Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Ảnh Đặng Đức Cương


             NƠI ẤY LÀ QUÊ TÔI ĐÓ!

                      LÂM BÍCH THỦY

                                                                    
   Người đời gọi quê hương tôi là “địa linh nhân kiệt” Tôi không biết mảnh đất eo hẹp ấy có linh thiêng và con người thì kiệt xuất thực không? Nhưng, chỉ với hình ảnh người anh hùng áo vải-vua Quang Trung Nguyễn Huệ; oai phong lẫm liệt dẫn đoàn quân chiếm Nam, dẹp Bắc; nữ tướng Đô đốc Bùi thị Xuân, có một không hai, đã dùng đôi chân bám dưới bụng ngựa vừa phi vừa bắn cung tên diệt giặc...đã gợi trong tôi niềm tự hào về một miền quê với cái tên là Bình Định.

 Tuổi về hưu của tôi chất đầy quá khứ của những ngày hè oi ả.Tôi đã từng tận hưởng những hương vị ngạt ngào quả chim chim, dú dẻ, ổi, mùi hương diều diệu của chà là, say v.v.. Ôi quê hương của tôi trong tuổi thơ sao mà đáng nhớ đáng tự hào đến thế!  Tôi yêu quê và tự hào về mãnh đất đã sinh ra nhiều danh nhân cho đất nước. Những bóng dừa lểnh khểnh, cành xoan ngòng ngèo, cho tới con sông, bến đò; và cả bát canh cá liệt, cá thu, cá ngừ nấu ngót ...theo kiểu quê cũng gợi cho tôi nỗi nhớ và yêu quê da diết.

Giờ đây, tuy cuộc sống đã có nhiều thay đổi, nhưng những hình ảnh ấy đã kết tinh lại thành chất men dịu ngọt như rượu Bàu Đá len vào tâm trí tôi, lôi tôi ngựơc về với những quá khứ của một vùng quê thanh bình. Chỉ thông qua góc nhìn nhỏ nhoi ở chợ Gò Chàm nhưng vào thơ của người cha thi sĩ của tôi, nó bỗng hóa thành  một không giang đa chiều với nhiều cảnh đẹp mê hồn và ẩn chứ nhiều tìm năng về văn hóa, lịch sử và kinh tế mà ngay nay các thế hệ con cháu đã, đang tìm về đề khai phá

  Vâng! Có nhiều người viết về cha tôi, ai cũng nhắc tới bài thơ “Bến My Lăng”. Một chị,  người của đất kinh thành Huế, cùng cơ quan, cho tôi biết, trước đây, chị có thấy một bức tranh rất lảng mạn, nhìn thích mắt, được một họa sĩ vẻ bằng cảm xúc khi đọc bài thơ. Chị còn cho biết, bức tranh ấy, hiện nay, đang ở đâu đó trong nhà của người có dòng giõi quan lại ở Huế. Giá tôi được nhìn qua một tí cũng thỏa mãn trí tò mò về cái bến sông huyền thoại của ba tôi như thế nào mà ai ai cũng nhắc tới khi đọc ...!

  Bến My Lăng, là bến nào ở An Nhơn-Bình Định tại miền quê nhỏ xíu của tôi (?). Bến đó chắc có gì lạ và đặc biệt lắm nên ai cũng muốn tìm về để chiêm ngưỡng. Người ta đọc  và suy luận, mỗi người mỗi vẻ để giải thích cách nghĩ, tâm tư, cảm xúc riêng của mình khi đọc bài thơ:
 Nhà thơ Thanh Thảo thì nghĩ: “Bến My Lăng-hình như ở trong mơ, dưới ánh trăng bạc xám, ám ảnh trên Thành cổ Đồ Bàn. Có thể là một bến sông của một cô gái người Chàm, của một ông lái đò không tên, không tuổi, quên quá khứ, không nghĩ tới tương lai, ông lái đò của thời khắc hiện tại, của dòng sông trôi chảy. Bến My Lăng ở đâu? Có lẽ bến sông ấy chỉ có trong thơ Yến Lan, trong những tầng sâu nhớ quên của nhà thơ. Đừng giải thích, đừng định vị
                     Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
                     Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu  
Ở đời đủ giàu như Thạch Sùng, thì cũng không qua được cái trăm năm đong đưa, như đùa, như thật “Chỉ những câu thơ còn xanh”. Yến Lan mãi còn Bến My Lăng của ông, cái bến riêng của linh hồn ông, với tiếng gọi đò tha thiết, tiếng gọi đò như đến từ cõi khác, từ một đời sống khác:
                     ”Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
                     Gọi đò-thôi, run rẫy cả ngành trăng
                               (Trích bài viết trong BDNS-21  “Nhà thơ của một bến sông” của Thanh Thảo)

Còn Từ Quốc Hoài với  “Yến Lan-cốt cách một đời thơ”)
 Đã chắc chắn rằng “Độc giả Việt Nam biết đến Yến Lan trước hết với Bến My Lăng. Mười bảy tuổi, Yến Lan trình làng một thi phẩm mà chỉ riêng nó thôi đủ làm nên tên tuổi một thi sĩ. Vào năm nhà thơ ra đời (Bính Thìn 1916), cảnh nhật thực, nguyệt thực xảy ra nhiều vùng trên thế giới trong đó có Việt Nam. Cuộc đấu tranh sinh tử xóa bỏ ách nô lệ, giành độc lập  cho xứ sở được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng mười bốn năm sau đó. Những sự kiện lớn lao ấy có sức chấn động trong ông, làm ông ý thức được tính chất vô thường của cuộc sống, cái đẹp, cái cao cả có thể bị xâm hại cần được bảo vệ.
   Bến My Lăng là nỗi niềm khắc khoải về một quyền năng huyền nhiệm, khả dỉ mang lại hạnh phúc cho con người. Bến My Lăng giống như một giấc mơ. Một ông lão lái đò u buồn đợi khách trên một bến sông đầy trăng. Không có khách, ông thả hồn chơi vơi tận “bến trăng cao”, tự làm thanh bạch mình ở cái “bến trăng” trong tâm tưởng ấy. Chàng kỵ mã nhung y hào nhoáng, có vẻ một kiếm sĩ không phải là người khách mà ông lái đò mong đợi.
                               Ông lão vẫn say trăng đầu gối sách             
                               Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng…
  Bài thơ khép lại một Bến My Lăng đầy trăng lạnh, và đã bao trăng ông lái buồn đợi khách. Bài thơ có sức ám ảnh. Ngôn ngữ thơ nhẹ bổng như được chiếu sáng lung linh bởi ánh trăng huyền ảo. Nhưng cái tình của bài thơ thì rất thật. Chính cái tình ấy dã neo Bến My Lăng vào lòng người ngay từ khi mới ra đời.”

“ Cái mà thi sĩ để lại cho đời là “Bến My Lăng” bất tử.  Tôi đã say ánh trăng mờ ở xứ dừa quê thi sĩ, hồi học lớp 9 (1956), đã nghiền... chỉ 4 từ “gió lén mơn râu” có thể sánh với “bạch vân thiên tải không du du” rồi

 Với lớp trẻ, tôi càng bất ngờ hơn khi vô tình nghe được trên đài HTV9, trong chương trình Vầng trăng cổ Nhạc lần thứ 6, người dẫn chương trình Thanh Bạch đã đưa khán giả đến với bài thơ bằng lời mở đầu: “Trong nền Văn học Việt Nam có rất nhiều bài thơ tả về trăng, nhưng bài thơ tả về trăng đẹp, lảng mạn và hay nhất là Bến My Lăng” Khi ta nói đến trăng thì phải nói đến Bến My Lăng, mà nói Bến My Lăng  thì phải nói đến Yến Lan và nói đến Yến Lan thì phải nói đến Bến My Lăng

 Cảm nhận về “Bến My Lăng” nhiều lắm, với bài viết này tôi không thể đem đến cho các bạn những thi vị mà đọc giả đã nghĩ về nó. Song le, cũng có người suy luận rằng; vì mê cô Lan quá (tức là mẹ tôi) nên nhà thơ gọi chệch từ Mê Lan thành My Lăng.
  Tất cả những điều đó đã gợi sự tò mò trong tôi. Tôi đi tìm “Bến My Lăng” để hiểu.
  Có lần tôi hỏi và được cha tôi kể về nét sơ khai thuần khiết của sự ra đời bài thơ: 
    “Cuộc sống nghèo khó đã cướp đi sức lực và tuổi trẻ của bà nội tôi. Trước khi mất, bà ốm nặng lắm, không ăn được gì ngoài thứ bánh canh nấu với tôm mua ở chợ. Lúc đó ba tôi mới 7 tuổi (tuổi âm) mà chợ xa, phải qua một lần đò. Sợ bánh canh nguội mẹ không ăn được, sợ trẻ chăn trâu chặn đánh đổ hết bánh canh, về mẹ không có ăn; Vì vậy cậu bé phải hối hả gọi ông lái đò- là cậu ruột của ba tôi, thường neo đậu ở bên kia sông. Tiếng gọi “Đò ơi! ơi đò!..” Lần nào cũng vậy, khản cả cổ mà cậu không nghe thấy, bởi hai bờ sông quá rộng, tiếng của ba thì nhỏ, phả đều trên mặt sông thành những làn sóng lăn tăn như ru thêm cho cậu ngủ ngon giấc hơn. Dẫu vậy, ba vẫn phải gọi, tiếng gọi đò tha thiết, như giục dả, hối hả đã ăn sâu vào tìm thức của cậu bé. Lớn lên, có thêm chút triết lý, cộng với thực tế từ cuộc sống, ba tôi đã viết bài thơ này và tiếng gọi đò đã vào thơ:
    Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi”.. “Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng

 Tôi hỏi về nghĩa bóng bài thơ”. Ông cười, mà rằng: “Viết bài thơ này ba muốn nói về vấn đề hạnh phúc của con người. Đời người ai cũng có quyền được mơ.ước. Người mơ về vật chất, tiền tài, danh vọng, song có người chỉ mơ được sống trong một gia đình mà niềm vui được chia sẽ. Sau đó ông giải thích cho tôi khái niệm về hạnh phúc. Hạnh phúc là khi nhu cầu được thỏa mãn, giống như Thằng Bờm tài sản chỉ có cái quạt mo, gặp lúc đói quá, đâu dám mơ gì cao sang, mỹ vị, chỉ mơ có cục xôi. Còn ông lái đò trên Bến My Lăng, mơ có khách, dù chỉ một người để được làm cái việc đưa họ sang bờ bên kia. Nếu ước mơ trở thành hiện thực có nghĩa là niềm hạnh phúc đã đến với người đó. Ở bến sông này, người dân sống dưới thời phong kiến khổ lắm, họ không có tiền để qua bên chợ mua sắm nên bến sông lúc nào cũng vắng khách. Ông lái đò đợi hoài, đợi mãi mà chẳng có lấy một bóng người. Sự chờ đợi làm ông mỏi mệt, ê chề đến ngủ say; say đến nỗi quên đi mất niềm ước mơ của mình đến “Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã / Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly / Trong khoảnh khắc chớp nhoáng ấy, ông lái đã không biết chớp lấy và nắm giữ niềm hạnh phúc nhỏ nhoi mà mình phải chờ đợi “Suốt cả bao trăng” ông đã để nó vuột đi mất
  Đề cập đến cái triết lý của bài thơ, ba tôi nói thêm: “các con biết không, hạnh phúc không phải lúc nào cũng phụ thuộc bên ngoài. Nó ở chính trong ta. Chỉ có những gì do  bàn tay lao động của mình làm nên thì ta mới ý thức được hạnh phúc quí giá như thế nào và mới biết gìn giữ nó. Nếu ta cứ chờ đợi người ngoài ban hạnh phúc hay dựa vào sức lao động của người khác mà hưởng thì không được bền lâu. Người xưa đã dạy “Đừng há miệng chờ sung rụng”

 Gần đây, ông anh họ con cô Bốn, người mà ba tôi đã viết bài thơ tứ tuyệt làm xao động lòng người, bài “Khi chị đi lấy chồng” có chút vốn chữ Hán, luận ra vì sao nhà thơ đặt tên của bài thơ là “Bến My Lăng”:
   Về chữ My Lăng  Nếu viết đúng nguyên chữ là “My–bơ–lăng”. Viết theo chữ Nôm là “My blăng”   My = lông mày -> có hình cong.
           “Quê ngoại tôi nằm trên khúc sông cong”  
           “Thuyền ai về đậu khúc sông eo
    Còn chữ   Blăng : suy từ chữ Nôm có nghĩa là trăng.
Vậy từ chữ “My-bơ-lăng” thành My Lăng. Có thể hiểu là “Bến sông trăng
Chẳng thế mà thơ của ba tôi chứa nhiều trăng. Ngay những ngày mới lọt lòng mẹ, ông đã được ánh trăng vàng ngàn đời vây phủ, chở che. 
                               Võng mẹ ru hời dưới mái hiên
                               Hương đồng cỏ nội-mặc, kề bên
                               Tôi nằm trong vũng ca dao lạnh
                               Đón những vầng trăng mẹ vớt lên.

                               Trăng đi từ tóc, đi vào máu
                               Như sữa tuôn dòng chảy khắp thân,
                               Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá
                               Như má yêu môi, đến đến….gần
                              
                               Tôi đã thành người mắc  bệnh trăng
                               Chiều mây sớm nắng mỗi bâng khuâng
                               Chỉ riêng báo hiệu niềm vui đến
                               Khi ứng lòng đêm một ngấn hằng.
                                                   “Trích Bệnh trăng”
(Rút trong tập Mưa bay)
                                                              TTTN số 16                              

 Vào 31 tháng 3 năm 1985, Đoàn làm phim của nhà báo Thụy Kha về An Nhơn, gồm có nhà thơ Thanh Thảo, nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ  Nguyện Trọng Tạo. Họ cũng hỏi về cái bến sông này. Nhà thơ đưa ngón tay trỏ, phát họa lên chiếu và giải thích tương tự như giải thích của anh Can.
  Đoàn làm phim đã hiểu vì sao nhà thơ lấy tựa cho bài thơ của mình là Bến My Lăng. Sau này hoàn thành, bộ phim tư liệu mang tên “Yến Lan – Một bến sông trăng”                                               

Bến My Lăng
         
My Lăng nằm không, thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu

Ông không muốn run người ra tiếng địch
chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao
vì đìu hiu, đìu hiu trời tĩnh mịch
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao.

Trôi quanh thuyền những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời nhưng chỉ rải trăng… trăng
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
để đêm buồn vây phủ bến My Lăng
Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi

Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách
để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng

Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng…

 Nhiều người cho rằng, sở dĩ bài thơ được nhiều thế hệ yêu mến, đi thẳng và lắng lại trong lòng bao thế hệ, nhất là với người Bình Định, còn ở một khía cạnh nữa. Đó là cái - âm thanh của tiếng gọi đò, nó như một lời tâm sự của nhà thơ về cuộc đời, về thế thái nhân sinh mang đậm màu nhân văn - Âm thanh đó chính là tiếng gọi đò tha thiết của chàng kỵ mã trong một đêm đầy trăng.
  Theo sự hiểu biết rất hạn hẹp của tôi thì trong giai đoạn từ 1930 đến 1945 có hai bài thơ chứa đựng những âm thanh.
   Bài thứ nhất chứa những âm thanh dồn dập “hối hả”, những âm thanh như oán trách, những âm thanh làm run rẫy cả ngành trăng. Đó là tiếng gọi đò mãi mãi vang vọng trên “Bến My Lăng” của nhà thơ Yến Lan:
              “chàng gọi đò, gọi đò như hối hả/ sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi”.
 
  Bài thứ hai là những âm thanh não nùng của hàng trăm con quạ, giữa đêm khuya đang ngủ, bỗng có tiếng động làm thức dậy cất tiếng kêu hoảng loạn, ầm ỹ. Những con quạ này, đập cánh ào ào trong đêm tối “bóng lẫn đêm khuya tiếng rộn ràng”. Tiếng quạ kêu thật rùng rợn, thật ấn tượng. Đó là tiếng quạ trong “Đêm thu nghe quạ kêu” của bác Quách Tấn. Cái tiếng của cả một bầy quạ kêu từ bờ tre trên sông Côn nằm trên chặng đường từ An-Vinh đi về Phú Phong đã gây cho bác Quách Tấn một ấn tượng mạnh mẽ làm cho cả đời ông nhớ mãi. Chỉ nghe tiếng quạ kêu mà bác đã viết một bài thơ đường rất nổi tiếng. 
 Nhưng, nếu so sánh tiếng quạ kêu với tiếng gọi đò của Chàng Kỵ Mã áo xanh thì nhiều người ưa tiếng gọi đò của Yến Lan hơn. Nó thể hiện sự độc đáo mà nhà thơ Yến Lan đã gieo vào lòng người đọc, khiến họ nhớ mãi về cái bến hoang tưởng trong hư vô của thị trấn An Nhơn không dứt, khiến họ liên tưởng đến tiếng ếch kêu đã làm Tú Xương giật mình ngỡ là tiếng gọi đò trước đây
         “Đêm nghe tiếng ếch bên tai/ giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” .. 
Tất thảy những điều đó đã khơi dậy một niềm tự hào về mảnh đất của quê hương Bình Định, nơi sâu, tận đáy lòng nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Liễn, bằng 2 câu đối dưới dạng 4 câu thơ viết tặng nhà thơ Yến Lan
                               Bến My Lăng, bến ấy ở đâu?
                               Trời tĩnh mịch, trăng rơi vàng, thuyền đợi khách
                              
Đất Bình Định đất này lạ nhỉ!
                               Rượu ân tình, hoa tư tưởng - xứ lên men.


Lâm Bích Thủy
017 lô 4 Cư xá Thanh Đa
P/27 Q/BT TP/HCM
Tel: 35566477

DD:  0932.73.53.73

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét