Nhà thơ
Hoàng Cầm:
Đính
chính những lầm lẫn trong văn học (1)
Năm 1941 tôi đã chính thức bước vào cái “nghiệp của văn chương”
được vài năm. Cuối năm ấy tôi được xem vở kịch thơ đầu tiên công diễn trên sân
khấu nhà hát lớn Hà Nội, do nhà đạo diễn Chu Ngọc dàn dựng. Việc được xem một
vở kịch thơ tề chỉnh trên sân khấu có chuẩn mực lần ấy với tôi là một bước
ngoặt quyết định trong công việc sáng tác kịch thơ của tôi….Vở kịch thơ ấy có
tên là Bóng giai nhân. Trong chương trình ghi là hai tác giả Nguyễn Bính và Yến
Lan. Với Nguyễn Bính tôi đã quen. Đối với các bậc đàn anh nổi tiếng, tôi coi
như cây cao bóng cả. Tôi chưa gặp Yến Lan bao giờ, chỉ biết anh là một thi sĩ
đáng kính nể với bài Bến My Lăng, mà anh đang sánh vai đồng hành với đại thụ
như Hàn Mặc Tử, Bích Khê… nhóm thơ Bình Định nổi tiếng trong phong trào Thơ
mới.
Cũng do Bóng giai nhân kích thích mà sang đầu năm 1942 tôi đã
khởi thảo vở kịch thơ dài Kiều Loan, cả đến lúc ấy nữa, tôi vẫn chưa biết mặt
Yến Lan thế nào, mặc dù suốt từ năm 1942 đến 1947, thời kỳ đầu kháng chiến
chống Pháp, tôi cứ liên miên đóng vai tráng sĩ, vai chính trong vở của hai nhà
thơ mà mình yêu mến.
Năm 1955, cán bộ Miền Nam ra tập kết ở Hà Nội khá đông. Lần đầu
tiên tôi gặp Yến Lan tại cuộc họp của nhà xuất bản Văn Nghệ. Yến Lan con người
cực kỳ hiền lành…Tôi có khoe với Yến Lan:
- Này ông, tôi là người diễn cái nhân vật tráng sĩ của ông đi
mua gươm, chót giết hai người rồi, đến khi gặp người đẹp thì quẳng gươm đi,
đành chịu cho gươm mất thiêng, vì không can đảm giết một người vô tội, dẫu là
giết trong kịch - theo ý muốn tai quái của một đấng thần linh siêu đẳng nào đó.
Vậy thì ông cho tôi biết rõ về vở ấy, ông viết màn nào, còn Nguyễn Bính viết
đoạn nào?
Viết chung theo kiểu gì? Ai đề xướng chuyện kịch, rồi ai viết,
các ông phân công nhau thế nào?
Tôi thấy Yến Lan có vẻ hơi buồn, nhưng chỉ thoáng qua.Sau anh
cười, làm như câu chuyện chẳng có gì quan trọng. Anh nói nho nhỏ:
- Cứ nhầm lẫn hoài mà lâu năm quá, vả lại vở cũng chẳng đáng gọi
lá tác phẩm tác phiếc gì ghê gớm, tôi cũng chẳng muốn công khai cải chính nữa.
Sợ anh em lại bảo tranh giành tên tuổi. Mà nhất là bây giờ, văn nghệ phục vụ
công nông binh (1955), những chuyện gươm thiêng, gươm thần rồi người đẹp, người
điếc, cổ lỗ sĩ thế thì bao giờ cho diễn hay in ấn gì nữa mà lo tên với tuổi, cứ
cho nó vào cái sọt rác của sự lãng quên là tốt nhất.
… Rồi anh kể:
Năm 1938, sắp đến thế chiến thứ II, một dạo, Nguyễn Bính, Trần
Huyền Trân cùng với mình hẹn nhau đến Huế chơi. Cũng là cái kiểu “giang hồ vặt
cho đỡ buồn đời! Chả thằng nào còn tiền mà gọi là du khách. Nói lữ khách cho có
vẻ văn hoa, chứ thực tình, chỉ vì thèm đổi gió mà đi, đi bằng tiền nhuận bút
còm rom của thằng Bính, mình thì nhờ cô bạn tài trợ. Thằng Trân thì cũng khăn
gói gió đưa. Đúng là ba tên “bần bách khách du”. Mới đâu có ba bốn ngày, túi
đứa nào cũng vét đến đồng xu cuối. Chính thằng Bính nghĩ ra trước cách kiếm
tiền chè rượu là đứa nào đấy phải viết ra một vở kịch ngăn ngắn thôi, kiểu gì
cũng được, chỉ cần diễn hơn nữa tiếng rồi mỗi thằng ngâm, diễn đôi ba bài thơ
là may ra đủ ăn vài tuần.Nghe cũng hay, thằng Trân và mình bày ra cốt truyện,
mượn sự tích gươm thần, gươm thánh gì đó ở Đông Chu liệt quốc bên Tàu ấy mà.
Hai thằng phác thảo xong, câu chuyện cũng đơn giản mà chỉ có ba thằng thì vở
cũng không được quá ba nhân vật. Thế là mình cắm đầu vào viết trong khi Trân và
Bính thì đi “giạm sẵn chỗ bạn bè có rượu, có cơm để ăn nhờ trong khi viết rồi
tập kịch. Chỉ trong hai ngày, mình đã viết xong 3 màn. Mỗi màn chừng 20 phút,
ngót nghét 600 câu thơ. Mà cũng lạ, mình có thạo về kịch cọt gì đâu, không ngờ
lúc cầm bút, hứng nổi lên rồi là cứ thao thao bất tuyệt. Viết xong đọc hai
thằng nghe, cả hai đều khen, vỗ tay đôm đốp. Bính còn chủ quan kêu vở này có
thể diễn 10 đêm không hết khách. Trân thì dè dặt hơn bảo chỉ cần bán vé ba tối,
mỗi tối kín lấy hai phần ba rạp là đủ sống một tuần rồi còn đủ tiền mua vé hạng
bét về nhà nữa.
Thêm một ngụm cà phê rồi Yến Lan thong thả kể tiếp:
- Phải nhờ Lưu Trọng Lư mới thuê được rạp với giá rẻ. Lưu cũng
rất hể hả với với kịch mình viết, tổ chức một số anh em đi quảng cáo, in vé
bán…..
Qua hai đêm diễn .. bọn mình chia tay. Mình về Qui Nhơn, Trân và
Bính ra Bắc.
Khi in
chương trình ở Hà Nội, Chu Ngọc cứ tự ý ghi tên tác giả song đôi là Nguyễn Bính
và Yến Lan. Ít lâu sau Bính có thư cho mình kể lại việc diễn ở Hà Nội cũng
thanh minh rằng sở dĩ Chu Ngọc để cả hai tên là cốt bán được nhiều vé, vì ở Hà
Nội tên Nguyễn Bính nhiều người biết hơn. Mình cũng rất vui lòng vì cũng là bạn
với nhau cả.
Câu chuyện ai là tác giả bóng giai nhân là như vậy. Điều tôi
muốn nói ở đây là vấn đề trách nhiệm trong văn học. Bạn hữu ngày xưa tâm đắc
với nhau, đi chơi rồi sáng tác, dẫu là giải trí, là cao hứng viết chơi, hoặc là
để kiếm tiền tiêu xài lặt vặt, đó là một việc. Nhưng một tác phẩm bất luận giá
trị cao hay chưa cao, nổi tiếng nhiều hay ít, nhưng do ai viết ra đó là một vấn
đề cần sự minh bạch, phần trách nhiệm trước độc giả thuộc về ai càng cần phải
minh bạch, để sau này những người làm văn học sử đỡ mất công kiếm tìm và xác
định tài liệu.
Cách đây ít năm, vào dịp
Đại Hội Nhà văn lần thứ tư (1989), anh Yến Lan gặp tôi có kể rằng ở một tỉnh
Miền Nam (tôi không nhớ rõ, hình như tỉnh Long An) nhà xuất bản thuộc sở văn
hóa tỉnh có in một tập thơ Nguyễn Bính. Ở bìa nhà xuất bản có rao trước sẽ xuất
bản “Kịch thơ Bóng gian nhân của Nguyễn Bính.
Tôi nghĩ: trong tình hình đổi mới, riêng về mặt văn hóa, các
loạt sách được ấn hành ồ ạt. Dĩ nhiên với những cuốn ra đời lâu năm, khó tránh
những nhầm lẫn đáng tiếc. Nhưng khi một tác giả nào đó còn sống (ví dụ như Yến
Lan) nhà xuất bản nào có ý định ấn hành những tác phẩm có liên quan đến nhiều
cây bút đồng thời, nên tìm hiểu kỹ, và còn có điều kiện trực tiếp tìm hiểu các
tác giả đã qua đời, thì có thể tránh được những nhầm lẫn không đáng có giữa
thời đại thông tin bùng nổ như ngày nay.
Hà Nội, Tết Giáp Tuất

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét