Truyện ngắn
CUÔC TÌNH
XÓT XA
ĐIỆP-MỸ-LINH
Trong ánh nắng mong manh của một
buổi chiều, Bảo-Trân và Phong đều cảm thấy buồn buồn cho nên không nói năng chi
nữa, chỉ đi chầm chậm bên nhau, theo triền dốc, về hướng bờ Hồ-Xuân-Hương.
Mặt hồ tĩnh lặng. Nhưng từ tâm trạng bất an
của lòng mình, Bảo-Trân nghĩ rằng sự tĩnh lặng đó chỉ để che dấu những đột biến
âm thầm. Bất chợt Bảo-Trân quay lui, ngẫng nhìn lên ngọn đồi sau chợ Hòa-Bình,
như có ý tìm lại vết tích ngôi nhà xưa của Ngoại.
Nhìn ngôi biệt thự có hai hàng hồng dọc theo
con dốc nhỏ, Bảo-Trân tưởng như nàng có thể thấy được đứa bé gái mặc áo đầm
trắng, mang giày đỏ, chiếc nơ cài trên mái tóc bum-bê cũng màu đỏ, đang níu tay
Ngoại, đòi đi mua kẹo kéo. Như mọi hôm, Ngoại bảo cậu Út, khoảng hơn mười tuổi,
gọi chú tài lái xe đưa hai cậu cháu đi xuống phố mua kẹo kéo.
Ðộng từ “xuống phố” nghe có vẻ xa, nhưng
chiếc Traction đen chỉ chạy chầm chậm
xuôi triền dốc, qua hai khúc quanh ngặt là đến đường nhựa, ngay sau chợ Hòa-Bình.
Tuy chợ đã tan từ lúc xế, chỉ còn lưa thưa mấy gánh hàng rong quanh mấy sạp
hàng xén trong nhà lồng chợ, chú tài cũng vẫn cho xe chạy thật chậm men theo
đoạn đường ngắn phía sau chợ để ra đoạn đường dài; đoạn đường này ngăn cách chợ
Hòa-Bình và mấy căn phố lầu có nhiều tủ kính lớn để trưng bày những chiếc áo
lạnh và những chiếc khăn quàng cổ, đan tay, màu sắc rực rỡ.
Ðến gần dốc Minh-Mạng, chiếc xe đậu sát vào
lề đường cho cậu bé bước ra, tiến về phía nhóm trẻ con đang vây quanh ông Tàu
già bán kẹo kéo.
Khi cậu bé trở lại xe, tay cầm mẫu kẹo kéo,
đứa bé gái vỗ hai tay vào nhau, gương mặt rạng rỡ. Ðón nhận mẫu kẹo từ tay
người cậu xong, đứa bé lại vòi vĩnh: “Cậu
cho em xuống ngồi chỗ bậc cấp coi Ba Má đi xe đạp, nhen, cậu”. Cậu bé giả
vờ nghiêm nét mặt, mắt lườm lườm để thị oai với cháu: “Mày cứ lộn xộn, nhõng nhẽo không hà. Chiều nào cũng bắt tao dẫn đi mua kẹo kéo, rồi lại đòi tới bậc cấp
ngồi, để tối về mày bị sổ mũi cho tao bị la, hả?” Thấy đứa bé gái rơm rớm
nước mắt, môi trề ra như sắp khóc, cậu bé vừa mở cửa ngồi vào băng sau vừa
cười: “Cho tao cắn một miếng kẹo kéo thì
tao cho đi.” Ðứa bé gái dấu mẫu kẹo sau lưng, lắc đầu. Cậu bé năn nỉ: “Cho cậu cắn một tý thôi, rồi cậu cho đi.”
Ðứa bé gái đưa mẫu kẹo ra phía trước, ngắm nghía rồi bậm môi, lắc đầu. Người
cậu che mặt, giả vờ khóc. Ðứa bé nhìn cậu bằng đôi mắt buồn hiu, rồi đưa mẫu
kẹo cho cậu: “Nè, em cho cậu cắn miếng đó;
mà cậu cắn chút xíu thôi, nhen.”
Dòng ý tưởng của Bảo-Trân vừa đến đây, Phong
vô tình tiếp nối câu chuyện lúc nãy:
- Em có biết là trong suốt mấy mươi năm qua
lòng anh ân hận biết dường nào không, Bảo-Trân?
Bảo-Trân nhìn Phong như thể câu nói của chàng
tối nghĩa. Trong khối ký ức đặc quánh của nàng, hình ảnh rõ nét nhất của Phong
là những mùa Hè Phong cùng mấy “ông” sinh viên từ Saigon lên nghỉ Hè tại ngôi
biệt thự của người chú, đối diện với ngôi nhà lầu, nơi Bảo-Trân sống sum vầy
với gia đình Dì Dượng Mười, trên đường Phan-Ðình-Phùng, gần rạp xi-nê
Ngọc-Hiệp. Những khi Bảo-Trân cùng các bạn chơi nhảy giây, đánh thẻ, chơi ô,
hoặc nhảy lò cò nơi khoảng sân hẹp trước nhà, Phong thường kín đáo ngắm nhìn,
Bảo-Trân không hề biết. Những buổi tối, sau khi học bài xong, Bảo-Trân ôm mandoline tập đàn hoặc cùng chị em đến
rạp Ngọc-Hiệp mua bắp nướng, hay xin tờ chương trình xi-nê, cũng không thiếu
ánh mắt quan sát âm thầm của Phong. Chỉ ngần ấy thôi chứ đâu có chi tội lỗi mà
Phong bảo chàng ân hận?
- Tại sao anh lại ân hận? Anh ân hận điều
chi?
- Anh ân hận vì mấy mươi năm qua anh đã không
lo được cho cuộc đời của em.
- Nhưng đó đâu phải là lỗi của anh.
- Lỗi của anh, vì anh không hiểu sự việc cho nên
anh đã tự ái, không trở lại tìm em. Bẵng đi một thời gian dài, sau khi ra
trường và trước khi về phục vụ trong quân chủng Thủy-Quân Lục-Chiến, anh trở
lại đây thì hay tin em cùng gia đình đã dời về Nhatrang.
Cả hai lại rơi vào sự im lặng buồn bã. Một
lúc sau, Phong có vẻ đắn đo:
- Tại sao cho đến bây giờ mà em cũng vẫn còn
nghi ngờ tình yêu của anh, Bảo-Trân?
Tình yêu đầu đời đã lưu lại những tỳ vết xấu
xí trong tim Bảo-Trân, vì vậy nàng thường ngờ vực và rất ... sợ tình yêu.
Bảo-Trân không dám nói ra điều đó, đành im lặng, cúi nhìn khóm lá thông khô sậm
màu. Không nghe Bảo-Trân đáp, Phong thở dài:
- Tại sao em im lặng? Em im lặng suốt mấy
mươi năm qua rồi, chưa đủ sao, em?
Bảo-Trân bậm môi, cúi mặt, cố tình không để
Phong thấy môi nàng run như nàng đang mếu. Ngày đó, sau khi đọc lá thư tỏ tình
của Phong, bé Bảo-Trân ngây thơ, đem trao cho người chị, con của Dì Mười. Không
ngờ người chị đem lá thư trao cho Dì Mười. Dì Mười tìm mọi cách răn đe, ngăn
cản, không cho Bảo-Trân tiếp xúc với Phong. Vì lý do đó, mỗi lần Phong nhắc lại
hành động ngây thơ, khờ dại của nàng ngày trước là mỗi lần Bảo-Trân cảm thấy
tim nàng buốt đau. Tim nàng đau không phải vì nàng tiếc đã không yêu và không
thành hôn với Phong mà vì nàng tiếc cho mối tình đầu thánh thiện và chuỗi ngày
tươi đẹp của đời nàng đã bị giết chết một cách tức tưởi bằng những dối gian,
bội phản liên tục của Hoan, người đã từng thề thốt là sẽ yêu thương nàng trọn
đời!
Không nghe Bảo-Trân trả lời, Phong tiếp:
- Nhiều khi chính anh cũng không hiểu được
anh nữa, em biết không?
- Tại sao anh lại không hiểu được anh?
- Anh không hiểu tại sao anh cứ đeo đuổi mãi
một mối tình vô vọng!
Bảo-Trân nhìn Phong vẻ như lo ngại Phong sẽ nói
tiếp lời chia xa. Nhưng không, Phong vẫn thiết tha:
- Em thấy không? Tại sao anh cứ đeo đuổi mãi
một người đàn bà có chồng; và chính người đàn bà đó ngày xưa đã quay lưng lại
với anh, đã làm cho hồn anh rướm máu!
Bảo-Trân nhìn Phong như muốn tìm kiếm nỗi đau
của Phong và cũng là nỗi đau của chính nàng. Nhưng vào lúc lòng Bảo-Trân chưa
kịp ăn năn đối với Hoan, người chồng xa vắng biền biệt nơi một góc trời, thì
hình ảnh của Tuyết-Nhung, vợ của Phong, lại hiện đến.
Mỗi khi nghĩ đến Tuyết-Nhung và mối tình
ngang trái, muộn màng – Phong gọi là “Cuộc Tình Xa”, Bảo-Trân thêm một từ nữa
để trở thành “Cuộc Tình Xót Xa” – giữa nàng và Phong, Bảo-Trân thường lặng lẽ
khóc và dặn lòng là sẽ cố quên Phong, cố không liên lạc với Phong nữa để khỏi
gây đau khổ cho Tuyết-Nhung. Nhưng khi Phong gọi hoặc e-mail cho nàng những dòng thơ ướt tình như: “Hôm nay gió lạnh, giao mùa chuyển. Anh nhớ em mà nước mắt dâng!” (1) thì mọi mặc cảm đều tiêu tan và Bảo-Trân cảm thấy yêu
Phong say đắm như chưa hề có mối tình đầu lạc nẽo với Hoan. Nhiều đêm,
ngồi lặng hằng giờ trong bóng tối để nghĩ về Phong, nếu chuông điện thoại reo,
Bảo-Trân hồi hộp nhấc chiếc điện thoại, lòng cứ thầm mong người gọi là Phong.
Khi biết nhân vật nơi đầu giây bên kia không phải là Phong, Bảo-Trân cảm thấy
nhức buốt nơi lồng ngực. Nếu vài ngày không nghe Phong gọi, Bảo-Trân muốn e-mail cho chàng; nhưng nàng lại thích
nghe giọng nói của chàng hơn là những chữ tối nghĩa trong e-mail, vì Phong ngại Tuyết-Nhung có thể đọc được. Nhiều hôm, nhìn
ánh nắng chiều nhạt dần ngoài khung cửa sổ nơi phòng làm việc hoặc những chiều
cuối tuần thui thủi trong ngôi nhà im vắng, vì các con đi học xa, Bảo-Trân thấy
lòng như quay quắt, điên cuồng vì sự khuấy động dữ dội của niềm ray rức, của
nỗi bâng khuâng, của niềm thương nhớ đang ngùn ngụt bùng lên trong trái tim sầu
héo của nàng. Chính những lúc đó Bảo-Trân thật sự sợ hãi niềm cơ đơn. Chính
những lúc đó, Bảo-Trân nghĩ rằng nàng đã tìm lại được nơi Phong một phần đời
thơ ấu của nàng. Chính những lúc đó Bảo-Trân rất sợ những phản ứng bất lợi từ
các con cùng những dè bỉm, chê bai của dư luận. Nhưng nghĩ lại, ngày xưa, trước
những lừa lọc, tàn tệ, phũ phàng của Hoan đã có ai khóc hộ cho nàng chưa? Vậy
thì tại sao bây giờ nàng lại lo ngại bâng quơ khi nàng tìm được tình yêu? Ý
nghĩ này giúp Bảo-Trân lấy lại được lòng tự tin:
- Sao anh cứ trách hành động ngây ngô khờ dại
ngày xưa của em? Thế có bao giờ anh đặt câu hỏi là tại sao anh đến với em khi
thì quá sớm và lúc thì quá muộn màng?
- Anh không thể giải đáp câu hỏi của em, cũng
như anh không thể hiểu được tại sao qua ngần ấy thời gian mà anh cũng vẫn chưa
quên được em.
- Em đâu còn gì cho anh! Có còn chăng là một
tâm hồn rách nát và trái tim đầy muộn phiền.
Phong cố nói một câu bông đùa để chọc cho
Bảo-Trân cười:
- Anh không cần gì cả. Anh chỉ muốn “nhảy” vào
“ngồi” trong trái tim em thôi.
Bảo-Trân cười gượng. Phong tiếp, bằng giọng
âu yếm:
- Lúc mới lớn, em ước mơ gì? Nói anh nghe,
được không?
- Em chỉ ước mơ được là người đàn bà cuối
cùng trong cuộc đời của một người đàn ông mà em thương yêu và quý trọng.
- Tại sao anh Hoan lại là người đàn ông tốt
số vậy hè? Nếu hồi đó anh biết, thay vì vào Quân-Y, anh vào trường Võ-Bị như
anh Hoan thì anh đâu có mất em!
Bảo-Trân kín đáo, muốn nói lên tâm trạng của
nàng đối với Phong, nhưng bị Phong hiểu lầm, nàng đính chính:
- Khi mới lớn, em yêu anh Hoan, đúng. Nhưng
mối tình chân thật của em không níu chân được anh ấy. Xin anh chỉ nên hiểu như
vậy thôi.
- Vậy em có cho anh làm người bạn đường cuối
đời của em không?
Bảo-Trân không đáp, chỉ mỉm cười, nhìn Phong
bằng ánh mắt nồng nàn, nhưng trong tâm lại lóe lên câu hỏi: “Còn Bi-En-Ti” (B.N.T. viết tắt của ba
chữ Bà Nhà Tôi, danh từ Phong thường dùng để ám chỉ Tuyết-Nhung) anh bỏ cho ai?)
Hai người lại tiếp tục đếm bước bên nhau,
tiến về hướng chiếc cầu gỗ trước ngôi biệt thự mà ngày xưa được dùng làm tư thất
của một sĩ quan cao cấp Hải-Quân.
Bảo-Trân vịn vào thành cầu, hơi nghiêng người
để nhìn bóng mình phản chiếu lung linh trên mặt hồ phẳng lặng. Chiếc áo choàng
màu đỏ thẫm của Bảo-Trân nổi bậc trong bóng hoàng hôn u tịch.
Phong im lặng ngắm Bảo-Trân và trong lòng
chàng vang vang tiếng ca nức nở của Chris deBurgh. Gần cuối bản nhạc, cứ mỗi
lần câu Lady In Red được lập lại,
tiếng Red rơi đúng vào temps fort
cùng lúc với âm thanh của guitar
điện, keyboard, trống cùng nhiều nhạc
cụ khác, rồi Chris deBurgh ngân dài tiếng Red.
Giọng chàng ca sĩ vang xa như bất tận, như xoáy sâu vào lòng người nghe, khiến
Phong cảm thấy nao nao, bồi hồi một niềm thương nhớ. Và, cuối cùng, giọng Chris
deBurgh trở nên tha thiết: “My Lady In
Red, I Love You” để chấm dứt bản nhạc. Phong không hiểu tại sao cứ mỗi lần
nghe tình ca LadyIn Red Phong lại
nghĩ đến Bảo-Trân. Một lúc lâu, Phong hỏi:
- Bảo-Trân! Em đang nghĩ gì?
- Em đang nghĩ đến hai câu thơ của anh.
- Hai câu nào?
Bảo-Trân quay người lại, đọc nho nhỏ:
- Lòng
anh như nước Trường-Giang ấy. Chảy
mãi xuôi dòng soi bóng em. (2)
Phong nhìn Bảo-Trân đắm đuối. Bảo-Trân cười
tinh nghịch, tiếp:
- Anh biết mỗi khi nghe ca khúc Ðỗ-Quỳnh-Hương
của Ðức-Huy em nghĩ gì không?
Phong lắc đầu. Bảo-Trân lại tiếp:
- Em nghĩ đến hai câu thơ khác của anh.
- Nghe nhạc lại nghĩ đến thơ, em đúng là một
nghệ sĩ.
- Vì trong ca khúc ấy có câu: “Ðỗ-Quỳnh-Hương ơi! Hãy viết cho anh vài dòng...” Còn anh thì: “Lòng anh trong trắng tinh khôi lắm. Em viết lên đi, viết ít dòng. (3)
- Biết anh thèm đọc thư em đến như vậy mà em
cũng hà tiện chữ với anh. Em thật là...tàn nhẫn!
- Nếu vậy thì em sẽ tàn nhẫn và tàn nhẫn mãi
để anh sáng tác những vần thơ sướt mướt, rồi bao nhiêu nữ độc giả sẽ ghiền đọc
thơ anh và tim họ sẽ mềm ra.
- Em thật khác lạ. Anh chưa bao giờ đọc hoặc
nghe ai dùng chữ “tim mềm” cả. Rất đặc biệt.
- Em lấy ý từ cụm từ “my heart melted” do công chúa Diana nói với hoàng tử Charles lúc
hai người mới yêu nhaụ
- Tim nữ độc giả mềm ra, còn tim em có mềm không?
Bảo-Trân cười, cúi mặt.
Hai người lại song đôi, hướng về phía cầu
Ông-Ðạo. Từ đây, Bảo-Trân nhìn quanh bờ hồ và tưởng như nàng có thể thấy được
hình dáng ông bà Dư – Ba Má của Bảo-Trân – trên hai chiếc xe đạp bằng duralumin, hiệu Alcyon khi ẩn khi hiện sau những gốc thông già. Khi nào đến cầu
Ông-Ðạo, ông bà Dư cũng đưa cao tay vẫy vẫy về hướng bậc cấp cao; nơi có đứa bé
gái ham ăn kẹo kéo để người cậu ngồi buồn xo. Khi thấy ông bà Dư vẫy tay, đứa
bé gái vui mừng đứng lên, một tay đưa thỏi kẹo kéo vẫy cao, tay kia vỗ vỗ vào
vai người cậu: “Ba Má em kìa. Ba Má em
kìa.” Người cậu vẫn lặng thinh, nét mặt dàu dàu. Thấy Ba Má đã khuất vào
khúc quanh, đứa bé ngồi xuống, nhìn người cậu một chốc, động lòng sao đó, đứa
bé đưa mẫu kẹo cho cậu: “Nè, em cho cậu
cắn miếng nữa đó; mà cậu cắn ít ít thôi, nhen.” Cắn miếng kẹo kéo xong,
gương mặt cậu bé tươi tắn trở lại. Cậu bé xoay lưng về phía đứa bé gái rồi khom
xuống: “Tới đây cậu cõng qua mấy bậc cấp,
lên xe, đi về. Chạng vạng rồi, về kẻo Ngoại lạ” Miệng nhai kẹo, hai tay
quàng cổ người cậu, nhưng mắt của đứa bé gái lại dõi theo hình bóng ông bà Dư
cho đến khi cả hai ông bà lẫn khuất chung vào với mấy “ông” Tây “bà” Ðầm thích
dạo xe đạp quanh bờ hồ vào mỗi buổi chiều.
Nghĩ đến đây bất giác Bảo-Trân thở dài, nhớ
đến hai câu thơ của ông Dư, bút hiệu Ðiệp-Linh: “Về nơi đây đâu vết cũ, ngày xanh? Tôi chỉ thấy bóng thời gian vô tận!” Những buổi chiều của tuổi thơ
sao êm ái mượt mà, còn những buổi chiều của cô phụ sao quạnh hiu đến buồn thảm!
Từ ý tưởng này Bảo-Trân không thích những buổi chiều khi quanh nàng không còn
ai khác nữa!
Trong khi Bảo-Trân chìm đắm trong vùng ký ức
mịt mờ thì Phong tự phân tích tâm lý để tìm hiểu xem mối tình xưa sống lại
trong lòng Phong là chỉ vì Bảo-Trân mà thôi hay là, vì qua hình ảnh của
Bảo-Trân, Phong đã tìm lại được nhân dáng thân thương của một sinh viên Quân-Y
đầy sức sống, đầy lãng mạn, đầy anh hùng tính. Nghĩ ngợi một lúc lâu cũng không
thể hiểu được tâm trạng phức tạp của mình, Phong lại gợi chuyện để đo lường
tình cảm của Bảo-Trân:
- Này, em! Từ hôm về đến nay em đã đến thăm
trường Võ-Bị chưa?
- Dạ, có, sáng hôm qua.
- Lúc đến đó em cảm thấy thế nàò?
- Dạ, họ không cho vào, chỉ nhìn từ xa thôi.
Buồn. Buồn lắm.
- Chắc... nhớ... chàng dữ lắm, phải không?
Bảo-Trân cúi mặt. Hôm qua, nhìn ngôi trường
đã một thời đào tạo không kịp sĩ quan để cung ứng cho chiến trường, Bảo-Trân
chợt nghĩ đến hai câu thơ của người bạn cùng khóa với Hoan mà nàng không nhớ
tên: “Mai anh đi, núi đồi, mây ở lại.
Vắng anh rồi, Dalat có buồn không?” Bảo-Trân
không biết bao nhiêu chàng trai Võ-Bị đã thủ thỉ hai câu thơ này bên tai người
yêu; nhưng Bảo-Trân biết rằng rất nhiều bạn học của nàng đã rời trường Võ-Bị và
không bao giờ trở về!
Nếu bảo rằng Bảo-Trân chỉ nghĩ đến bạn mà không
nhớ đến Hoan là một điều không thật. Nhưng hình ảnh của Hoan trong lòng
Bảo-Trân ngày hôm qua là hình ảnh của một thanh niên đã theo đuổi và thề sẽ
thương yêu nàng hết lòng chứ không phải là người đàn ông ích kỷ, chỉ thích dùng
thủ đoạn để lừa dối và phản bội nàng.
Dù nghĩ gì đi nữa Bảo-Trân cũng không thể bộc
lộ với Phong nên nàng chỉ thở dài. Như ngầm hiểu Bảo-Trân không muốn đề cập đến
Hoan, Phong chuyển đề tài:
- Em đã đến thăm trường cũ của em chưa?
Trường cũ của Bảo-Trân là một trường Ðạo, tọa
lạc trên đường Hai-Bà-Trưng, khuất sau những đồi cỏ xanh rì. Bảo-Trân nhớ dường
như trường tên là Domaine De Marie.
- Dạ có, nhưng trường chỉ còn là một tu viện.
Lúc đến đó em đã bùi ngùi nghĩ đến những người bạn xưa và tiếc thời thơ ấu của
em.
- Em không nghĩ đến anh sao?
- Anh lớn hơn em, đâu có học với em mà bảo em
nghĩ đến. Ơ, em không nghĩ đến anh mà em nghĩ đến hai câu thơ của anh, chịu không?
- Hai câu nào?
-Khói
hương đầm ấm nào đâu thấy; chỉ thấy phai tàn bóng tuổi thơ! (4)
- Em thật tuyệt vời.
Bảo-Trân nhìn Phong, cười một cách hóm hỉnh.
Phong tiếp:
- Anh thì khác. Từ ngày liên lạc lại được với
em, nhìn nơi nào anh cũng thấy hình bóng em.
- Thật không?
- Trong tầm mắt anh, lúc nào em cũng là cô bé
tóc dài, mặc chiếc áo len đỏ.
Nói ngang đây Phong mới chợt hiểu vì sao
chàng thích ca khúc Lady In Red, và
Phong tiếp:
- Mỗi tối, sau khi học bài xong, em thường ôm
đàn ngồi cạnh cửa sổ trên lầu. Ðàn cho đến khoảng chín giờ, em vén màn cửa sổ,
chồm ra, kéo hai khung cửa kính lại. Thỉnh thoảng cô bé cùng với vài cô bạn
theo đoạn đường mòn thẳng đứng, có nhiều khúc thông khô ngăn đất đỏ để tạo
thành những bậc cấp cao, phía sau nhà, leo lên chùa Linh-Sơn. Ðôi khi anh thấy
em mặc đồng phục Gia-đình Phật-tử. Em thuộc Gia-đình Phật-tử chùa Linh-Sơn,
phải không?
- Dạ không. Em thuộc Gia-đình Phật-tử chùa…hình
như tên là chùa Tuệ-Quang, trên đường Hai-Bà-Trưng, gần trường em.
- Tại sao khi nào biết được anh đi theo hay
anh nhìn trộm là em ù té chạy?
- Tại vì Dì Mười cấm.
- Nói thật với anh đi, dạo đó, nếu không sợ
Dì Mười, em có muốn nói chuyện với anh không?
- Dạ....chắc không.
- Không? Tại sao?
- Tại vì lúc đó em còn trẻ con, còn mấy “ông”
sinh viên lớn và oai quá, em sợ!
Cả hai cùng cười vui.
* *
*
Bảo-Trân rón rén rời chánh điện, bước ra sân,
đi chầm chậm, len qua mấy băng đá mài có khắc tên của những người Việt từ ngoại
quốc về thăm nhà. Từ cổng chùa, dưới mái ngói màu đỏ còn tươi, Bảo-Trân chỉ
thấy màu xanh biếc của những rừng thông chập chùng, giao tiếp với màu xanh nhạt
của những áng mây lơ lững cuối bầu trời trong vắt. Bảo-Trân bước dần về hướng
những bậc cấp thoai thoải theo triền đồi để xuống Hồ-Tuyền-Lâm dưới thung lũng
sâu.
Ngoài hai hàng blue point junipers xanh ngát được trồng dọc theo hai bên bậc cấp,
Bảo-Trân còn thấy những khóm impatiens
khoe sắc bên những cụm begonias hoa
nhỏ, lá dày và geraniums nhiều màu
chen chúc trong màu tím nhạt của dwarf
lily, nơi mấy luống hoa. Bảo-Trân hơi ngờ ngợ. Ngày xưa Dalat đâu có những
loại hoa này. Những loại hoa này có lẽ đến từ Mỹ hoặc Canada . Ý nghĩ
này tự dưng khiến Bảo-Trân nhớ đến vườn hoa rực rỡ ở Vancouver và những lời thiết tha của Phong
vào một buổi chiều có gió xôn xao trên những cành phong lá đã ngã màu.
Hôm đó, Phong hỏi Bảo-Trân ước muốn điều gì?
Bảo-Trân đáp: “Ðiều mơ ước của em là, sau
khi các con thành đạt, em sẽ về tu tại Trúc-Lâm Thiền-viện. Nhưng trước khi trở thành ni cô, em sẽ mua
một mảnh đất nho nhỏ cạnh Trúc-Lâm Thiền-viện để trồng lan.” Phong tròn
mắt: “Em đi tu rồi anh sống với ai?”
Nhìn ánh mắt và nét mặt của Phong, Bảo-Trân hiểu Phong nói rất thật lòng, nhưng
Bảo-Trân vẫn đáp: “Em đã thưa với anh từ
lâu rồi. Câu chuyện giữa anh và em không
thể nào đưa đến một happy ending được.” Phong có vẻ không vừa ý: “Ðã biết bao nhiêu lần anh khuyên em đừng
nên nói đến điềm gỡ. Em nhớ không?” Bảo-Trân
đáp: “Hãy thực tế đi, anh.” Phong
nhìn nàng, nghiêm nét mặt: “Thực tế gì?
Chuyện gia đình của anh phải không? Mấy
mươi năm qua anh đã hết lòng, hết bổn phận của anh đối với vợ con anh rồi;
những ngày còn lại cuối đời anh, anh phải sống cho anh. Bi-En-Ti là một người
đàn bà tự ái rất cao. Anh chỉ cần cho nàng biết anh đã gặp lại người xưa là Bi-En-Ti
sẽ trả tự do cho anh ngay.” Bảo-Trân chẳng biết nói gì, chỉ im lặng nhìn
khóm crown of thorn đầy gai. Phong
cũng im lặng một lúc rồi tiếp: “Anh đã
mất em hơn nửa đời anh rồi; bây giờ tìm lại được em, không bao giờ anh để mất
em một lần nữa đâu.” Bảo-Trân xúc động nhưng vẫn phải nêu ra trở ngại khác:
“Xin anh đừng quên rằng em còn phải về
Việt-Nam để tìm hiểu tình trạng của anh Hoan.” Phong vẫn không chùn bước: “Anh không quên. Em nên tìm hiểu sự thật về anh Hoan, càng sớm càng tốt. Riêng anh, thời
gian còn lại cuối đời anh, anh chỉ muốn được sống với em thôi. Bằng mọi cách,
anh phải thực hiện ước muốn đó.”
Ước muốn đó, chỉ cách đây một đêm, cả Phong
và Bảo-Trân đều tưởng rằng sẽ thực hiện được vào một ngày không xa. Nhưng, tối
hôm qua, sau khi từ giã Phong, về đến nhà Dì Dượng Mười, Bảo-Trân nhận được
điện thoại của cô con gái lớn. Cô con gái bảo rằng bác sĩ Lambert muốn Bảo-Trân
đến văn phòng ông càng sớm càng tốt; vì kết quả thí nghiệm thường niên của
Bảo-Trân kỳ này có dấu hiệu nghi ngờ. Bác sĩ Lambert muốn thực hiện gấp một thí
nghiệm khác để xác định bệnh trạng. Nhờ tâm đã tịnh và biết chấp nhận lẽ vô
thường của tạo vật, Bảo-Trân chỉ hơi xúc động chứ không hoảng hốt: “Măng nghĩ, có thân thì có bệnh. Bệnh chi chứ bệnh đó, nếu măng mắc phải, thì
một vài tuần cũng chẳng thay đổi được chi đâu, con. Cũng may măng về thăm quê
nhà, nếu không, rủi bác sĩ bắt nhập viện thì có lẽ không bao giờ măng còn dịp
nhìn lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Thôi, con đừng lo. Con gọi văn phòng
bác sĩ Lambert, giải thích với họ và lấy cái hẹn cho măng vào tuần cuối của
tháng này. Măng phải tìm gặp Ba, đó là mục đích của chuyến đi này, con nhớ không?”
Sau khi gác điện thoại, Bảo-Trân thao thức,
trằn trọc với muôn vàn nỗi đắng cay. Bảo-Trân ôn lại đời mình và bất giác nghĩ
đến hai câu thơ của Chế-Lan-Viên mà ngày xưa, sau khi thành hôn với Hoan ít
lâu, nàng thường nghĩ đến mỗi khi khóc thầm vì bị Hoan bội bạc: “Ðời tôi tất cả đều vô nghĩa; Tất cả không
ngoài nghĩa khổ đau!” Khi gặp được người yêu nàng thật lòng thì, ngoài vấn
đề mặc cảm tội lỗi, Bảo-Trân lại bị vấn đề sức khỏe chi phối. Ðịnh-mệnh quả thật
đã nghiệt ngã đối với nàng! Cuộc đời nàng đã trải qua những tháng năm dài thiếu
vắng tình yêu; nếu sau này không có mối tình của Phong, Bảo-Trân nghĩ, nàng
cũng sẽ âm thầm vượt qua được đoạn đường đời còn lại. Thôi, thà chịu khổ đau
một mình hơn là kéo Phong vào vòng hệ lụy và tạo niềm thống hận trong lòng
Tuyết-Nhung!
Sau khi đã chọn cho mình thái độ sống, giấc
ngủ đến với Bảo-Trân một cách êm đềm.
Bây giờ, cũng với cõi lòng không dậy sóng,
Bảo-Trân ư hử một điệu nhạc tình và bước đến điểm hẹn.
Từ điểm hẹn, Bảo-Trân nhìn vu vơ vào vùng không
gian im vắng, được vây quanh bằng cả rừng thông xanh. Ngoài tiếng thì thầm bất
tuyệt của ngàn thông, Bảo-Trân không nghe một âm thanh nào khác nữa. Bảo-Trân
có cảm tưởng như nàng đã thật sự xa cách cuộc sống xô bồ và đảo điên của loài
người. Ý nghĩ này giúp những ưu phiền trong hồn Bảo-Trân lắng xuống một cách êm
ả như mặt nước đùng đục của Hồ-Tuyền-Lâm phía xa.
Trên mặt nước của Hồ-Tuyền-Lâm, vài chiếc
thuyền con đang phơi mình trong nắng nhạt để đợi khách nhàn du. Bất chợt một cô
bé đi về phía Bảo-Trân và mời Bảo-Trân mua những bức tranh thêu tay, trên lụa.
Nhìn những bức tranh được thêu một cách công phu và mỹ thuật, Bảo-Trân chợt nhớ
đến chữ “P” và chữ “T” mà Phong thường viết lồng vào nhau một cách tuyệt mỹ,
dưới câu “Thương nhớ em nhiều, rất nhiều,
nhiều lắm” trong những bức thư chàng gửi cho nàng. Khi thấy bức tranh thêu
bốn câu thơ của Thượng-Tọa Thích-Minh-Thông và một vị tu sĩ ngồi bên triền núi,
dưới ánh trăng non, Bảo-Trân thích, mua ngaỵ
Bán được bức tranh với giá cao, cô bé vui,
tung tăng đi về hướng những bậc cấp cao trong khi lòng Bảo-Trân chùng xuống
thật thấp vì bốn câu thơ của Thượng Tọa Thích Minh Thông: “Vượt hết non cao, vực thẳm rồi. Bên đường bỗng thấy sắc hoa tươi. Mới hay siêu, đọa do mình cả. Mà cõi
Mười Phương cũng huyễn thôi.” Nếu cõi Mười Phương mà cũng huyễn thì loài
người bám víu vào đâu vào những lúc bị đời vùi dập? Nếu cõi Mười Phương mà cũng
huyễn thì tại sao niềm khổ đau lại có thật? Nếu sự khổ đau không có thật thì
những nơi thờ phụng tôn nghiêm dùng để làm gì? Ðôi khi, chính Bảo-Trân cũng hồ
nghi...
Bảo-Trân vừa nghĩ đến đây chợt nghe tiếng
Phong:
- Em đợi anh lâu không?
Bảo-Trân giật mình, hơi lúng túng, vì thật
tâm nàng đang suy gẫm về ý nghĩa của bốn câu thơ, nhất là câu thứ ba, chứ nàng
không có ý đợi chàng. Phong tiếp:
- Mình đi dạo vòng bờ hồ rồi tý nữa mình thuê
ghe chèo vào trong xa chơi. Em nghĩ sao?
Bảo-Trân cố giữ nét mặt bình thản, nhìn
Phong, cười, tỏ vẻ hưởng ứng rồi vin vào bàn tay Phong, đứng lên. Cả hai lại im
lặng, chầm chậm đi bên nhau. Dường như cả Phong và Bảo-Trân đều thích những
giây phút như vậỵ Ði được một đoạn khá xa, Phong cảm biết dường như Bảo-Trân có
điều chi bất ổn cho nên nét mặt nàng trông buồn rười rượi:
- Em có gì lo nghĩ, nói anh nghe, được không,
em?
Bảo-Trân gượng cười, lắc đầu. Phong tiếp:
- Chắc em buồn vì anh đến hơi trễ, phải không?
- Dạ ... Dạ ... không.
- Hay là em mỏi chân? Thôi, mình đến thuê
ghe, nhé.
Chiếc thuyền nhỏ đưa Phong và Bảo-Trân rời
bến được một chốc thì cơn mưa mây gieo xuống những sợi nước trong suốt, long
lanh, rơi đều đặn, tạo những vòng tròn nhỏ xíu trên mặt hồ đã sóng sánh vì mái
chèo của cô bé chèo đò. Như đã chuẩn bị từ trước, cô bé chèo đò lấy nón đội rồi
trao cho Phong cây dù.
Bảo-Trân tựa vào vai Phong để cả hai cùng núp
mưa dưới chiếc dù. Cả hai cùng im lặng, lắng nghe tiếng mưa rơi nhè nhẹ trên
làn vải đen của cây dù. Một lúc lâu lắm, Phong hơi nghiêng sang Bảo-Trân:
- Em đang nghĩ gì, Bảo-Trân?
- Dạ, em đang ... tập...
- Tập? Tập cái gì?
- Dạ....Tập... tập...quên anh.
- Bây giờ đâu phải là tháng Tư mà có April’s Fool?
- Em không dám đùa với anh đâu.
- Vậy thì tại sao em nói như vậy?
- Suốt cuộc đời em, lúc nào em cũng phải phấn
đấu, phải tranh giành, phải dấn thân tự tạo để có được những gì em thích, những
cái em muốn. Riêng về tình yêu, em cũng phấn đấu, cũng níu giữ, cũng giành
giật, nhưng em đã hoàn toàn thất bại. Bây giờ, em mệt mỏi và chán chường, em
không còn nghị lực để phấn đấu nữa.
- Anh chẳng hiểu gì cả. Tại sao em lại bi
quan?
Bảo-Trân cúi mặt, không dám nói thật với
Phong nỗi lo âu, niềm đau khổ đang xâu xé trong lòng. Phong tiếp:
- Mai em đi rồi. Thời gian mình gặp nhau đâu
còn bao lâu. Khi trở lại Hoa-Kỳ, em phương Bắc, anh phương Nam, mỗi năm chưa
chắc đã gặp nhau được một lần, sao em cứ làm khổ nhau?
- Em đâu muốn làm anh khổ; vì anh buồn thì em
cũng khổ tâm lắm, anh biết không?
- Nếu vậy thì tại sao? Anh nghĩ, vào lứa tuổi
của hai đứa mình thì đâu còn những giây phút nông nổi, bồng bột nữa, phải không,
em?
- Em đã suy nghĩ rồi chứ em không bồng bột và
nông nổi đâu. Em xin anh hãy xem em như người em gái hay là người bạn nhỏ của
anh thôi.
- Tại sao em dối lòng và em buộc anh phải
chấp nhận một điều trái với ước muốn của anh?
- Em dối lòng, đúng. Nhưng nếu anh thật tâm
thương em thì xin anh chấp nhận sự dối lòng đó của em. Anh hứa đi, anh.
- Anh không thể hứa như vậy được.
Bảo-Trân thường tâm niệm là sẽ yêu thương
Phong hết lòng và sẽ đem hạnh phúc đến cho Phong trong khoảng đời còn lại của
hai người chứ không bao giờ Bảo-Trân muốn Phong là người sẽ nhận chịu những bất
hạnh của nàng. Ðó là tất cả sự thật, nhưng Bảo-Trân không dám nói, lại tìm lý
do khác để che giấu niềm đắng cay:
- Thưa anh, giữa anh Hoan và em còn các cháu.
Em không muốn bị các cháu trách cứ em.
Phong có vẻ thảng thốt vì tưởng nhầm rằng
Bảo-Trân vẫn còn yêu Hoan. Lòng Phong tái tê như ngày nào được mấy người em con
ông chú báo tin rằng gia đình Dì Dượng Mười cho hay Bảo-Trân đã thành hôn với
Hoan, tại Nha-Trang! Phong trầm ngâm một lúc lâu lắm rồi nói ra nỗi xót xa của
chàng:
- Anh đã nghĩ đến điều đó. Và chính anh, đôi
khi anh cũng đã nói với em, anh không muốn làm người tệ bạc đối với anh Hoan.
Em nhớ không? Nhưng vì thương yêu em, anh gạt bỏ tất cả. Bây giờ...
Bảo-Trân
lặng lẽ cúi đầu để Phong không thấy khuôn mặt não nùng và hai hàng nước mắt
đang lả chả rơi. Phong tiếp:
- Hay là mình cứ sống trong sạch, bình thản
như bấy lâu nay, để giòng đời đưa đẩy, em nghĩ sao?
Bảo-Trân chợt nghĩ đến câu “Mới hay siêu, đọa do mình cả” nên ngại
ngùng:
- Dạ, em nghĩ chắc không được; vì nếu như vậy
thì em cũng có tội về tinh thần đối với Bi-En-Ti và Ô-En-Ti.
Ðang buồn, đang xúc động, Phong cũng phải bật
cười vì nghe ba tiếng Ô-En-Ti (O.N.T. viết tắt của Ông Nhà Tôi) mà Bảo-Trân vừa
nói để đối với ba chữ B.N.T. do Phong đặt ra.
- Anh chịu thua em! Bất cứ khi nào và bất cứ
ở đâu em cũng có thể ứng dụng những câu thơ của anh để diễn đạt tâm trạng của
em; và bất cứ điều chi anh nói ra em cũng đối đáp một cách dí dỏm. Người như
vậy mà cứ đòi làm em gái của anh thôi thì có chết anh không!
- Không cho em làm em gái thì cho em làm học
trò của anh, chịu hôn?
- Anh không đủ khả năng để làm thầy một người
tài hoa và thông minh như em.
- Thôi,
anh à! Thà như vậy mà đẹp, chạm vào thực tế sẽ ủ ê.
Phong
chỉ biết thở dài. Những ngày sắp đến, trong những sinh hoạt văn chương của
chàng sẽ thiếu vắng sự cảm thông, sự góp ý và sự khuyến khích ân cần của
Bảo-Trân. Phong không hiểu chàng sẽ phải sống như thế nào; nhưng Phong rất sợ
phải trở lại cuộc sống thầm lặng, nhàm chán, thiếu cảm hứng sáng tác mà lại
phải nghe những lời đay nghiến của Tuyết-Nhung: “Ai làm bác sĩ cũng giàu nức khố đổ vách; còn anh là bác sĩ mà tối ngày
chỉ lo thơ với thẩn thôi!” Một lúc lâu lắm, Phong bảo:
- Trong khi anh Hoan chưa sang đoàn tụ, bất
cứ lúc nào em và các cháu cần gì, cứ e-mail
hoặc gọi anh. Anh hứa sẽ lo cho em và các con của em trong tất cả mọi trường
hợp.
- Xin cảm ơn anh. Mẹ con em đã sống tự lập
bao nhiêu năm nay nên cũng quen rồi. Em chỉ cần thỉnh thoảng anh e-mail cho em vài dòng để em biết anh
bình an hay không, cho em đỡ lo.
Cả hai lại im lặng, cùng nén vào lòng niềm
buồn thảm và nỗi xót xa. Trong khi lòng Bảo-Trân nát tan vì nghĩ đến chuỗi ngày
quạnh hiu cuối đời thì Phong nắm bàn tay Bảo-Trân và cảm biết niềm thất vọng
đang kéo về, len nhè nhẹ vào từng tĩnh mạch, chạy về tim. Vừa khi ấy, từ cõi lòng
tan tác của Phong, ý thơ dâng lên, thể hiện được tất cả tâm trạng sầu héo của
chàng và Bảo-Trân:
Nghìn
trùng tâm tưởng, thôi đành đoạn.
Ai
nhớ thương ai cũng ngại ngùng! (5)
ĐIỆP-MỸ-LINH
http://www.diepmylinh.com
(1)(2) (3) (4) (5) Trích từ tập thơ Nửa Ðời Thương Ðau của
Hoàng-Vũ-Bão.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét