trước mặt, tạp chí Tập họp. Phan Nhự Thức qua đời tại Sài Gòn ngày 21 tháng 1 năm 1996.
Đã xuất bản: Đốt Tuổi, thơ. Ngưỡng cửa. Quảng Ngãi. 1969. Thư Ấn quán tái bản. 2007.
Di cảo: Thắp hương dân tộc (tuyển tập thơ văn). 1959.
Rung đại hồng chung (kịch lịch sử 4 màn). 1962.
Nhìn người tự sát (thoại kịch). 1963.
Đi trên da thịt (tập truyện).
Bồng xác kẻ thù (tập thoại kịch).
Di cảo: Thắp hương dân tộc (tuyển tập thơ văn). 1959.
Rung đại hồng chung (kịch lịch sử 4 màn). 1962.
Nhìn người tự sát (thoại kịch). 1963.
Đi trên da thịt (tập truyện).
Bồng xác kẻ thù (tập thoại kịch).
Ngồi lại bên vườn
hình minh họa
Người xưa chắc giống như thi sĩ
Bày tiệc trần gian thết đãi đời
Vứt kiếm anh hùng say bí tỉ
Đốt sạch nhân tình đem xác phơi
Tàn tiệc thánh thần ngồi chết ngượng
Che mặt nghiêng đầu lệ thánh thư
Kinh điển quên ghi điều loạn sử
Đời sau đâu nhớ chuyện phù hư
Người xưa thất chí lui về ẩn
Cần trúc buông câu Lã vọng chờ
Ta nay cơm áo phờ râu tóc
Về vườn sống để đỡ bơ vơ
Người xưa lẻo mép khua môi bảo
Mái tranh che 2 quả tim vàng
Ta nay lang bạt không nhà ở
Cùng vợ che lều lá lầm than
Ngồi lại bên vườn, chân lết bết
Mùa nước ao phèn lún bùn đen
Bóng mây chìm khuất lòng mê mệt
Ta chợt buồn như một thói quen
Thói quen cũng xa theo trang sách
Chữ nghĩa văn chương buổi nhạt nhòa
Bỗng ai khua động bờ lau lách
Ngỡ tiếng thơ vừa dậy dưới hoa
Thơ với người xưa đi biền biệt
Vệt gió, du hành xóa dấu chim
Lưỡi kiếm phong trần ai tuẫn tiết
Tràng cười ràn rụa xé trăng im
Người xưa từ dạo mơ bất tử
Ngậm thuốc trường sinh đạp xác phàm
Ai đã ôm thân bờ tư lự
Tóc rụng đầy hồn trắng túi tham
Người xưa từ buổi khoe xiêm áo
Kiếm hiển vinh đâm xuống tim sầu
Khanh tướng nửa chừng rơi giáp mão
Chống cuốc nhìn lên mây biển dâu
Người xưa từ thủa ôm trăng chết
Rượu ngập nhân gian túy lúy sầu
Thơ thét lên rạng ngời sông nước
Cơn say còn chếnh choáng ngàn sau
Người xưa từ nỗi buồn im bặt
Đốt lửa cười vang rụng cửa thành
Ai đạp bệ rồng nghiêng mặt đất
Cuộc thất tình vua cũng loanh quanh!
Người xưa từ thủa vung tay võ
Giữa chợ giết người lên núi tu
Chén rượu bềnh bồng trôi tiếng mõ
Chùa nghiêng hảo hớn đạp thiên thu
hình minh họa
Ta chẳng phải người xưa như vậy
Về bên vườn chân lấm bùn đen
Đêm ngày nghe tiếng côn trùng gáy
Dừa khô trôi theo nước đất phèn
Ngồi lại bên vườn lòng hoang lặng
Nước theo trăng lai láng ngập bờ
Chợ đời chìm dưới giòng ao vắng
Và gió lên cuốn hút trời thơ
Thắp Lại Thơ Tình
(hay Thơ tình trong trại cải tạo)
Đã cạn nguồn thơ từ buổi đó
Buổi xa rừng chim cất giọng khan
Chiếc lồng nhỏ đời giam bé nhỏ
Cõi ngoài mơ là dấu chấm than (!)
Đã hết thuở trăng sao xao xuyến
Nắng bâng khuâng nhớ sớm thương chiều
Cây thôi gọi gió tình thôi hẹn
Tháng năm qua đời xóa chữ yêu
Chỉ còn lại mẫu đời giản lược
Hòn sỏi kia dạt bãi ngậm ngùi
Phơi lòng khô con kênh khô nước
Mặt gầy xương vàng vọt tuổi người
Chỉ còn lại bình phai men rượu
Tên tửu đồ lên núi đốt than
Đã cạn dòng thơ say túy lúy
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét