NGUYỄN LIÊM
LỊCH SỬ XƯA, NAY VỀ CÔNG & TỘI CỦA QIN SHI HUANG
TỨC HOÀNG ĐẾ TẦN THỈ HOÀNG
Bài Của Nguyễn Thanh Liêm
Gió Ngàn Phương
San Francisco, ngày 4-4-2012
Nhiều sử gia Trung Quốc xem Qin Shi Huang tức Tần Thỉ Hoàng là một bạo Chúa, bạo ngược
tàn ác, khát máu. Nhưng các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc hiện đại cho rằng: Tần Thỉ
Hoàng là một nhà cải cách đầu tiên lớn nhất của Trung Quốc thời phong kiến. Họ đánh giá cao
về cuộc cách mạng văn hóa với chính sách cải cách lịch sử thống nhất ngôn ngữ Trung Quốc
gồm 5000 thứ tiếng nói khác nhau hiểu qua một thứ tiếng nói, một thứ chữ Mandarin (Quan
Thoại hoặc Phổ Thông) mà nền văn học miền Nam trước năm 1975 giảng dạy rằng: Mandarin
là chữ Hán - Việt! Thới Bắc thuộc, 5000 thứ tiếng nói khác nhau trong đó có tiếng Việt Nam,
tiếng Đại Đàn, tiếng Nhật.
Mặt khác, họ ca tụng vai trò Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng có công lớn
nhất Trung Nguyên, Trung Quốc!
Vạn Lý Trường Thành và cuộc cách mạng văn hóa với chính sách cải cách lịch sử thống nhất
ngôn ngữ và chữ viết Mandarin, Quốc Ngữ duy nhất của Trung Quốc gắn liền với tên tuổi và
công lao của Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng!
Dưới thời Bắc thuộc, tiếng Việt (Việt ngữ), tiếng Nhật Bản (Nhật ngữ), tiếng Cao li (Hàn Ngữ)
chỉ là những ngôn ngữ đồng văn với Hoa ngữ! Vì cả 4, Trung Nguyên, Trung Quốc, Việt Nam,
Nhật Bản, Đại hàn đều sử dụng chữ Mandarin của Trung Quốc. Thật ra, 4 ngôn ngữ đó, không
có quan hệ thân tộc, tức họ hàng gì với nhau cả!
SỬ THẾ GIỚI GHI: QIN SHI HUANG, TRIỀU ĐẠI QIN (Qin Dynasty)
SỬ VIỆT NAM CHUYỂN NGỮ LÀ: TẦN THỦY HOÀNG, TRIỀU ĐẠI NHÀ TẦN.
Tần Thỉ Hoàng, sinh năm 259 trước Công Nguyên, tại Hàm Đan, Kinh Đô nước Triệu, tên
Chính, họ Triệu, gọi là Triệu Chánh. Danh nghĩa là con của Tứ Sở Trang Tương Vương nước
Tần, nhưng thực tế là con của đại thương nhân Lã Bất Vi và Triệu Cơ. Tần Thỉ Hoàng còn
được gọi là Tần Doanh Chính.
Tần Chiêu Vương là Vua nước Tần (sử thế giới ghi Qin Dynasty), lập con trai thứ là An Quốc
Quân (Doanh Trụ) làm Thái Tử. Công Tử Tứ Sở là con trai của Thái Tử An Quốc Quân với một
người vợ thứ, Hạ Cơ. Hạ Cơ không được Thái Tử An Quốc Quân sủng ái, do đó Công Tử Tứ Sở
đi làm con tin ở nước Triệu. Chiến tranh xảy ra giữa nước Tần và Triệu, Triệu Vương không
giết Tứ Sở nhưng giao Tứ Sở cho quan Huyện Úy canh chừng và xem như nô lệ.
Tài liệu sử sách Trung Quốc trung thực tiết lộ: Lã Bất Vi là đại thương nhân giàu có nước
Triệu, nhưng bị các quan lại Triều Đình nước Triệu khinh thường, Lã Bất Vi có tiền nhưng
không có quyền. Lã Bất Vi căm thù, nhưng không dám hở môi, chỉ ngấm ngầm tìm mưu kế trả
thù. Lã Bất Vi muốn đầu tư vào Tứ Sở là con tin của Tần ở nước Triệu. Do đó, Lã Bất Vi tìm
cách giao lưu dùng vàng bạc, châu báu mua chuộc quan Huyện Úy với mưu mô thâm kế rằng:
xin quan Huyện Úy chấp thuận cho Tứ Sở đến ở nhà Lã Bất Vi làm tôi tớ, gia nô.
Sau khi Quan Huyện Úy chấp thuận đề nghị của Lã Bất Vi: Bất Vi bèn cho Triệu Cơ là hầu
thiếp của mình đã mang thai với Lã Bất Vi làm vợ Tứ Sở. Từ một Công Tử con của Thái Tử
nước Tần, vì hoàn cảnh chiến tranh xảy ra giữa Tần và Triệu, Tứ Sở trở thành nô lệ nước
Triệu. Nay nhờ Lã Bất Vi can thiệp và che chở: Tứ Sở trở thành vương gia có người hầu, kẻ
hạ, có vợ đẹp Triệu Cơ. Tứ Sở rất vui mừng và mang ơn Lã Bất Vi!
Thời điểm đã đến, Lã Bất Vi mưu đồ tổ chức một cuộc vượt biên giới. Mục đích đưa Tứ Sở
và Triệu Cơ thoát khỏi nước Triệu. Trên đường vượt tẩu bị quân Triệu đuổi rượt chỉ có Tứ
Sở và Lã Bất Vi thoát khỏi lãnh ải của nước Triệu để trở về Tần. Riêng Triệu Cơ mang thai, vì
quá sợ, nàng lâm bồn trên đường vượt biên giới. Triệu Cơ và hài nhi (Triệu Chánh) kẹt lại
nước Triệu.
Năm 250 trước Công Nguyên, Tần Chiêu Vương viên tịch, Thái Tử An Quốc Quân tức cha của
Tứ Sở lên ngôi Vua lấy hiệu là Tần Hiến Văn Vương. Nhà Vua rất vui mừng gặp lại Tứ Sở sau
bao năm cha, con phân cách. Mặt khác, nhà Vua cảm thương Tứ Sở trải qua bao năm gian
khổ nằm gai nếm mật ở nước Triệu. Từ những cảm nhận đó, Tần Hiến Văn Vương lập Tứ Sở
làm Thái Tử.
Tương kế tựu kế, Lã Bất Vi mưu đồ xúi biểu Tứ Sở thuốc độc cha để đoạt ngôi Vua. Sau khi
Tần Hiến Văn Vương mất, Tứ Sở lên ngôi Vua lấy hiệu là Tần Tương Vương, phong Lã Bất Vi
làm Thừa Tướng. Ngay sau khi lên ngôi, Tần Tương Vương ra lệnh Lã Bất Vi đem đại quân
vay khổn nước Triệu và buộc Triệu Vương giao nạp Triệu Cơ và Triệu Chánh là con tin tại
nước Triệu!
Vì tình hữu nghị giữa 2 nước, mặt khác muốn tránh cảnh đao binh: Triệu Vương ra lệnh tổ
chức ngay cuộc chuyển giao Triệu Cơ và Triệu Chánh về nước Tần. Sau khi Triệu Cơ và Triệu
Chánh thoát khỏi biên giới nước Triệu, Tần Vương ra lệnh quân Tần lui binh. Tần Tương
Vương lập Triệu Cơ làm Hoàng Hậu và Triệu Chánh tức Tần Thỉ Hoàng lúc đó 12 tuổi làm Thái
Tử.
Năm 247 trước Công Nguyên, Tần Tương Vương mới làm Vua trị vì nước Tần được 3 năm,
Lã Bất Vi âm mưu với Triệu Cơ thuốc độc Tần Tương Vương. Sau khi nhà Vua mất, Tần
Doanh Chánh tức Tần Thỉ Hoàng lên ngôi Vua 13 tuổi. Tần Doanh Chánh Vương lên ngôi
phong Triệu Cơ làm Thái Hậu, Thừa Tướng Lã Bất Vi, Tướng Quốc gọi là Trọng Phụ như người
cha thứ 2 của mình. Vì Vua còn nhỏ tuổi, quyền hành bấy giờ tập trung trong tay Lã Bất Vi và
từ đây Thái Hậu và Thừa Tướng mặc tình thông dâm!!! Để tránh tai mắt Triều Thần, Lã Bất Vi
luôn luôn lấn áp Tần Doanh Chánh!
Năm 237 trước Công Nguyên, lúc đó Vua Tần 22 tuổi; Tần Thỉ Hoàng ra lệnh Lý Tư, Mông
Điềm làm cuộc động binh khôi phục quân quyền, tước hết quyền hành Thừa Tướng Lã Bất Vi
và buộc họ Lã tự sát. Từ đó, Tần Thỉ Hoàng mới bắt đầu điều hành việc Triều chính, phong Lý
Tư làm Thừa Tướng, Mông Điềm làm Đại Tướng.
Sau khi hoàn toàn tiêu diệt 6 nước: Hàn (230TCN) - Ngụy (225TCN) - Sở (CHU) (223TCN) - Yên,
Triệu (222TCN) và Tề (221TCN). Năm 221 trước Công Nguyên lúc đó Tần Vương 38 tuổi, Tần
Thỉ Hoàng thống nhất Trung Quốc, tự xưng là “Thỉ Hoàng Đế”.
TRỞ LẠI NĂM 222 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN:
Thái Tử Đan là Thái Tử của nước Yên, nguyên trước kia là bạn cũ Triệu Chánh (tức Tần Thỉ
Hoàng) khi cả 2 là con tin ở nước Triệu. Sau khi Thái Tử Đan thoát khỏi Triệu trở về Yên
Bang, Thái Tử Đan kết nạp và trọng dụng Phàn Ô Kỳ Lão Tướng; Vị Tướng này nguyên trước
kia là Tướng nhà Tần. Tần Thỉ Hoàng muốn loại trừ Phàn Ô Kỳ, lý do viên Tướng này biết rõ
xuất xứ Tần Thỉ Hoàng là không phải con của Tứ Sở Tần Tương Vương mà là con của Lã Bất
Vi.
Thái Tử Đan biết tham vọng của Tần Thỉ Hoàng sẽ gồm thâu 6 nước. Do đó Thái Tử Đan bí
mật tổ chức ám sát Tần Thỉ Hoàng trong niềm mong ước bảo vệ nước Yên của Thái Tử thoát
khỏi nanh vuốt nước Tần! Tráng sĩ Kinh Kha là người được Thái Tử Đan chọn lựa đặt niềm
tin thi hành kế hoạch thích khách! Đáp lại tấm lòng hào hiệp, ưu ái của Thái Tử Đan, Kinh Kha
tình nguyện sang Tần với nhiệm vụ hành thích. Trong chiều hướng đó, Phàn Ô Kỳ hy sinh
mạng sống tự cắt đầu làm lễ vật ra mắt Vua Tần. Kinh Kha như sứ giả nước Yên sang Tần
dâng lễ vật ra mắt Vua Tần: Đó là chiếc đầu của Phàn Ô Kỳ Lão Tướng và bức địa đồ Đốc
Cương của nước Yên. Lễ vật này là 2 lễ vật Tần Thỉ Hoàng mong ước; tạo cơ hội cho Kinh
Kha được phép vào Nội Điện yết kiến Tần Thỉ Hoàng để dâng lễ vật! Sứ giả nước Yên gồm có:
Kinh Kha và Tần Vũ Dương trong sứ mạng ám sát Tần Thỉ Hoàng.
DIỄN TIẾN CUỘC THÍCH KHÁCH
TRONG NỘI ĐIỆN HOÀNG ĐẾ TẦN THỈ HOÀNG: Sứ giả Kinh Kha trong tư thế quì
xuống: Muôn tâu Hoàng Thượng, Thần là Kinh Kha Sứ giả nước Yên, chúc Thánh Thượng...
Tần Thỉ Hoàng đáp: Chư Hầu Thống Trị. Yên Bang Thái Tử đã lẻn về cố quốc, Trẫm muốn đem
quân sang Yên chinh phạt!
Kinh Kha: Tiết có thần xin dâng lên 2 lễ vật ra mắt để cầu hòa. Lễ vật thứ nhất là thủ cấp của
Phàn Ô Kỳ lão Tướng!
Kinh Kha được phép đến gần Tần Thỉ Hoàng để dâng lên chiếc đầu Phàn Ô Kỳ Lão Tướng là lễ
vật thứ nhất. Tần Thỉ Hoàng liếc nhìn thủ cấp Phàn Ô Kỳ rất đắc ý.
Tần Thỉ Hoàng: Lão tặc đã hết hung hăng như thưở trước, Trẫm đã treo giá ngàn vàng nay thủ
cấp đã về tay ta! Còn lễ vật thứ 2!
Kinh Kha lấy bức địa đồ từ tay Tần Vũ Dương, đoạn, quì xuống và dâng lên Tần Thỉ Hoàng lễ
vật thứ 2:
Kinh Kha: Muôn tâu Hoàng Thượng, đây là lễ vật thứ 2, bức địa đồ Thành Đốc Cương nước
Yên.
Tần Thỉ Hoàng: Bảng đồ thành Đốc Cương à, đưa ngay!
Kinh Kha: Thần xin tuân chỉ!
Thời điểm này sắp đến giờ Kinh Kha hành thích, Tần Vũ Dương biến sắc, sợ hãi run rẩy...
Kinh Kha lo lắng cơ mưu bại lộ, nhanh nhẹn qùi xuống và trình tấu Tần Thỉ Hoàng rằng:
Muôn tâu Hoàng Thượng, Tần Vũ Dương sợ hãi, run rẩy vì khiếp sợ oai danh Bệ Hạ, xin
Thánh Thượng thứ tha!
Tần Thỉ Hoàng ngồi trên ngai vàng liếc nhìn bức địa đồ Đốc Cương của nước Yên để trên bàn
trước mặt nhà Vua. Kinh Kha từ từ mở bức địa đồ Đốc Cương để giải thích những vị trí cơ
cấu phòng thủ quân sự của nước Yên... Đoạn, nhanh như chớp mắt, Kinh Kha lao mình đến
phía Tần và nắm được tay áo của Tần Thỉ Hoàng, tay mặt cầm "Thanh Chủy Thủ" tẫm thuốc
độc cực mạnh cuốn dấu trong bức địa đồ Đốc Cương; Kinh Kha xử dụng Thanh Chủy Thủ đâm
thẳng vào Tần Thỉ Hoàng, chỉ cần một vết thương xước nhẹ sẽ kết liễu sinh mạng Tần Vương.
Nhưng, sinh mạng của Hoàng Đế Tần không dễ kết thúc... Tần Thỉ Hoàng đứng phắt dậy,
phản ứng cấp thời, vung mạnh tay áo rách toạc, mặt khác tung ra ngọn đá song phi... Kinh
Kha buông tay áo của Tần lùi về phía sau để tránh ngọn đá; nhờ đó Tần Thỉ Hoàng thoát khỏi
tay Kinh Kha. Kinh Kha rượt đuổi theo Tần và phóng Thanh Chủy Thủ trong niềm tin kết liễu
Vua Tần, nhưng Thanh Chủy Thủ phóng trật cấm vào cột nội Điện. Tần Thỉ Hoàng loay hoay
không rút gươm được vì "Áo Long Bào" rộng và vướng; "Gươm Dài" vướng võ kiếm! Triệu
Cao đứng gần đó, hối hả nhắc Tần Thỉ Hoàng rằng: Tâu Hoàng Thượng, đẩy võ kiếm về phía
sau, tuốt gươm kết liễu tên thích khách!
Lúc này, Tần Thỉ Hoàng mới hoàn hồn, tuốt gươm chém Kinh Kha đứt chân, đứt tay... Mình
mẩy Kinh Kha máu me đẫm ướt và quị xuống! Tần Thỉ Hoàng hăng máu, xử dụng gươm đâm
thẳng vào ngực Kinh Kha. Thời điểm này, Ngự Lâm Quân mới được phép tiến lên phanh thây
Kinh Kha và Tần Vũ Dương! Theo lệnh của Tần Thỉ Hoàng: tất cả quân hầu và Ngự Lâm Quân
không được phép mang vũ khí gươm giáo vào Nội Điện!
Sau cuộc thích khách, Tần Thỉ Hoàng tức giận, lệnh Đại Tướng Vương Tiễn và Mông Điềm
đem đại quân tiêu diệt nước Yên, kế đến là Triệu. Tần Thỉ Hoàng chỉ thị và ra lệnh cho các
Tướng bắt sống Thái Tử Đan đem về Tần trị tội, đó là năm 222 trước Công Nguyên.
Năm 221 trước Công Nguyên, Đại Tướng Vương Tiễn và Mông Điềm chỉ huy đại quân tiêu
diệt nước Tề. Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng gồm thâu Lục Quốc, khai Nguyên Tuyên Quang Lập
Quốc và thống nhất Trung Nguyên Trung Quốc.
GIAI ĐOẠN CUỐI CỦA MỘT HOÀNG ĐẾ:
Tần Thỉ Hoàng có 20 người con, con lớn nhất là Phù Tô. Phù Tô nghịch ý và nhiều lần ngăn
can cha. Do đó Tần Thỉ Hoàng ghét, đày lên miền Bắc để giám sát Đại Tướng Mông Điềm chỉ
huy và xây dựng Trường Thành ở Thượng Quận.
Cũng nên nhắc lại, sau vụ Kinh Kha ám sát Hoàng Đế Tần bất thành, Triệu Cao có công nhắc
nhỡ Tần tuốt gươm bị vướng võ. Từ đó, Triệu Cao được Tần Thỉ Hoàng ban thưởng vàng bạc,
trọng dụng và cắt đặt lên địa vị dạy học Hồ Hợi. Hồ Hợi là con thứ 18 trong 20 người con
được Tần Thỉ Hoàng thương yêu, nên thường được cho đi theo nhà Vua. Những người con
khác không ai được theo Tần Thỉ Hoàng. Đến năm 49 tuổi, năm 210 trước Công Nguyên, khi
nhà Vua đi kinh lý về phía Tây đến bến Bình Nguyên thì Tần Thỉ Hoàng lâm bệnh thổ huyết.
Khi bệnh qúa nặng, Tần Thỉ Hoàng viết thư có dấu ấn của Hoàng Đế gửi Công Tử Phù Tô, nói
rằng: Con về Hàm Dương gấp dự đám tang và chôn cất ta ở đây. Tần Thỉ Hoàng qua đời ở
Bình Đài, thuộc đất Sa Khâu, nhằm ngày Bính Dần, tháng 7 năm 210 trước Công Nguyên.
Tháng 9 thì chôn tại Ly Sơn. Năm 210 trước Công Nguyên, Công Tử Hồ Hợi khi ấy 22 tuổi nối
ngôi lấy hiệu là Hoàng Đế Tần Nhị Thế.
Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng làm Vua kéo dài 27 năm kể từ khi ông thật sự nắm quyền điều
khiển Triều Chính năm 237 trước Công Nguyên và ông thọ 49 tuổi. Tần Thỉ Hoàng trở thành Vị
Hoàng Đế đầu tiên của Vương Triều phong kiến thống nhất đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.
Một vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu sử học Trung Quốc thường đặt ra là: Tần Thỉ Hoàng có
công hay có tội? Nhà sử học Tư Mã Thiên (145 trước Công Nguyên - 90 trước Công Nguyên)
đời Hán là người đầu tiên đánh giá "Công và Tội" của Tần Thỉ Hoàng, ông viết: Tần Thỉ Hoàng
lấy nhiều điều bạo ngược để gồm thâu lục Quốc và cai trị thiên hạ, nhưng thời thế có nhiều
thay đổi, công lao của Tần Thỉ Hoàng rất lớn.
Tư Mã Thiên vạch trần nhiều tội ác tàn bạo và khát máu của Tần Thỉ Hoàng như xa hoa, lãng
phí; xây cất nhiều đền đài, lăng tẩm, cung thất, bắt 70 ngàn người xây dựng Cung A Phòng,
đem màng trướng, trống chiên cùng gái đẹp đưa vào Cung phục dịch thú tính. Hoàng Đế đến
đâu nếu có kẻ nào tiết lộ nhà Vua ở đó thì bị tội chết!
Một tội ác tày trời của Tần Thỉ Hoàng mà Tư Mã Thiên cực lực lên án, đó là hành động đốt
sách, chôn nho sĩ, chôn sống 460 trí thức nhà Nho tại Hàm Dương, nghe theo lời Thừa Tướng
Lý Tư, Tần Thỉ Hoàng ra lệnh đốt hết sách sử, trừ sách sử của nhà Tần. Ai cất dấu Kinh Thư,
Kinh Thi, sach vỡ thì đem nạp các quan Úy, quan ở địa phương để thiêu hủy đi; ai dám bàn về
Kinh Thư, Kinh Thi thì xử chém giữa chợ, lấy đời xưa mà chê đời nay thì xử chém cả họ.
NHẬN ĐỊNH VÀ BÌNH LUẬN VỀ CÁI TỘI & CÔNG CỦA TẦN THỈ HOÀNG XUYÊN QUA LỜI NHẬN
XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA NHÀ SỬ HỌC TƯ MÃ THIÊN:
CÁI TỘI:
Gió Ngàn Phương tác giả đề tài bài viết Đánh Giá Khách Quan Công & Tội Của Tần Thỉ Hoàng
Như Sau: Tần Thỉ Hoàng là Vị Hoàng Đế xa hoa, lãng phí xây cất nhiều đền đài, cung điện...
Xây Cung A Phòng tuyển chọn 3000 Cung Nữ trinh trắng thường xuyên phục dịch thú hoan
dâm. Tần Thỉ Hoàng tàn ác có thể giết hàng ngàn người một lúc như chôn sống sĩ phu và đốt
sách; sách sử của các nước trước kia là chư hầu như: Hàn, Ngụy, Sở (tức Chu, Zhao Dynasty),
Yên, Triệu, Tề để thực thi một chính sách; một Quốc Sách gồm thâu lục quốc trong chiều
hướng thống nhất Trung Nguyên trong lịch sử Trung Quốc.
CÁI CÔNG: LÝ DO ĐỐT SÁCH VÀ CHÔN SỐNG SĨ PHU
Trước đời Tần Thỉ Hoàng, từ Hàm Dương trải rộng phía Đông, phía Tây, phía Bắc Trung
Nguyên gồm có 1100 nước, 800 nước, 100 nước, 14 nước, 7 nước đến còn 1 nước. Trong 9
năm từ 230 trước Công Nguyên đến 221 trước Công Nguyên, Tần Thỉ Hoàng đã hoàn thành
sứ mạng lịch sử thống nhất Trung Nguyên Trung Quốc từ 7 nước đến còn một nước. 7 nước
như: nước Tần, nước Hàn, nước Ngụy, nước Sở, nước Yên, nước Triệu, nước Tề.
Trở ngại lớn khó khăn nhất là ngôn ngữ, văn tự các nước gồm 2000 thứ tiếng nói; rồi 3000
thứ tiếng nói khác nhau sau khi gồm thâu thêm phần đất mới Bách Việt. Tình trạng khác biệt
tiếng nói, văn tự đã gây khó khăn trở ngại trong việc cai trị, phát triễn kinh tế và văn hóa.
Tần Thỉ Hoàng chủ trương cải cách chữ viết, thay đổi cách dạy học cũ, qui định chữ "Tiểu
Triện" làm tiêu chuẩn cho văn tự Trung Quốc, sau đó lại xuất hiện kiểu chữ "Lệ Thư" và 2 kiểu
chữ này kết hợp lại thành chữ "Gủa Yụ" tức Mandarin (tiếng Quang Thoại hoặc Phổ Thông).
Vạn Lý Trường Thành và chữ "Gủa Yu" Mandarin là công trình lịch sử, văn hóa gắn liền với
tên tuổi và công lao của Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng.
Sự cải cách và xử dụng chữ Gủa Yu" Mandarin để thay thế chữ khác đã va chạm tư tưởng các
trí thức nguyên trước kia là các nước chư hầu và bị sự chống đối rất mãnh liệt của các sĩ phu
đương thời nhất là tại Hàm Dương Kinh Đô của Tần. Tần Thỉ Hoàng áp dụng biện pháp cứng
rắn như: đốt sách, chôn sống 460 trí thức nhà Nho không chịu thi hành chính sách đổi mới.
Chữ Gủa Yu tức Mandarin của Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng được khai sinh vào năm 216 trước
Công Nguyên là chữ viết và là ngôn ngữ Mandarin độc đáo đã được các Triều đại kế tiếp
như: Hán, Jin (Nhà Kim), Nam Triều, Bắc Triều, Sui, Tong tức Đường (Tang Chạo), 5 Triều Đại -
10 Vua, Khitan&Lao, Nam Song, Bắc Song, Nguyên (Mông Cổ), Minh, Thanh, Hiện Đại - Trung
Quốc diễn đạt tư tưởng đến đối tượng để cai trị Trung Nguyên Trung Quốc. Hiện nay Trung
Quốc có trên 5000 thứ tiếng nói khác nhau hiểu qua một thứ tiếng, một thứ chữ: đó là chữ
Mandarin Quốc Ngữ duy nhất tiêu biểu cho nền văn học của Trung Quốc!
Thời kỳ trước khi Tần Thỉ Hoàng thống nhất Trung Quốc, đơn vị ruộng đất, kích thước đường
sá cũng như luật lệ, áo mũ của các nước chư hầu khác nhau. Tần Thủy Hoàng là Vị Hoàng Đế
có tinh thần tiến bộ đổi mới; ông chủ trương thay đổi đồng nhất tất cả, xây đắp sửa sang và
mở rộng đường sá sao cho phù hợp thống nhất cở xe, khởi công xây cầu, đắp mương, mở
rộng giao thông khắp cả nước. Ông xóa bỏ hệ thống tiền tệ và đo lường cũ lỗi thời, xây dựng
một kiểu cách tiền tệ và đo lường mới phù hợp với đời sống thích nghi đối với nền kinh tế
thực thi thời bấy giờ.
Nhiều sử gia Trung Quốc xem Tần Thỉ Hoàng là một bạo Chúa, bạo ngược, tàn ác khát máu.
Nhưng các nhà nghiên cứu lịch sử của Trung Quốc hiện đại cho rằng Thương Ương và Tần Thỉ
Hoàng là 2 nhà cải cách đầu tiên, lớn nhất của Trung Quốc thời phong kiến. Họ đánh giá cao
về cuộc cách mạng văn hóa với chính sách cải cách lịch sử và ca tụng vai trò của Tần Thỉ
Hoàng có công lớn thống nhất Trung Nguyên Trung Quốc. Dưới triều đại phong kiến, Hoàng
Đế có quyền lực cao nhất, các Tổng Đốc, các quan Úy địa phương đều phân chia các quan
chức nắm giữ các việc lớn như: binh lính, hình phạt, tiền bạc và lúa gạo. Các Tổng Đốc, quan
chức địa phương có nhiệm vụ thâu góp tiền bạc, lúa gạo, vàng bạc, châu báu nộp về Triều
Đình Trung Ương. Tần Thỉ Hoàng tổ chức một thể chế tập quyền của chủ quyền chuyên chế.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng và sử học hiện đại Tần Thỉ Hoàng là
người có công lớn. Đó là một nhà chính trị lỗi lạc của giai cấp địa chủ mới đang lên; ông tôn
trọng pháp gia, chống lại tư tưởng Khổng Tử, coi trọng những cái hiện tại cải cách, xem nhẹ
những cái cổ xưa, kiên trì cải cách, ông cực lực bài trừ sự thụt lùi, chậm tiến, trì trệ, lạc hậu,
bảo thủ...
Thời đại Tần Thỉ Hoàng là cuối chiến quốc, từ năm 237 trước Công Nguyên cho đến năm 221
trước Công Nguyên, việc cải cách xã hội phát triễn mạnh. Trong bối cảnh đó, Tần Thì Hoàng
trong vai trò lịch sử ông kiên quyết trấn áp các thế lực đang muốn phục hồi chế độ nô lệ. Ông
trọng dụng những người theo học thuyết Pháp gia, lãnh đạo cuộc đấu tranh tiến bộ nhằm
thống nhất Trung Quốc từ 7 nước đến còn một nước!
SAU KHI TẦN THỈ HOÀNG VIÊN TỊCH, SỐ PHẬN BI ĐÁT CÁC VIÊN TƯỚNG CỦA TẦN THỈ
HOÀNG:
Trong 7 năm lên ngôi từ 247 trước Công Nguyên đến 240 trước Công Nguyên, ngoài trọng
phụ là Thừa Tướng Lã Bất Vi, Tần Thỉ Hoàng còn có quan văn Lý Tư, quan võ Mông Điềm.
Mông Điềm là cháu nội của Đại Tướng Mông Ngao tử trận trên chiến trường đánh nhau với
quân Triệu từ đời Tần Chiêu Vương.
Mông Điềm võ nghệ siêu quần, sức mạnh vô địch, tính tình hung bạo. Sau khi Tần Thỉ Hoàng
lên ngôi Hoàng Đế và thật sự nắm giữ quyền hành, điều khiển Triều Chính, năm 237 trước
Công Nguyên nhà Vua phong cho Lý Tư làm Thừa Tướng, Mông Điềm quân hàm Đại Tướng
chỉ huy quân đội nhà Tần. Quân sĩ nhà Tần khiếp sợ Mông Điềm vì tính hung bạo, sức mạnh
và võ nghệ siêu quần được coi như đức tính cần thiết của viên Tướng cầm quân, uống máu,
ăn thịt sống, thiêu hủy thành trì, chôn sống quân thù là chuyện bình thường!
Trong cuộc chiến tranh tiêu diệt và gồm thâu 6 nước: Hàn, Ngụy, Sở, Yên, Triệu, Tề, Tần Thỉ
Hoàng rất tin tưởng Mông Điềm. Mông Điềm tỏ ra là viên dũng Tướng đầy mưu lược, dụng
binh thần tốc, kế hoạch hành quân, phân chia nhiệm vụ rõ ràng, trường hợp xử trí... Năm
214 trước Công Nguyên, Tần Thỉ Hoàng chỉ thị Mông Điềm như Tư Lệnh chiến trường chỉ huy
các đạo binh phía Bắc sông Hoàng Hà. Mông Điềm điều động 30 ngàn quân vượt sông Hoàng
Hà tiêu diệt Hung Nô, lấy Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giải; xây dựng Trường Thành đánh đuổi
người Nhung. Sau đó Mông Điềm thống lãnh 80 ngàn dân phu xây dựng Trường Thành ở phía
Bắc gồm các thành phần như sau: quan không thanh liêm bị đày, những nho sĩ không thi
hành chính sách đổi mới và bọn Hung Nô, đầu đen... Vùng đất Mông Điềm chiếm đóng, dân
vận, bình định thuộc Lan Châu, Cam Túc, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Bắc...
Tần Thỉ Hoàng cho thi hành luận thuyết của Thừa Tướng Lý Tư dùng luật hình pháp khắc
nghiệt để cai trị nước, bài trừ Nho gia tiêu cực có tư tưởng yếm thế Nho giáo. Tần Thỉ Hoàng
đốt sách Bách gia chu tử, chôn sống 460 trí thức Nho sĩ tiêu cực ở chợ Hàm Dương, đày
nhiều Nho sĩ ngâm thơ vịnh phú, ăn không, nằm rồi đi xây Trường Thành. Thái Tử Phù Tô là
trưởng nam của Tần Thỉ Hoàng dâng sớ lên Tần can ngăn: Nay thiên hạ mới bình định, bọn
Hung Nô, đầu đen phương xa vẫn chưa theo ta. Nay Hoàng Thượng dùng pháp luật cứng
rắn, nặng nề để trị họ; thì thần sợ thiên hạ không yên và tiếp tục chống lại, thần xin Hoàng
Thượng cứu xét và nghĩ lại điều đó và khoan dung cho họ. Lời can ngăn đó chẳng những đã
không hiệu quả còn khiến cho Tần Thỉ Hoàng nổi giận, đày Phù Tô qua bên kia bờ Bắc sông
Hoàng Hà để giám sát Mông Điềm trong công việc xây Trường Thành. Và cũng chính lời can
ấy của Thái Tử Phù Tô đã khiến cho Thừa Tướng Lý Tư không vui và có ác cảm với Thái Tử,
dẫn đến việc Lý Tư âm mưu với Triệu Cao phế bỏ ngôi Thái Tử. Mặt khác, Lý Tư, Triệu Cao
phò công tử Hồ Hợi lên ngôi Hoàng Đế sau này.
Năm 210 trước Công Nguyên, Tần Thỉ Hoàng ngọa bệnh thổ huyết ngay trên đường kinh lý.
Tần Thỉ Hoàng viết thư gọi Phù Tô về Hàm Dương với ý định truyền ngôi cho Phù Tô, nhưng
Tần Thỉ Hoàng chết trên đường về Kinh Đô Hàm Dương. Lý Tư cùng Triệu Cao âm mưu viết
giả chúc thư phò Công tử Hồ Hợi lên ngôi Hoàng Đế. Âm mưu đó, Hồ Hợi, Lý Tư, Triệu Cao cả
3 chỉ sợ Phù Tô, Mông Điềm. Vì vậy mới lên ngôi xong, Triệu Cao xúi Hồ Hợi làm chiếu chỉ giả
nói là Tần Thỉ Hoàng đưa ra Thượng Quận, khiển trách Phù Tô và Mông Điềm. Chiếu Chỉ kể
tội Phù Tô từ ngày giám sát công việc xây trường thành đã không tiến quân được về phía
trước, gây nhiều tổn thất, tốn kém và không lập được công lao gì. Phù Tô còn bị khép vào tội
phỉ báng Tần Thỉ Hoàng. Nhà Vua cấp cho Phù Tô thanh kiếm để tự xử. Chiếu chỉ còn vạch tội
Mông Điềm không biết sửa chửa những sai lầm của Phù Tô, biết mưu toan của Phù Tô nhưng
không trình tấu với Triều đình. Chiếu chỉ buộc Mông Điềm tự chọn cái chết và giao binh
quyền lại cho Phó Tướng Vương Ly.
Nhận chiếu chỉ, Phù Tô khóc và tự sát ngay mặc dù Mông Điềm trăm lời ngăn cản. Riêng
Mông Điềm ông vẫn không chịu tự sát vì tin tưởng vào lòng trung thành và những gì ông đã
làm cho Tần Thỉ Hoàng. Bức tử được Phù Tô, Tần Nhị Thế giết luôn Đại Tướng Mông Nghị, 12
công tử bị giết phanh thay ở chợ Hàm Dương, và 10 Công Chúa bị xé xác ở Đất Đỗ. Nhị Thế ra
lệnh cho Triệu Cao bắt hết 3 họ của Mông Điềm. Đại thần Tần Tử Anh (là vai em của Tần Thỉ
Hoàng) dâng lời can: Họ Mông vốn dòng dỏi Đại Thần nay Hoàng Thượng mới trị nước mà
trừ bỏ Đại thần e lòng dân ly tán. Tần Nhị Thế không nghe, ra lệnh chém hết 3 họ nhà Mông
Điềm. Nhận được tin đau thương đó thuộc hạ của Mông Điềm xúi ông làm phản, đem binh
đánh vào Hàm Dương. Nhưng Mông Điềm than: Họ nhà ta có công 3 đời, ta chỉ huy 30 ngàn
quân đủ sức tạo phản. Nhưng thôi ta đành chịu chết để khỏi mất tiếng trung liệt. Mông Điềm
tự sát trước năm 207 trước Công Nguyên. Tần Nhị Thế, Lý Tư, Triệu cao nghe Mông Điềm
chịu chết, cả 3 mừng! Tần Nhị Thế ra lệnh bắt hết con cháu Mông Điềm ở Thượng Quận đày
qua đất Thục.
Cuộc đời Mông Điềm sớm tàn vì sự thanh trừng khắc nghiệt của tập đoàn thống trị do Tần
Nhị Thế cầm đầu. Lịch sử Trung Quốc vẫn xem Đại Tướng Mông Điềm là một danh Tướng đời
Tần, tên tuổi đứng ngang hàng với Mông Ngao, Vương Tiễn, Chương Hàm. Mà không riêng vì
nhà Tần bạo ngược mới thanh trừng các Tướng Lãnh khai quốc, công thần. Ngay đến nhà
Hán, một Triều Đại được ca ngợi là nhân đức, các Tướng lãnh vào sanh ra tử với Hán Cao Tổ
Lưu Bang vẫn bị thanh trừng khốc liệt. Hàn Tín, Anh Bồ, Bành Việt, có người nào được sống
để hưởng vinh hoa phú quí của nhà Hán?
NHẬN XÉT VÀ BÌNH LUẬN: Thừa Tướng Lý Tư là bậc trí thức uyên thâm, trải nghiệm, tài
giỏi; là một nhà văn học cao kiến, có tầm nhãn giới sâu rộng. Ông đã giúp Tần Thỉ Hoàng
thống nhất đo lường, thống nhất "Văn Tự", xử dụng "Chữ Viết" và ngôn ngữ "Gua Yu"
Mandarin diễn đạt tư tưởng đến đối tượng để cai trị Trung Nguyên Trung Quốc. Ông cũng là
một nhà chính trị lỗi lạc có công rất lớn giúp nhà Tần khai nguyên tuyên quan lập quốc mở
mang thế kỷ quang vinh về quân sự, chính trị và văn học chưa từng có trong lịch sử Trung
Quốc. Nhưng sau cái chết bức tử Phù Tô, Mông Điềm, đưa nhà Tần suy vong, mạt vận! Trời
xui, đất khiến thay đổi ông không còn là Vị Thừa Tướng thấy xa, hiểu rộng. Mặt khác, biến
ông thành kẻ tầm thường đồng lõa với Triệu Cao một tên hoạn quan, loạn thần tặc tử gieo
rắc biết bao tội ác tày Trời!
Vào những ngày cuối cùng cuộc đời, Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng lăn lộn, tranh đấu với thần
chết trong căn bệnh thổ huyết. Mặc dù đau yếu, nhưng tinh thần ông rất minh mẫn, sáng
suốt để quyết định "Đúng". Mặc dù trước kia ông ghét Phù Tô đã can ngăn và hành động trái
ý ông. Nhưng trước giờ nhắm mắt, ông sáng suốt nhận định viết chúc thư để lại đưa Phù Tô
nối tiếp ngôi Vua.
Nhận định về Thừa Tướng Lý Tư: ông không bệnh hoạn và còn khỏe mạnh hơn Tần Thỉ
Hoàng, nhưng những ngày còn lại của cuộc đời, ông mù quán và mất hết lương tri, không
còn sáng suốt của Vị Thừa Tướng trải nghiệm, cao kiến. Ông hành động sai lầm toa rập với
gian thần Triệu Cao đi ngược lại quyết định tối hậu của Tần Thỉ Hoàng. Ông và Triệu Cao lập
chúc thư giả phò Công Tử Hồ Hợi lên ngôi Hoàng Đế. Sau đó, gian thần Triệu Cao hảm hại, ông
bị xử chém và đầu của ông bêu trước cổng thành nhà Tần; cả dòng họ Lý cùng chung số phận
như ông bị xử chém 3 đời!
CHÚNG TA HÃY NHẬN XÉT 3 NHÂN VẬT LỊCH SỬ:
Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng - Thái Tử Phù Tô - Hoàng Đế Tần Nhị Thế
Tần Thỉ Hoàng bạo ngược hung tàn tập trung 80 ngàn dân phu xây dựng Trường Thành để
ngăn chận Hung Nô ở phương Bắc, bảo vệ biên cương; chôn sống Nho Sĩ có mục đích thực
hiện một chính sách cai trị đổi mới; thực thi một Quốc Sách trong chiều hướng thống nhất
Trung Nguyên Trung Quốc!
Thái Tử Phù Tô là con trưởng của Hoàng Đế Tần Thỉ Hoàng, ông là Thái tử có tấm lòng quảng
đại từ tâm, đức độ, hiền lành, giàu lòng nhân ái, thương người, cảm nhận và ban bố tình
thương. Ông dâng sớ can ngăn cha (Tần Thỉ Hoàng) ra lệnh đốt sách và chôn sống 460 Nho sĩ
không chịu thi hành chính sách cải cách thống nhất chữ viết và thống nhất ngôn ngữ. Trường
hợp Thừa Tướng Lý Tư thi hành chúc thư của Tần Thỉ Hoàng phò Phù Tô lên ngôi Hoàng Đế
chắc chắn nước Tần không lâm vào cảnh suy vong mạt vận, giết hại tôi trung, nồi da xáo thịt,
hậu quả đưa đến sụp đổ nhà Tần!
Công Tử Hồ Hợi tức Hoàng Đế Tần Nhị Thế là một ông Vua bạo ngược, hung tàn, khát máu
giết hại trung thần và ra lệnh thảm sát anh em trong dòng tộc là để thỏa mãn thú tính; củng
cố quyền lực cá nhân! Sau khi lên ngôi, Tần Nhị Thế tỏ ra là một ông Vua ngu dốt, bất tài,
đắm chìm trong tửu sắc, bạo ngược, gieo rắc biết bao tan thương, tội ác, oán cừu sau cái
chết của các viên Tướng tài, tôi trung như: Mông Điềm, Mông Nghị, chém hết 3 họ nhà
Mông Điềm; Nhị Thế ra lệnh sát hại 12 Công Tử bị giết phơi thay ở chợ Hàm Dương; 10 Công
Chúa bị xé xác ở Đất Đỗ, gây hoang mang chia rẽ Triều Thần. Nhất là trong hàng ngũ binh lực
nhà Tần, gian thần Triệu Cao lộng quyền hảm hại những Vị Tướng tài có công lớn đối với nhà
Tần. Đây là cơ hội tốt cho Hạng Võ, Lưu Bang và chư hầu 6 nước trước đây đã bị Tần Thỉ
Hoàng tiêu diệt. Nay, một sớm một chiều, họ tập trung lại binh mã nổi lên phát động phong
trào chống lại nhà Tần như dầu sôi lửa bỗng ngày càng mãnh liệt!
Triệu Cao là một gian thần hung ác, thâm độc, vì muốn thay thế Lý Tư trong chức vụ Thừa
Tướng, Triệu Cao trình tấu Tần Nhị Thế rằng: Lý Tư mưu đồ tạo phản, hậu qủa đưa đến cái
chết cho Thừa Tướng Ly Tư dưới lưỡi dao oan nghiệt của đao phủ thủ bêu đầu ông tại cổng
thành và cả dòng tộc Lý Tư bị xử chém 3 đời! Lý Tư bị xử chém năm 208 trước Công Nguyên
lúc đó 60 tuổi!
Trong chức vụ Thừa Tướng thay thế Lý Sư, Triệu Cao áp bức Đại Tướng Chương Hàm một
danh tướng vào sanh ra tử có công lớn với nhà Tần. Hậu qủa dẫn đến đường cùng, Chương
Hàm đem binh lực nhà Tần qui hàng Sở Bá Vương Hạng Võ chống lại nhà Tần! Triệu Cao còn
mưu đồ tạo phản, cướp đoạt ngôi Vua; sai Diễm Nhạc ép Tần Nhị Thế tự sát. Nhưng trước
phản ứng của các Tướng chỉ huy quân đội nhà Tần: Triệu Cao sợ các Tướng phẫn nộ, lập Tần
Tử Anh là em của Tần Thỉ Hoàng lên ngôi Hoàng Đế sau cái chết của Tần Nhị Thế. Sự nghiệp
của ông Vua tàn ác, bạo ngược Tần Nhị Thế chỉ kéo dài 3 năm. Nhị Thế lên ngôi 210 trước
Công Nguyên đến giữa tháng 8 năm 207 trước Công Nguyên, bị Triệu Cao bức tử, thọ 24 tuổi!
Tần Tử Anh lên ngôi Hoàng Đế cuối tháng 8 năm 207 trước Công Nguên, làm Vua chỉ được 46
ngày. Sau khi nối tiếp ngôi Vua, Tần Tử Anh kết nạp các trung thần và lập mưu khai trừ gian
thần Triệu Cao ở Trai Cung! Tần Tử Anh tự tay đâm chết Triệu Cao trong kế hoạch lừa tên
gian thần vào bẫy rập!!! Xuyên qua tập đoàn thống trị do Tần Hồ Hợi và Triệu Cao lãnh đạo
đã đem đến hậu quả làm suy yếu quân đội nhà Tần. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho
các chư hầu: Tướng Xiang Yu tức Hạng Vũ, thuộc Triều Đại Nhà Chu, mà sử Việt Nam chuyển
ngữ là Sở Bá Vương Hạng Vũ; Liu Bang (Lưu Bang) có lý do nêu cao chính nghĩa, thâu phục
nhân tâm, nâng cao tinh thần binh sĩ chiến đấu chống lại nhà Tần. Hạng Vũ điều động binh
lực chiếm Kinh Đô Hàm Dương, giết Hoàng Đế Tần Tử Anh, đốt phá Cung A Phòng. Đây là
khúc quanh lịch sử, biến cố chính trị đen tối nhất của Triều Đại Tần Nhị Thế (Hồ Hợi), Triệu
Cao làm sụp đổ nhà Tần! Sau đó Hán Cao Tổ Lưu Bang đánh bại Xiang Yu tức Sở Bá Vương
khai nguyên tuyên quang lập Quốc Triều Đại Hán năm 206 trước Công Nguyên!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét