CHƯ CÁT LƯỢNG [ hoăc GIA CÁT LƯỢNG
Kính anh,: CHU VưƠNG MIỆN
Kha Tiệm Ly
诸葛亮 <諸葛亮> = chư cát lượng
chữ chư 諸 viết giản thể là 诸 có nghĩa thông thường là "nói gom lại, không riêng một việc nào như chư hầu = nhiều nước nhỏ (phụ thuộc vào nước lớn); chư quân= quý ngài, quý ông; chư sự = mọi việc
Trong tự điển mà tôi có, không có âm "gia" (cò thể tôi không có mà người khác có)
Tuy nhiên theo thiển ý:
Chữ chư có một âm là "gia" có nghĩa là họ "gia cát", cái thiếu sót của tự điển là không ghi âm nầy,
Trong MINH TÂM BỬU GIÁM là sách vỡ lòng của người học chữ Nho xưa , phiên âm tiếng việt là "chư" trong câu: "chư cát võ hầu viết: mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, nhơn nguyện như thử như thử, thiên lý dị nhiên dị nhiên" (mưu sự ở người, thành sự do trời; người muốn như vầy như vầy, mà lẽ trời muốn như thế như thế)
Như vậy, chữ "chư"諸 , còn một âm nữa là "gia" là họ "gia cát" (lượng)?
Trong chữ Hán, có rất nhiều một chữ mà có thêm một hay nhiều âm đọc khác, mà âm đọc khác thì có nghĩa khác, thí dụ như chữ " hảo" = tốt đẹp/ hoàn hảo; nhưng đọc "háo" = thích (như háo sắc= thích gái đẹp)
Như chữ "thượng" có nghĩa là "ở phía trên", nhưng nếu đọc là "thướng" (dấu sắc) thì có nghĩa là "đi lên" như "thướng lầu" là " lên lầu"; thướng đường"" là "lên thềm" (nhưng thói quen, dù sai, người ta thường đọc là "thượng lầu" )
Chữ "hạ" là phía dưới, nhưng có một âm là "há" có nghĩa là "đi xuống" như há sơn = xuông núi (nhưng thói quen người ta vẫn đọc là "hạ sơn" = xuống núi là sai
Rất nhiều chữ đọc nhiều âm lắm
Trở lại chữ CHƯ/ GIA: đọc là gia cát lượng cũng không sai vì như đã nói ở trên , chữ "chư" còn có âm là "gia" có nghĩa là họ "gia (cát)". Nhưng lưu ý với anh là trong MINH TÂM BỬU GIÁM phiên âm là "chư cát võ hầu" như đã nói ở trên
Có thể là do phát âm chăng?
Điều đáng nói là tự điển thiếu sót, không nói rõ chữ thông thường nầy
Kính vài hàng cùng anh với sự hiểu biết hạn hẹp, anh nên cân nhắc sau khi coi
Trọng kính
KTL
.
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét