ĐỌC MƯU THẦN CỦA TƯỚNG XƯA,
ĐỂ
THẤY ĐƯỢC CHƯỚC QUỶ CỦA BỌN GIẶC TÀU NGÀY NAY.
Thai Quốc Mưu
Hàn Tín (韓信) 229 – 196 TCN), sanh tại Hoài Âm, nước Sở, nên khi thành danh được
phong Hoài Âm Hầu (淮陰候), ông là một danh tướng bách chiến bách thắng, thiên hạ vô địch. Trong
Cao Tổ Bản Kỷ, Lưu Bang phải thừa
nhận, “Nắm trong tay trăm vạn quân đã đánh là thắng, tiến công là nhất định
chiếm lĩnh thì ta không bằng Hoài Âm Hầu.”
Theo Tây Hán Chí. Hàn Tín
thuở nhỏ mất Cha từ bé, nhà nghèo phải làm nghề câu cá, nuôi Mẹ.
Khi mẹ mất, Hàn Tín bán cả nhà cửa, để xây mộ cho Mẹ trên vùng núi đẹp
đẽ. Vì thế phải xách kiếm đi lang thang.
Có tên đồ tể thấy Hàn Tín gầy gò yếu đuối nhưng lại vác kiếm trông như
võ tướng, hắn muốn làm nhục Tín buộc Tín một là dùng kiếm đánh nhau với gã, hai
là lòn dưới trôn nó. Hàn Tín chấp nhận chui qua háng, mọi người thấy Hàn Tín chịu
bị nhục đều chê cười.
Những khi không câu được cá, Tín không có gì ăn, thường đi xin cơm của
bà lão giặt lụa và hứa hẹn sau này làm nên sự nghiệp sẽ trả ơn ngàn vàng. Bà
lão giặt lụa trách:
- “Cậu là thanh niên trai tráng
mà không lo nổi miếng ăn thì làm sao làm nên sự nghiệp, tôi thấy cậu tội nghiệp
nên giúp, chứ nào có mong cậu đáp đền chi!”
Mọi người nghe thấy đều cho ông là người thấp kém, hèn hạ.
Năm 209 TCN, Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, Hàn Tín ra bờ sông Vị
Thủy cầm kiếm xin tham gia nghĩa quân. Ông đã được Hạng Lương là thế tộc nước
Sở cho gia nhập nghĩa quân. Tuy nhiên, Hạng Lương và cháu là Hạng Vũ xem thường
Hàn Tín thân phận thấp hèn, chỉ cho làm quân cầm kích đứng hầu. Nhiều lần Hàn
Tín bày mưu cho Hạng Vũ, nhưng Hạng Vũ không dùng.
Nhà Tần sụp đổ, Hạng Vũ đứng đầu chư hầu, phân phong cho các tướng và
vua chư hầu. Lưu Bang bị Hạng Vũ tranh công vào Quan Trung, đẩy Lưu Bang vào
đất Thục xa xôi hiểm trở, rồi phong cho Bang làm Hán Vương.
Vào đất Thục, Hàn Tín tự mình tiến cử với Hạ Hầu Anh, lúc đó Hạ hầu Anh
chịu trách nhiệm về việc chiêu hiền đãi sĩ.
Hạ Hầu Anh bèn nói chuyện với Hàn Tín, rất hài lòng, sau đó tâu với Lưu
Bang. Lưu Bang cho ông làm độ úy, coi về thóc.
Hàn Tín thường nói chuyện với tướng quốc của Lưu Bang là Tiêu Hà. Hàn
Tín có nói với Tiêu Hà 1 câu rất nổi tiếng về người làm tướng như sau:
- “Bẩm Thừa Tướng, đạo làm tướng
trước nhất phải có NĂM TÀI" và tránh MƯỜI LỖI. Năm tài là: Trí, Nhân, Tín,
Dũng, Trung. Trí thì biết cẩn thận; Nhân thì biết thương người, Tín thì không
sai hẹn; Dũng thì không ai dám phạm; Trung thì không ở hai lòng.
Còn mười điều lỗi: Một là cậy vào
cái dũng khinh thân mình; Hai là gặp việc gấp thì nóng nảy, thiếu cẩn thận; Ba
là gặp lợi thì ham; Bốn là vì lòng nhân không dám giết kẻ phạm tội ác; Năm là ỷ
lại vào sức mình không biết lo xa; Sáu là tin người mà không phòng; Bảy là
không chịu thu thập ý kiến người khác; Tám là việc đáng làm gấp mà do dự; Chín
là thiên vị, thiếu công bằng; Mười là lười biếng, chỉ muốn sai người. Nếu có đủ
NĂM TÀI và tránh được MƯỜI LỖI ấy, tất là tướng giỏi.”
Tiêu Hà nghe xong rất phục tài ông và hứa tiến cử với Hán Vương.
Đường từ Hàm Dương vào Thục xa xôi, hiểm trở, Lưu Bang cùng các tướng
di chuyển trong thời gian khá lâu.
Khi Hán Vương đến đất Nam Trịnh, trên đường đi, các tướng thấy cõi Thục
độc địa bỏ trốn đến mấy chục người. Hàn Tín xem chừng Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh đã
mấy lần tâu với Lưu Bang nhưng Lưu Bang không dùng mình, nên cũng bỏ trốn. Tiêu
Hà nghe tin Hàn Tín bỏ trốn liền thân hành theo tìm, không kịp báo cho Hán
vương biết.
Lưu Bang coi Tiêu Hà như cánh tay phải, lúc đó đứng ngồi không yên. Mãi
hai hôm sau Tiêu Hà mới về, giãi bày hết với Hán vương và ra sức tiến cử Hàn
Tín:
- “Các tướng đều dễ kiếm thôi, còn như Tín là kẻ quốc sĩ, có một không
hai. Nhà vua nếu cứ muốn làm vương mãi ở Hán Trung, thì chẳng cần Tín làm gì
chứ nếu muốn tranh lấy thiên hạ thì ngoài Tín ra chẳng có thể bàn công việc với
ai.”
Lưu Bang dù chưa thật tin nhưng vì sự khẩn khoản của Tiêu Hà mà phong
cho Hàn Tín làm đại tướng. Khi Hán vương làm trai giới, lập đàn để phong ông,
cả ba quân đều kinh ngạc, không nghĩ rằng người như ông lại được lên làm đại
tướng.
Hàn Tín lên đàn nhận phong xong, bèn phân tích cho Hán vương về những
thế mạnh, yếu của Hạng Vũ và phương sách đánh bại Sở. Hán vương bắt đầu nhận ra
tài năng của ông. Về sau mới biết Tín là người được Trương Lương tiến cử nên
Lưu Bang lại càng xem trọng.
Từ đó Hàn Tín, Trương Lương, Tiêu Hà được Lưu Bang xem là Tam Kiệt của
mình.
Để che mắt các nước Tam Tần, ngay khi vào Thục, Trương Lương cho đốt
đường sạn đạo (con đường nối vùng đất Thục với Tần) khiến không nước nào chú ý
đến Lưu Bang.
Tháng tám năm 206 TCN, Hàn Tín được phong làm đại tướng, bắt đầu ra
quân bình định Tam Tần, do các vua chư hầu Chương Hàm (Ung vương), Tư Mã Hân
(Tắc vương) và Đổng Ế (Địch vương) án ngữ làm phiên giậu cho Sơn Đông để cản
đường Lưu Bang.
Hàn Tín sai người giả vờ đi sửa đường sạn đạo, vốn mất rất nhiều công
sức thời gian, khiến Tam Tần yên trí rằng quân Hán còn lâu mới ra được cửa ải.
Trong khi Hàn Tín dẫn đại quân đi theo đường Trần Thương đi qua huyện
Cố Đạo đánh úp Ung
Vương Chương Hàm. Chương Hàm đón đánh quân Hán ở Trần Thương. Hàn Tín
giả thua chạy, sau đó dùng kế hỏa công mai phục đốt Chương Hàm. Ung vương bị
thua chạy, lại dừng quân đánh đất Hạo Trĩ, bị thua nữa, bỏ chạy đến Phế Khâu.
Hán vương đuổi theo, bình định đất đai của Ung vương, đi về đông đến Hàm Dương,
lại cho một cánh quân riêng vây Ung vương ở Phế Khâu, còn sai các tướng bình
định các vùng Lũng Tây, Bắc Địa, Thượng Quận.
Hàn Tín sau đó đánh Phế Khâu, thấy thành kiên cố dễ thủ khó công. Sau
khi đi thị sát, ông nói với Tào Tham:
- “Dưới chân thành, con sông Bạch Thủy chảy vòng quanh từ Tây Bắc sang
Ðông Nam, làn nước rất mạnh. Nếu ta dùng bịch đựng cát đắp ngang dòng sông, cho
nước dâng lên, tràn vào thành, quân địch ắt phải vào bụng cá hết.”
Tào Tham theo kế, đem một ngàn quân xuống phía nam Phế Khâu lệnh cho
binh sĩ ngày đêm thay phiên nhau dùng lá cọ, lá dừa nước đan bịch. Xong, cho cát
vào bịch đem chắn dòng sông, rồi dẫn nước chảy thẳng vào thành Phế Khâu. Chương
Hàm thất đảm hồn kinh phải bỏ Phế Khâu chạy về Đào Lâm.
Năm 207 TCN, Hàn Tín lại điều quân đánh Tắc Vương Hân, Địch Vương Ế. Bị
đánh bất ngờ, Tư Mã Hân và Đổng Ế đầu hàng. Hàn Tín kéo về đông, Hà Nam Vương
Thân Dương cũng đầu hàng theo. Hán Vương muốn đánh ngay Hàm Dương, Hàn Tín chủ
trương diệt Chương Hàm trước, được Hán Vương đồng ý.
Hàn Tín đem quân đánh Đào Lâm, Chương Hàm tự sát. Hàm Dương nghe tin
liền đầu hàng. Đến đây thì Tam Tần bị diệt, đất Quan Trung rơi vào tay Hán
Vương.
Trong khi đó, Hạng Vũ sau khi giết Hàn Vương Thành, cho người thân tín
của mình là Trịnh Xương làm Hàn Vương. Hàn Vương không chịu đầu hàng Hán. Hàn
Tín mang đại quân đánh bại Trịnh Xương.
Chiếm Hàn Thành, Lưu Bang lập người tông thất nước Hàn, đang làm thái úy,
cũng tên là Hàn Tín làm Hàn Vương, gọi là Hàn Vương Tín.
Tây Ngụy Vương Báo bèn hàng Hán, cùng hợp binh với Hán đánh Ân. Ân Vương
Tư Mã Ngang bị bắt sống.
Hàn Tín ở lại giữ Quan Trung, Hán Vương cùng các tướng tiếp tục đông
tiến, dụ thêm nước Triệu hội quân đánh Sở.
Lúc đó Tây Sở Bá vương Hạng Vũ đang sa lầy chiến tranh ở nước Tề, chưa
diệt được Điền Quảng và Điền Hoành, Hán Vương gom quân chư hầu 56 vạn rầm rộ
tiến vào chiếm cứ kinh đô Sở là Bành Thành. Hạng Vương (Hạng Vũ) mang 3 vạn
tinh binh trở về đánh tan tành quân Hán ở Bành Thành. Quân Hán tan tác rút
binh.
Một loạt các chư hầu như Tư Mã Hân, Đổng Ế, Triệu Yết thấy Sở thắng Hán
lại theo Sở. Cả Điền Hoành nước Tề cũng giảng hoà với Sở. Thế quân Sở mạnh lên,
Hạng Vũ mang quân tây tiến đánh Hán.
Hán Vương thu binh về Huỳnh Dương. Hàn Tín đến tâu với Hán Vương:
- “Tôi ở Hàm Dương đã chế ra được vài trăm cỗ xe để dự bị đánh Sở, loại
chiến xa nầy, có tác dụng rất mạnh trong trận chiến thuộc bình nguyên. Huỳnh
Dương cách đây ba mươi dặm, có một khu đất bằng có thể áp dụng chiến xa được.
Hán Vương nghe nói liền sai thợ ngày đêm theo mẫu xe của Hàn Tín mà chế
tạo thêm được hơn 3.000 chiếc dự bị đánh Sở.
Hạng Vương đem quân đến, Hàn Tín gửi thư cho Hạng Vũ, đại để viết:
“Nguyên soái nhà Ðại Hán Hàn
Tín trao thư Tây Sở Bá Vương khán hạ.
Tín vẫn có sung vào chức Chấp
kích lang của Sở, song, trước kia cùng với Bá vương lập vua Hoài vương, quay
mặt về Bắc xưng thần, đồng triều chấp sự, thì Tín là tôi của vua Nghĩa Ðế chứ
không phải là tôi của Sở, lẽ ấy đã rõ ràng. Chẳng ngờ Ðại vương (Hạng Vũ) lại
giết vua Nghĩa Ðế, chuyên chế chư hầu, thiên hạ oán vọng, còn Tín cũng lấy làm
đau lòng. Những muốn vung gươm giết đứa đại nghịch, trả thù cho vua, nhưng xét
thấy tài hèn sức yếu chưa làm nổi chuyện đó, đành phải sang đầu Hán để bá cáo
tội ác Đại Vương cho thiên hạ biết. Vừa rồi, Tín đóng quân tại Hàm Dương, không
đi đánh Sở, thất cơ một chút đến nỗi quân thua. Nay Tín thống lãnh hùng binh, áo
trắng cờ tang, thi vũ tại Huỳnh Dương trước rửa hờn cho vua Nghĩa Ðế, sau vì
Hán vương tuyết sĩ, thì phen này Đại Vương (Hạng Vũ) khó mà toàn mạng.
Tín báo trước cho Ðại vương giữ
mình.”
Hạng Vương xem xong tức lắm, quát:
- “Thằng lòn trôn khốn nạn đó đã dám dùng lời vô lễ với ta. Phen này,
ta thề không bắt được đứa phản phúc quyết không trở về.”
Hôm sau Hạng Vương đem quân ra đánh với Hàn Tín, Hàn Tín giả thua bỏ chạy,
đến sông Kinh Sách qua cầu xong quay mặt lại chờ Hạng Vương. Hạng Vương đuổi
theo, vừa qua khỏi cầu thì Hàn Tín sai quân phá cầu, rồi sai đem chiến xa ra
làm tường lũy, bắn tên tua tủa vào quân Sở. Quân Sở không thoát được đều bị
giết hết, Hạng Vương dẫn theo Quý Bố phá vây mà chạy. Hai nước Hán, Sở lại lâm
vào thế giằng co.
Tháng sáu năm 205 TCN, Ngụy Vương Báo (Ngụy Báo) lấy cớ xin nghỉ để về
thăm cha bị bệnh. Về đến nước, Ngụy Vương liền cắt đường giao thông ở Hà Quan,
phản lại Hán, giao hiếu với Sở.
Hán vương sai Lịch Tự Cơ thuyết phục Báo, nhưng Ngụy Báo không nghe.
Tháng tám năm 205 TCN, Lưu Bang phong Hàn Tín làm tả thừa tướng để đánh
Ngụy. Ngụy Báo
đem nhiều binh đến Bồ Bản chặn cửa sông Lâm Tấn. Hàn Tín dàn thêm nghi
binh, bày thuyền bè như muốn vượt qua sông Lâm Tấn; nhưng trái lại dùng phục
binh đi đường đất Hạ Dương, lấy thùng gỗ để cho quân vượt qua sông, đánh úp cựu
đô của Ngụy là An Ấp.
Ngụy Vương Báo cả kinh, đem binh quan về đánh trả nhưng đã muộn. Hàn
Tín đánh chiếm đất Ngụy, bắt Ngụy Báo, bình định đất Ngụy, lập thành quận Hà
Đông.
Hàn Tín trợn mắt hỏi Nguỵ Báo (魏 豹):
- Nhà ngươi khi ở Hán làm chức Nguyên Soái không tròn nhiệm vụ, để quân
thất trận nơi Truy Thủy. Lẽ ra, Chúa Thượng chiếu luật trừng phạt, nhưng lại để
cho nhà người được về nước, giữ y vương vị, ân đức ấy nhà ngươi không cố sức
báo đền, lại nghe lời thầy tướng mà phản phúc. Nay ta bắt ngươi, đáng ra phải
chém đầu, song nghĩ nhà ngươi là vua của một nước…
Tới đây, Hàn Tín bỗng dưng truyền Tào Tham và Quán Anh mở trói cho Nguỵ
Báo, ân cần mời ngồi, đoạn hạ giọng:
- Nhà ngươi là vua của nước Tây Nguỵ, ta hỏi ngươi câu nầy…
Ngụy Báo cúi mặt, nói:
- Nguyên Soái cứ hỏi.
Hàn Tín biết chữ Ngụy (魏) là HỌ của Ngụy Báo (cũng như NGỤY là tên
của nước NGỤY) nhưng lại đồng âm với chữ Ngụy (偽) có nghĩa là gian dối, trộm cắp, loạn thần
(như ngụy triều), nhưng muốn thử tinh thần Ngụy Báo, Tín bèn mỉm cười, hỏi:
- Nhà ngươi là vua của nước Tây Ngụy. Thế, ngươi có biết chữ Ngụy nghĩa
là gì không?
Ngụy Báo đáp nhanh:
- Tôi nghĩ, theo ý tướng quân chữ Ngụy (偽) có
nghĩa là… gian trá, trộm cắp, loạn thần. Nhưng tôi biết ngoài ra, còn có…
Hàn Tín cướp lời, hỏi tiếp:
- Giả trá, nghĩa là không thật, tức là không có chính nghĩa. Thế sao
người không đổi bằng một cái tên khác?
Ngụy Báo ngẩng cao đầu, giọng sang sảng trả lời:
- Ngụy (魏) của tôi là Quốc Hiệu là của tổ tiên truyền lại, nên
không thể thay đổi.
Hàn Tín giả lơ, lại nói:
- Chính vì cái … giả là không thật cho nên ngươi mới thua trận.
Rồi Hàn Tín hạ giọng, đặt điều kiện:
- Thôi được, ta sẽ tha cho ngươi về Tây Ngụy tiếp tục làm vua với một
điều kiện, ngươi phải đổi lại Quốc Hiệu không còn là… Ngụy nữa. Ngươi nghĩ thế
nào?
Nguỵ Báo nghiêm sắc mặt, nói:
- Nếu như Nguyên Soái vì đức hiếu sinh mà tha mạng cho Báo nầy, thì tôi
nguyện kết cỏ ngậm vành. Còn như Nguyên Soái tha cho tôi mà kèm theo điều kiện,
thì tôi thà chịu chết. Bởi, không có gì hèn hạ và thấp kém cho bằng, khi ban ơn
cho người, lại kèm theo điều nầy, điều nọ…
Hàn Tín cả cười, nói:
- Chữ Nguỵ có đẹp đẽ chi đâu, sao ngươi lại khăng khăng giữ lấy để nhận
cái chết?
Ngụy Báo nhìn vào mặt Hàn Tín, thẳng thắn đáp:
- Tôi không thể làm trái ý tổ tiên. Tôi vẫn biết, kẻ chiến bại không
bao giờ được bước qua Khải Hoàn Môn. Còn kẻ chiến thắng muốn vẽ rắn thêm chân,
nói vượn, nói hươu làm sao mà chẳng được? Duy có điều…
Hàn Tín đưa mắt dò xét:
- Điều gì?
Một thoáng nghĩ ngợi, Ngụy Báo, nói:
- Tôi biết khi nói ra điều nầy, Nguyên Soái sẽ không bằng lòng. Nhưng
dẫu chết tôi cũng nói.
Hàn Tín giục:
- Ngươi cứ nói. Ta nghe đây!
Nguỵ Báo hăm hở:
- Kẻ chiến thắng chưa chắc đã có thực tài hay có chánh nghĩa. Đó chẳng
qua do thời thế phải thế mà thôi! Như nguyên Soái trước kia bị người đời miệt
khinh là kẻ lòn trôn giữa chợ, ai nấy cũng nhìn Ngài bằng ánh mắt… là kẻ lòn
trôn. Nhưng bây giờ. có ai dám bảo Ngài là… kẻ lòn trôn nữa không? Chắc chắn là
không! Vả lại, nếu Ngụy Báo nầy chỉ vì tham sanh úy tử, vì cái danh lợi phù du
mà phản bội tổ tiên, phản bội đất nước mình thì Báo nầy há chẳng phải giống như
loài giun dế sao? Nếu Ngài ban cho cái chết thì Báo nầy vui lòng chấp nhận. Còn
nếu Ngài xui Báo là điều phi nghĩa thì Ngụy Báo nầy tuyệt đối không thể và sẵn
sàng chấp nhận rơi đầu.
Hàn Tín nghe qua vỗ án, bật cười khoái chí, khom mình vòng tay trước
Ngụy Báo, lời cung kính:
- Khí khái! Khí khái! Ha! Ha! Ha.a…a.a! Kể ra, Ngụy vương Báo rõ là
người đầy khí khái! Nếu ta giết một người đầy bản lĩnh, giàu khí khái như ông, tất
sẽ bị người đời nguyền rủa. coi ta như bọn thất phu! Đời đời chẳng những miệt
khinh mà còn nguyền rủa một cách tệ hại! Vậy ta xin tha Người về nước. Xin đừng
cảm ơn hạ tướng nầy mà hãy tiếp tục làm một vị vua sáng suốt để muôn dân được
nhờ ân đức.
Tào Tham nghe thấy, liền vội can:
- Nguyên Soái tự ý tha cho Nguỵ Báo sẽ bị mang tội với Hán Vương!
Hàn Tín khẳng khái:
- Hán Vương là đấng anh minh, tất phải biết câu: “Tướng quân tại ngoại…”.
Ngươi chớ có nói nhiều. Ngươi lập tức truyền lệnh ta hãy cấp người hầu, xe ngựa
và lương thực cho Ngụy Vương lên đường về Tây Ngụy. Đồng thời ngươi thay ta đưa
tiễn Ngụy Vương mươi dặm đường.
Tào Tham vâng mệnh ra đi. Quán Anh thấy vậy ra chiều nghĩ ngợi, đợi
Ngụy Báo đi rồi mới hỏi Hàn Tín:
- Tôi biết Nguyên Soái là người trí dũng, nên tôi chưa thể đoán ra việc
Nguyên Soái tha cho Ngụy Báo.
Hàn Tín trầm ngâm một lúc lâu, nói:
- Ta đánh tráo hai chữ Ngụy để thử tinh thần Ngụy Báo, nhưng ông ta nói
chí phải. Ngụy chỉ là cái tên gọi. Vì vậy, không thể lấy đó làm thước đo trí
tuệ của vua quan, cũng như trình độ dân trí của họ. Tướng quân hãy mau truyền
lịnh ta. Tất cả các tướng sĩ, không được vì chiến thắng mà sinh lòng kiêu ngạo,
bởi đó hành động hạ đẳng của bọn kiêu binh! Đừng có nghĩ, “TA” là kẻ chiến
thắng thì cái gì của mình hay, cũng đúng, rồi đưa cái “TA” lên trên thiên hạ. Đời
chỉ có “TA” ngu thôi, còn trăm họ luôn sáng suốt!
Đã là kẻ thắng cuộc, nếu ta không hơn kẻ chiến bại tất cả mọi mặt, thì
ít ra cũng có mặt ta hơn. Đó là điều khó khăn nhất! Nếu là kẻ thắng cuộc thì ta
phải làm được điều gì cho quân dân phe chiến bại thấy rằng, họ thua ta là xứng
đáng, là vì họ thiếu chánh nghĩa. Có như vậy, thì chiến thắng kia mới thực sự
vinh quang. Còn nếu như ta chiến thắng họ rồi tỏ ra ươn hèn, ngu si trước kẻ
thù chung của dân tộc, của đất nước và, không có chính nghĩa bằng kẻ chiến bại,
thì liệu cái chiến thắng đó có vinh quang, có được sử sách ghi chép chiến công?
Hay sau nầy, qua sách sử cháu con bọn ta sẽ bị cả dân tộc nầy nguyền rủa ông
cha chúng là những kẻ vì lợi ích riêng tư mà bán rẻ cả dân tộc, bán rẻ cả tổ
quốc?
Trước khi vâng lịnh lui ra, Quán Anh vòng tay thi lễ, cung kính nói:
- Lời Nguyên Soái chí phải! Đúng là châu báu cũng không sánh bằng. Trong
tâm trí của kẻ thua trận và nhân dân của họ không tâm phục khẩu phục thì sự
chiến thắng đó chẳng có gì vinh dự cả! Và, còn làm cho kẻ chiến bại họ xem sự
chiến thắng đó giống như… lũ chó đói trên đồng hoang vớ phải… c… ứt!
Hàn Tín đưa tay vỗ vỗ vào vai Quán Anh, giọng thân tình nói:
- Không ngờ… tướng quân Quán Anh là người hiểu thấu ruột gan Tín nầy.
Ha! Ha..a..a.a!
Sau đó, Hán Vương lại sai Hàn Tín đi đánh nước Đại.
Tháng chín nhuận, năm 205 TCN, Hàn Tín phá quân Đại, bắt được thừa
tướng Hạ Duyệt, người được Đại vương Trần Dư ủy quyền cai quản đất Ứ Dự của
nước Đại. Lúc đó chiến sự giữa Hán và Sở đang rất gay go, Hán Vương bị Sở Bá
vương tấn công mạnh mẽ. Hán Vương nghe tin Hàn Tín diệt liền hai nước, liền truyền
thu tinh binh của ông đem đến Huỳnh Dương để chống Sở.
Hàn Tín và Trương Nhĩ mộ quân mới, được mấy vạn người, đi về phía Đông
xuống Tỉnh Hình để đánh Triệu. Vua Triệu và Trần Dư nghe tin quân Hán sắp đánh
úp, bèn tụ tập quân đội ở Tỉnh Hình, phao là hai mươi vạn. Tướng Triệu là Lý Tả
Xa bày mưu cho Trần Dư nên cố thủ và chẹn đường vận lương của quân Hán nhưng
Trần Dư không nghe theo.
Hàn Tín sai người sang thám thính, biết mưu của Lý Tả Xa không được
dùng, bèn đem quân thẳng xuống. Chưa đến cửa Tỉnh Hình, cách ba mươi dặm, dừng
lại cắm trại. Nửa đêm truyền lệnh xuất phát. Chọn hai nghìn kỵ binh trang bị
nhẹ, mỗi người cầm một lá cờ đỏ đi theo đường tắt lén lút sang theo dõi quân
Triệu.
Xong, Hàn Tín truyền lệnh cho đoàn kỵ binh:
- “Triệu thấy ta chạy, thế nào cũng bỏ trống thành mà đuổi ra. Các
ngươi tiến ngay vào trong thành, nhổ cờ của Triệu dựng cờ đỏ của Hán.
Sau đó ông sai các tùy tướng truyền bảo cho binh sĩ ăn cơm lót lòng
thôi, và nói:
- “Hôm nay phá quân Triệu xong sẽ họp nhau ăn tiệc.”
Các tướng nghe lệnh nhưng vẫn nghi hoặc không ai tin.
Sau đó Hàn Tín nói với tướng sĩ:
- “Quân Triệu đã giữ địa thế tiện lợi trước để xây đồn lũy, chúng lại
chưa thấy cờ trống, chúng chưa thấy quân ta nên chưa chịu tiến lên đánh đội
tiên phong vì chúng sợ đến nơi đường hẹp, hiểm trở ta phản công thì khó quay
lại.
Rồi Hàn Tín sai một vạn người đi trước bày trận quay lưng ra sông. Đó
là phép tối kỵ trong binh pháp vì theo binh pháp, phải dựa vào núi và nhìn ra
sông, nếu tựa vào sông sẽ bị kẻ địch đánh dồn tới hết đường chạy, đó là chỗ
chết. Vì thế quân Triệu ở xa nhìn thấy, khinh chê nói cười nghiêng ngửa.
Lúc bình minh, Hàn Tín truyền dựng cờ đại tướng, đánh trống lên, kéo
quân ra cửa Tỉnh Hình. Quân Triệu mở cửa lũy, đánh nhau to một hồi lâu. Bấy giờ
Hàn Tín, Trương Nhĩ lệnh cho vờ bỏ cờ trống chạy đến đạo quân gần sông. Đạo quân
gần sông rẽ ra, đón lấy họ, rồi lại chiến đấu dữ dội.
Quả nhiên quân Triệu bỏ thành ra tranh lấy cờ trống của Hán, đuổi theo quân
Hàn Tín, Trương
Nhĩ.
Khi quân Hàn Tín, Trương Nhĩ đã nhập vào đạo quân ở gần sông thì quân
đội đều liều chết chiến đấu không thể nào địch quân đánh bại được. Hai nghìn
quân kỵ mà Tín đã cho đi từ trước chờ đến khi quân Triệu bỏ lũy trống để đuổi
theo để lấy cờ trống của Hán, liền phi ngựa nhanh vào trong thành, nhổ tất cả
cờ xí của Triệu để dựng hai nghìn lá cờ đỏ của Hán.
Quân Triệu đã không thắng, không bắt được Hàn Tín và các tướng Hán,
muốn quay trở về đồn, nhưng trong thành toàn là cờ đỏ của Hán thì cả sợ, cho
rằng quân Hán đã bắt được tướng của Triệu Vương rồi. Quân sĩ hỗn loạn bỏ chạy.
Tướng Triệu chém những kẻ bỏ chạy cũng không ngăn được. Quân Hán hai bên áp
lại, phá tan quân Triệu, chém Trần Dư trên sông Chi Thủy, bắt sống Triệu Vương
Yết.
Hàn Tín ra lệnh cho quân đội không được giết Lý Tả Xa, ai bắt sống được
ông ta thì thưởng ngàn vàng. Có người trói Tả Xa nộp dưới cờ, Tín bèn cởi trói
cho ông ta và cho ngồi quay mặt về hướng Đông, còn mình ngồi quay mặt về hướng
Tây, bái làm thầy… (xin xem phần trích
dẫn dưới đây)
Lý Tả Xa (李左车).
Trích Sử Ký Tư Mã Thiên – Phần Hoài Âm Hầu: “Lý tả Xa người Bách Nhân, là cháu nội Lý Mục là tướng Triệu; cha là Bạc, làm Trung đại phu chiêm
sự đời Tần. Tả Xa làm việc cho Triệu vương Hiết, được phong Quảng Vũ Quân, tức
là thành cũ Quảng Vũ đời Minh. Ông là mưu sĩ nước Triệu cuối đời Tần, từng
khuyên tướng Hán là Hàn Tín chiêu dụ thay vì phát binh tiến đánh 2 nước Yên,
Tề, kết quả thành công.
Tháng 10 năm 204 TCN, bọn tướng Hán là Hàn Tín, Trương Nhĩ đưa mấy vạn
quân vượt núi Thái Hành, đông tiến đánh Triệu, lúc nầy đang phụ thuộc nước Sở.
Tả Xa theo Thành An quân Trần Dư tập trung binh lực ở cửa Tỉnh Hình, chiếm giữ
địa hình có lợi, chuẩn bị cùng Hàn Tín quyết chiến. Ông nghĩ, quân Hán đi xa
thiếu lương, sĩ tốt đói mệt, vả lại Tỉnh Hình đường sá chật hẹp, ngựa xe không
dùng được, nghiêm thủ thì khó lòng thất bại; tự xin nắm 3 vạn quân, theo đường
nhỏ cắt đứt đường vận lương của quân Hán. Trần Dư không nghe, kiên quyết đón
đánh quân Hán.
Hàn Tín bày "trận Bối thủy" dọc theo bờ đông sông Bí, đánh
cho quân Triệu đại bại. Tín treo thưởng ngàn vàng cho ai bắt được Tả Xa. Không
lâu sau, có người trói ông đưa đến trước trướng.
Hàn Tín lập tức cởi trói cho ông, mời ngồi quay mặt về hướng đông, Hàn
Tín ngồi quay mặt về hướng Tây, bái làm thầy.
Hàn Tín hỏi Quảng Vũ Quân (Lý Tả Xa):
- “Kẻ hèn nầy muốn bắc đánh Yên, đông dẹp Tề, làm thế nào thì thành
công?”
Quảng Vũ Quân, tạ rằng:
- “Tôi nghe tướng thua trận, không thể kể chuyện dũng cảm; đại phu mất
nước, không thể toan mưu giữ gìn. Nay tôi là tên tù thất bại mất nước, sao có
quyền bàn đến việc lớn!?”
Tín nói:
- “Kẻ hèn nầy nghe nói, Bách Lý Hề ở nước Ngu thì nước Ngu bị mất, ở
nước Tần thì nước Tần xưng bá, không phải Bách Lý Hề ở Ngu thì ngu, ở Tần thì
khôn, ấy là do được dùng hay không! Nếu như Thành An Quân nghe theo kế của túc
hạ, thì Tín nầy đã bị bắt rồi.”
Nói xong, cố nài rằng:
- “Kẻ hèn nầy dốc lòng theo kế, xin túc hạ chớ từ khước từ thành ý”.
Quảng Vũ Quân nói:
- “Tôi nghe kẻ khôn nghĩ ngàn việc, ắt có một việc sai; kẻ ngu nghĩ
ngàn việc, ắt có một việc đúng. Nên mới có câu “lời của kẻ rồ, thánh nhân cũng
xét đến”. (Nguyên văn: 千虑一得 (Hán Việt:
Thiên lự nhất đắc. Tạm dịch: ngàn nghĩ được một). Nguyên văn: “智者千虑, 必有一失; 愚者千虑, 必有一得” (Hán
Việt: trí giả thiên lự, tất hữu nhất thất; ngu giả thiên lự, tất hữu nhất
đắc. Tạm dịch: kẻ khôn nghĩ ngàn
việc, ắt có một việc sai; kẻ ngu nghĩ ngàn việc, ắt có một việc đúng).
Chỉ e kế của tôi chưa chắc đã dùng được, chỉ xin tỏ lòng ngu trung. Ôi!
Thành An Quân có kế bách chiến bách thắng, trhế mà một sớm, một chiều lại thất
bại, quân bại dưới thành Khao, thân chết gần sông Bí. Nay tướng quân vượt Tây
Hà, cầm tù Ngụy Vương (Ngụy Báo), bắt Hạ Duyệt ở Át Dữ, một trận lấy Tỉnh Hình,
không đầy một buổi sáng phá 20 vạn quân Triệu, giết Thành An Quân. Tiếng nổi
trong nước, oai vang thiên hạ, nông phu không ai không nghỉ cấy buông cày, mặc
áo đẹp, ăn món ngon, nghiêng tai để đợi mệnh.
Như thế, là sở trường của tướng quân vậy. Nhưng mà giờ đây sĩ nhọc, tốt
mỏi, kỳ thật khó dùng.
Nay tướng quân muốn cất quân vất vả, đình đốn dưới thành nước Yên, muốn
đánh thì sợ lâu ngày không nhổ được, tính rõ thì thế yếu, lâu ngày thì hết
lương, mà nếu Yên không phục, Tề ắt giữ biên giới chống lại. Yên – Tề giằng co
không hạ được, thì quyền vị của Lưu (Bang) – Hạng (Vũ) chưa phân rõ. Như thế
ấy, tức là sở đoản của tướng quân vậy.
Tôi ngu, trộm cho rằng làm thế là sai. Bởi kẻ giỏi dùng binh không lấy
đoản đánh trường, mà lấy trường đánh đoản.”
Hàn Tín nói:
- “Vậy Tín nầy nên làm thế nào?”
Quảng Vũ Quân đáp rằng:
- “Đương lúc nầy xin bày kế cho tướng quân, chẳng bằng xếp giáp dừng
binh, vỗ về những đứa con mất cha của nước Triệu; trong vòng trăm dặm, đem bò
rượu đến đãi hết ngày, đem thết sĩ phu và khao binh sĩ; đề phòng nước Yên ở mặt
Bắc, rồi sau đó sai biện sĩ đem thư bộc lộ sở trường của ở Yên, Yên ắt chẳng
dám không nghe theo. Yên đã theo, thì sai sứ giả truyền lời sang nước Tề ở phía
đông, Tề ắt thuận thời mà theo; dẫu có kẻ khôn, cũng không thể bày kế cho Tề.
Như thế, thì thiên hạ có thể lấy được. Việc binh vốn có phép trước hư (đánh
tiếng) rồi sau thật (dùng binh) vậy.”
Hàn Tín nói:
- “Chí phải." Tín nầy xin theo sách lược của ông”. Rồi sai sứ đi
Yên, Yên thuận thời mà hàng.)
(ngưng trích).
Các tướng đem thủ cấp các tướng Triệu và tù binh đến nộp đâu đấy và
chúc mừng, nhân dịp hỏi Hàn Tín:
- “Binh pháp nói, “khi dàn binh phải chọn, bên phải và sau lưng thì có núi
gò, trước mặt bên trái thì có sông đầm, nay tướng quân lại sai bọn chúng tôi
quay lưng ra sông mà bày trận, nói rằng phá xong quân Triệu sẽ ăn cơm. Bọn
chúng tôi không phục nhưng kết quả lại thắng, không biết đó là thuật gì?”
Hàn Tín cười đáp:
- “Điều đó có ở trong binh pháp, chỉ có điều các ngươi không xét đến mà
thôi. Chẳng phải binh pháp có nói: “Hãm vào đất chết thì sau đó mới sống, dắt
vào chỗ mất thì sau đó mới còn” hay sao? Vả chăng không phải ta đã có những
tướng sĩ đã từng được huấn luyện sao? Đây cũng như người ta nói là buộc những
người ngoài chợ phải đi đánh giặc. Trong tình thế đó, nếu không đặt họ vào nơi
đất chết thì họ không thể nào chiến đấu. Ta đặt họ vào đất chết khiến cho người
nào cũng vì mình mà chiến đấu thì sao chẳng thành công? Nếu như ta để cho họ
vào nơi đất sống thì họ đều bỏ chạy, ta còn làm sao dùng họ được nữa?”
Theo kế của Lý Tả Xa, Hàn Tín cho quân nghỉ ngơi, bình định nước Triệu,
rồi sai người mang một bức thư sang nước Yên dụ Yên vương Tang Đồ. Tang Đồ sợ
thế quân Hán bèn xin theo.
Hàn Tín sai sứ báo với Hán, nhân tiện xin lập Trương Nhĩ làm Triệu
Vương để cai trị và vỗ về nước này. Vua Hán ưng thuận, bèn lập Trương Nhĩ làm
Triệu Vương.
***
Hạng Vũ mấy lần sai kỵ binh vượt qua sông Hoàng Hà đánh Triệu. Triệu
Vương Nhĩ và Hàn Tín
đi đi lại lại để cứu Triệu, nhân lúc đi lại bình định các thành ấp ở
Triệu, đem binh đến giúp Hán Vương.
Hạng vương đang bận vào việc vây Hán Vương ở Huỳnh Dương, nên không thể
dồn đại quân đánh Triệu. Hán Vương bị quân Sở vậy ngặt, phải trốn ra về phía
Nam, đến giữa miền Uyển và Diệp, chạy vào Thành Cao. Hạng Vũ lại bao vây rất
gấp.
Tháng sáu năm 204 TCN, Hán Vương ra khỏi Thành Cao, chạy về hướng đông,
vượt qua sông Hoàng Hà, chỉ có một mình Hạ Hầu Anh cùng đi. Hán Vương theo quân
của Trương Nhĩ đến Tu Vũ. Đến nơi, Hán Vương nghỉ ở ngoài quán trọ. Sáng sớm,
Hán Vương tự xưng là sứ thần nhà Hán, phi ngựa vào trong thành Triệu. Trương
Nhĩ, Hàn Tín chưa dậy, Hán Vương vào trong phòng ngủ, cướp ấn tín và binh phù,
dùng cờ mao để triệu tập các tướng, thay đổi chức vị các tướng.
Khi Hàn Tín và Trương Nhĩ thức dậy, mới biết là Hán Vương đã đến. Hán
Vương sau khi đoạt quân của hai người liền ra lệnh cho Trương Nhĩ giữ lấy đất
Triệu, phong Hàn Tín làm tướng quốc, thu quân đội của Triệu chưa phái đến Huỳnh
Dương để đánh Tề.
Hàn Tín đem quân sang Đông, chưa vượt qua bến sông Bình Nguyên thì nghe
tin sứ thần của Hán Vương là Lịch Tự Cơ đã thuyết phục được nước Tề đầu hàng.
Hàn Tín muốn dừng lại. Người biện sĩ đất Phạm Dương là Khoái Triệt bàn với Hàn
Tín:
- “Tướng quân nhận chiếu đánh nước Tề, nay Hán Vương chỉ sai một người
ly gián mà khiến nước Tề đầu hàng, nhưng đã có chiếu chỉ bảo tướng quân dừng
lại đâu? Tại sao tướng quân lại không đi? Vả chăng Lịch Sinh là một kẻ sĩ kính
cẩn chỉ múa ba tấc lưỡi mà hạ được hơn bảy mươi thành của nước Tề, tướng quân
cầm mấy vạn quân hơn một năm mới hạ được hơn năm mươi thành của Triệu. Làm tướng
quân bao năm mà công không bằng một anh nhà nho hay sao?”
Hàn Tín cho là phải, theo kế của Khoái Triệt, mang quân vượt qua sông
Hà.
Nước Tề đã nghe lời Lịch Sinh nên giữ Lịch Sinh ở lại uống rượu, triệt
bỏ các quân đội để phòng ngự quân Hán. Hàn Tín nhân đó đánh úp quân Tề ở Lịch
Hạ, đi đến Lâm Tri. Vua Tề là Điền Quảng cho rằng Lịch Sinh lừa mình nên nấu
Lịch Sinh và trốn đến đất Cao Mật, sai sứ đến nước Sở để cầu cứu. Sau khi đã
bình định Lâm Tri, Hàn Tín đi về hướng Đông, đuổi Quảng đến phía Tây đất Cao
Mật.
Hạng Vương nghe cầu cứu của Tề, bèn sai Long Thư làm tướng, phao là hai
mươi vạn quân, đem quân đến cứu Tề. Vua Tề là Điền Quảng cùng Long Thư dồn quân
để đánh nhau với Hàn Tín.
Long Thư bày trận hai bên sông Tuy Thủy. Hàn Tín đang đêm sai người đan
hơn một vạn cái vỏ đổ đầy đất chặn lấy thượng lưu dòng sông rồi đem quân qua
nửa chừng đánh Long Thư, giả vờ thua, quay lưng bỏ chạy về. Long Thư quả nhiên
mừng rỡ nói:
- “Ta biết Hàn Tín nhát gan mà!”
Bèn dẫn quân đuổi theo, qua sông. Lúc đó Hàn Tín cho người phá các vỏ
đựng đất, nước sông chảy cuồn cuộn, ào ào như thát đổ, đại quân của Long Thư qua
quá nửa sông không qua tiếp được, cũng chẳng quay lại được. Hàn Tín mới thúc
quân đánh gấp, giết được Long Thư. Bộ phận quân của Long Thư phía đông dòng sông
(tức phía bên kia bờ) bỏ chạy tán loạn.
Vua Tề là Điền Quảng chạy trốn. Hàn Tín liền đuổi theo đến đất Thành
Dương, bắt bỏ tù tất cả lính Tề.
Năm 203 TCN, Hàn Tín bình định nước Tề, sai người báo với Lưu Bang:
- “Nước Tề là nước gian dối, hay gây biến, tráo trở. Biên giới phía Nam
là nước Sở, nếu không lập giả vương để giữ thì không thể bình định được. Xin
cho tôi làm giả vương.”
Lúc bấy giờ quân Sở đang vây Hán Vương rất gấp ở thành Huỳnh Dương. Sứ
giả của Hàn Tín đến, Hán Vương mở phong thư ra, cả giận mắng:
- “Ta đang nguy khốn ở đây, sớm chiều trông nó đến giúp thế mà nó lại
muốn tự lập làm vương à?”
Các mưu sĩ Trương Lương, Trần Bình giẫm vào chân Hán Vương, nhân đấy
ghé vào tai Hán Vương nói:
- “Nhà Hán hiện nay bất lợi, có thể cấm không cho Tín làm vương được
không? Chi bằng nhân đấy mà lập, đối xử với ông ta cho tử tế, khiến ông ta vì
mình mà giữ. Nếu không sẽ sinh biến.”
Hán vương nghe theo, liền sai Trương Lương đi lập Hàn Tín làm Tề Vương,
trưng dụng binh của ông đến đánh Sở.
Nghe tin Long Thư chết, Hạng Vương lo lắng sai Vũ Thiệp, người Vu Thai
đến nói với Tề Vương Tín (Hàn Tín), hãy phản Hán để chia ba thiên hạ nhưng ông
từ tạ rằng:
- “Tôi thờ Hạng Vương, quan chẳng qua là lang trung, địa vị chẳng qua
là cầm kích đứng hầu ở điện, lời nói ra không được nghe, mưu kế đưa ra không
được dùng, cho nên tôi bỏ Sở mà theo Hán. Hán Vương trao cho tôi ấn thượng
tướng quân, giao cho tôi mấy vạn binh, cởi áo của mình để cho tôi được dùng.
Cho nên tôi mới được như thế này. Phàm người ta hết sức tin cậy mình thành thực
như thế mà mình phản lại là điều chẳng lành. Tôi dù chết cũng không thay lòng
đổi dạ. Nhờ ông thưa lại với Hạng Vương rằng Tín nầy từ chối.”
Sau khi Vũ Thiệp đi rồi, người nước Tề là Khoái Triệt biết rằng thiên
hạ ai thắng ai bại là ở Hàn Tín, cũng ra sức thuyết phục ông cắt đất Tề, Yên,
Triệu để chia ba thiên hạ, tạo thế chân vạc. Nhưng ông nói với Khoái Triệt
rằng:
- “Vua Hán đối đãi tôi rất hậu, lấy xe của mình để cho tôi đi, lấy áo
của mình để cho tôi mặc, lấy cơm của mình để cho tôi ăn. Tôi nghe nói “đi xe
người ta thì lo điều lo của người ta, mặc áo của người ta thì mang điều lo nghĩ
của người ta, ăn cơm người ta thì chết cho công việc của người ta”. Tôi lẽ nào
lại chạy theo lợi mà quên nghĩa?
Khoái Triệt cố phân tích mọi lẽ để thuyết phục, ông nói thêm mấy lần
nữa cũng không lay chuyển nổi vì Hàn Tín không nỡ phản lại Nhà Hán. Ông lại tự
cho rằng mình lập được nhiều chiến công, vua Hán dẫu sao cũng không lấy mất
nước Tề của mình, nên ông bèn từ tạ Khoái Triệt. Khoái Triệt nói không được,
bèn giả điên, làm người thầy cúng.
Sau hoà ước Hồng Câu, năm 202 TCN, Hán vương theo kế của Trương Lương,
bội ước mang quân đánh úp Hạng Vương, nhưng vẫn bị Hạng Vương quay lại đánh cho
đại bại ở Cố Lăng. Lưu Bang lo sợ, bèn theo kế của Trương Lương, triệu Hàn Tín
cùng Bành Việt mang quân về giúp, hứa sẽ phong cho nhiều đất.
Hàn Tín cùng Bành Việt nghe theo, đem binh họp nhau với Hán vương ở Cai
Hạ. Hạng Vương thấy quân Hán ngày càng đông, biết không thắng được, bèn hạ lệnh
quay về phía đông rút về Bành Thành. Hàn Tín đem quân tập kích quân Sở giữa
đường, Hạng Vương tức giận đem quân quay lại. Hàn Tín giả rút lui, trên đường
đã đặt sẵn quân mai phục khắp các mặt. Hạng Vương không biết là bẫy, đi đến đâu
cũng bị quân Hán đổ ra tập kích, không sao thoát được, cuối cùng thì phải rút
vào Cai Hạ. Mấy mươi vạn quân Hán siết chặt vòng vây, quân Sở bị vây kín mười
mặt.
Theo kế Trương Lương, Lưu Bang cho quân Hán bốn phía cùng ca bài ca
nước Sở (tứ diện Sở ca). Quân Sở nghe tiếng hát, nghĩ là Sở bị Hán chiếm rồi,
bèn đào ngũ trốn đi hết. Ái thiếp của Hạng Vương là Ngu Cơ tự sát, Hạng Vương
cùng 800 thân binh phá vây, đến bờ Ô Giang thì chỉ còn 26 người. Có người đình
trưởng chờ ở bờ sông muốn đưa Hạng Vương qua sông về Giang Đông nhưng Hạng
Vương từ chối rồi cùng 26 kỵ binh bỏ ngựa tử chiến. Hạng Vương một mình giết
mấy trăm người, chịu mười mấy vết thương, cuối cùng đâm cổ tự sát. Tây Sở diệt
vong.
Sau khi Hạng Vũ đã bị phá, Lưu Bang lập tức đoạt lấy quân của Tề Vương Tín
(Hàn Tín) lần thứ hai (lần trước ở thành Tu Vũ).
Hàn Tín vừa lập được công xong lập tức bị tước binh quyền. Tới tháng
giêng năm 202 TCN, Lưu Bang dời Tề Vương Tín làm Sở Vương, đóng đô ở Hạ Bì. Lưu
Bang lên ngôi hoàng đế, lập ra vương triều Đại Hán, tức là Hán Cao Tổ. Nhà Hán
trị vì 400 năm.
Năm ấy, mọi chuyện đã ổn định. Hàn Tín
về quê thăm lại bà Phiếu Mẫu, người mà trước đây đã cưu mang Hàn Tín thuở còn
hàn vi, từng cho cơm Hàn Tín trong cơn đói khát.
Hàn Tín bèn xây nhà, tặng châu báu,
tạo vườn tượt, cung cấp ruộng đất, người hầu và nguyện chăm sóc Phiếu Mẫu đến
cuối đời.
Hàn Tín truyền gọi tên hàng thịt ngày
trước bắt mình lòn trôn giữa chợ đến ban truyền:
- Nhờ trước kia nhà ngươi bắt ta lòn
trôn giữa chợ, mà hôm nay ta trở thành Đại Tướng. Ta rất cám ơn ngươi. Bây giờ
ta ban cho nhà ngươi chức Huyện Lệnh (Quận trưởng) ở đây.
Tên hàng thịt lúc đầu nghe Hàn Tín gọi
đến run như cầy sấy, đến khi nghe Tín ban cho chức Huyện Lệnh như mở cờ trong
bụng, liền dập đầu lạy tạ và nhận lịnh lên đường.
Quán Anh thấy vậy can:
- Một kẻ ngu dốt chuyên làm nghề thịt heo.
Nó biết gì, sao Đại Tướng lại bổ nhiệm làm quan?
Hàn Tín cười, đáp:
- Chỉ trong một thời gian nữa, Tướng
Quân sẽ biết ý định của ta.
Vốn kẻ ngu dốt, học hành không qua chữ Nhất (一) gặp thời bỗng nhiên được phe phái nâng lên làm quan, có uy quyền, ăn trên ngồi trước, bỗng lộc ngày ngày… Tân Huyện lệnh (tên hàng thịt) rất hách dịch, tha hồ giở thói tham lam, hiếp đáp bốc lột đất đai, tài sản dân lành.
Người có học hành, đạo đức làm quan
thường có liêm sỉ, biết nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Còn bọ ngu dốt như tên đồ tể
được làm huyện lệnh chi hại dân, hại nước mà thôi.
Mấy tháng sau, Hàn Tín đến huyền đường
do tên hàng thịt làm huyện lệnh thanh tra sổ sách, phát hiện hắn ta vơ vét của
dân từ bãi cứt khô đến ngoại viện do chánh quyền trung ương rót xuống cứu trợ
thiên tai, bão lụt cho dân, hắn ta đều đớp hết cho vào túi riêng.
Chiếu theo phép nước, Hàn Tín ra lịnh
xử tử, tịch thâu tất cả tài sản của tên huyện lệnh ngu dốt hàng thịt kia sung
vào công quỹ
Trên đường về Quán Anh sực hiểu ra,
bật cười sang sảng. Hàn Tín ngạc nhiên hỏi:
- Sao Tướng Quân lại cười?
Quán Anh, đáp:
- Tôi cười vì khâm phục sự… trả thù
hết sức tuyệt diệu của Nguyên Soái.
Hàn Tín vờ không hiểu:
- Tướng Quân nói ta trả thù? Vậy ta
trả thù ai?
Quán Anh nói:
- Suốt cuộc đời vào chinh ra chiến,
lẫy lừng cùng trận mạc, Ngài thừa hiểu rằng, bọn bất tài vô tướng khi chúng có
chức có quyền bao giờ cũng có lòng tham vô độ. Với một gã bán thịt, kẻ mà trước
đây bắt Ngài lòn trôn giữa chợ, khi Ngài làm Đại Tướng, muốn giết nó lúc nào
không được? Nhưng giết nó lúc đó, người đời sẽ thấy Ngài chú tâm trả thù cá
nhân, nên Ngài ban cho nó chức huyện lệnh, để người người nhìn vào cứ tưởng đó
là tấm lòng vị tha, đức độ, bao dung của Ngài. Nhưng thực ra, Ngài biết những
kẻ ngu dốt như tên hàng thịt kia khi có chức có quyền sẽ lộ rõ chân tướng tham
lam của công, cướp bốc tài sản, đất đai dân nghèo, lúc đó Ngài nhân danh pháp
luật trị tội nó. Giết nó mà được danh chánh ngôn thuận. Chẳng ai dám nghĩ Ngài
giết nó để trả thù riêng.
Hàn Tín cười to, nói:
- “Ôi, sanh ta ra là cha mẹ, hiểu ta
là Quán Anh. Ta rất khâm phục cái trí của Tướng Quân!”
Quán Anh chấp tay xá ba xá đáp lễ, rối
nói:
- Cái trí của kẻ nầy chỉ là cái trí
của giống chim sâu, chim sẻ. Cái trí của Nguyên Soái là cái trí của giống Đại
Bàng, của chim Hồng chim Hộc. Quán Anh nào dám sánh? Nào dám nhận lời khen của
Ngài! Có điều không bóng tối nào được ánh quang rọi đến mà không sáng. Tiểu
nhân được như ngày hôm nay chẳng qua là nhờ được đứng dưới vầng nhật nguyệt mà
thôi!
***
Một lần, lúc thung dung Lưu Bang nói chuyện với Hàn Tín về tài năng của
các tướng, xem tài năng họ như thế nào, Lưu Bang hỏi Hàn Tín:
- “Như ta thì có thể cầm được bao nhiêu quân?”
Hàn Tín nói:
- “Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười vạn.”
Lưu Bang lại hỏi:
- “Thế còn nhà ngươi thì cầm được bao nhiêu?”
Hán Tín trả lời:
- “Thần thì càng nhiều càng tốt!”
Lưu Bang cười nói:
- “Càng nhiều càng tốt thì sao lại bị ta bắt?”
Hán Tín đáp:
- “Bệ hạ không có tài cầm quân, nhưng có tài cầm tướng, vì vậy cho nên
Tín mới bị bệ hạ bắt.
Sau lần đó, Lưu Bang càng sợ tài của Tín và quyết trừ khử cho được.
Viên tướng của Hạng Vương bỏ trốn là Chung Ly Muội nhà ở núi Y Lư, vốn
chơi thân với Tín. Sau khi Hạng Vương chết, Muội bỏ trốn về với Hàn Tín. Hán
Cao Đế truy lùng Chung Muội, nghe nói Muội ở Sở, ra chiếu cho Sở Vương Tín bắt
Muội.
Năm 201 TCN, có người đưa thư lên báo Sở Vương Tín làm phản. Cao Đế
dùng mưu kế của Trần Bình, giả cách thiên tử đi tuần thú hội họp chư hầu. Ở
phương Nam có đất Vân Mộng, Hán Đế bèn sai sứ báo cho chư hầu biết vua sẽ họp ở
đất Trần, rằng: “Cao Đế sẽ đi chơi Vân Mộng, kỳ thực vua Hán muốn bắt Hàn Tín,
nhưng Tín không biết.
Cao Tổ sắp đến Sở, Hàn Tín lo lắng vì chứa Chung Ly Muội trong nhà. Có
người khuyên ông chém Muội để ra mắt nhà vua thì sẽ khỏi tội.
Hàn Tín bèn đến gặp Chung Ly Muội nói về việc ấy, Muội nói:
- “Nhà Hán sở dĩ không dám đánh lấy Sở là vì Muội ở nhà ông. Nay ông
muốn bắt ta để nịnh nhà Hán, thì ta hôm nay chết nhưng ông cũng chết theo như
trở tay mà thôi.”
Rồi Muội mắng Hàn Tín:
- “Nhà ngươi không phải bậc quân tử!”
Nói xong, Chung Muội tự đâm cổ chết. Hàn Tín cắt đầu Chung Ly Muội đem ra
mắt Lưu Bang ở đất Trần. Lưu Bang sai võ sĩ trói Tín lại chở ở xe sau. Hàn Tín
nói:
- “Đúng như người ta nói: “Thỏ khôn hết thì chó giỏi bị nấu, chim cao
hết thì cung tốt bị cất, nước địch bị phá thì mưu thần hết đời”. Thiên hạ đã
bình định rồi, ta bị nấu là đáng lắm!”
Lưu Bang đáp:
- “Người ta bảo nhà ngươi làm phản”.
Rồi sai áp giải ông về kinh. Đến Lạc Dương thì tha tội cho ông, giáng
làm Hoài Âm Hầu.
Ý kiến của các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Lưu Bang nghe theo các cận
thần, hoặc tự đặt ra chuyện có người tố cáo Hàn Tín mưu phản để lấy cớ bắt ông
mang về kinh quản thúc và giáng chức, kỳ thực Hàn Tín không có tội. Vì vậy khi
đưa Hàn Tín từ nước Sở về kinh, lập tức Lưu Bang hạ lệnh tha Hàn Tín, lý do Tín
không còn binh quyền trong tay để đe dọa ngai vàng của Lưu Bang.
Sử ký Tư Mã Thiên ghi đại ý:
“Năm 196 TCN, Trần Hy làm phản.
Lưu Bang thân hành làm tướng, đem quân đi đánh. Hàn Tín mưu tập hợp người nhà
làm phản ở kinh đô để làm nội ứng cho Trần Hy. Nhưng vì có người môn hạ có tội
với Hàn Tín bị ông bỏ tù, muốn giết đi nên em của người này ra đầu thú báo tin
với triều đình, tố cáo ông muốn làm phản.”
Lã Hậu muốn gọi Hàn Tín vào, nhưng sợ ông không đến, nên bàn với tướng
quốc Tiêu Hà, giả vờ sai người từ ngoài chiến trường chỗ Lưu Bang trở về báo
tin rằng: Trần Hy đã chết, các chư hầu, các quan đều đến mừng. Tiêu Hà lừa Hàn
Tín rằng:
- “Tuy ngài ốm, cũng xin cố gắng vào mừng!”
Hàn Tín theo Tiêu Hà vào cung, Lã Hậu lập tức sai võ sĩ trói ông, rồi
mang chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc. Lúc sắp bị chém, Hàn Tín nói
to:
- “Ta hối hận không dùng mưu kế
của Khoái Triệt, cho nên mới bị bọn đàn bà con nít lừa dối. Há chẳng phái là vì
trời muốn thế hay sao?”
Lã Hậu bèn giết cả ba họ nhà Hàn Tín. Sau khi Lưu Bang đã dẹp xong quân
của Trần Hy trở về kinh đô, thấy Hàn Tín đã chết Hán Cao Đế vừa mừng vừa thương.
Tiêu Hà trước kia là ân nhân của Hàn Tín, ra sức tiến cử ông với Lưu
Bang, nhưng cuối cùng lại chính Tiêu Hà lừa ông vào cung cho Lã Hậu giết. Bởi
vậy đời sau nói rằng Hàn Tín làm nên sự nghiệp nhờ bởi Tiêu Hà mà chết cũng do
tay Tiêu Hà.
Nghi án lịch sử: ĐỌC MƯU THẦN CỦA TƯỚNG XƯA, ĐỂ
THẤY ĐƯỢC CHƯỚC QUỶ CỦA BỌN GIẶC TÀU NGÀY NAY.
Thai Quốc Mưu
Hàn Tín (韓信) 229 – 196 TCN), sanh tại Hoài Âm, nước Sở, nên khi thành danh được
phong Hoài Âm Hầu (淮陰候), ông là một danh tướng bách chiến bách thắng, thiên hạ vô địch. Trong
Cao Tổ Bản Kỷ, Lưu Bang phải thừa
nhận, “Nắm trong tay trăm vạn quân đã đánh là thắng, tiến công là nhất định
chiếm lĩnh thì ta không bằng Hoài Âm Hầu.”
Theo Tây Hán Chí. Hàn Tín
thuở nhỏ mất Cha từ bé, nhà nghèo phải làm nghề câu cá, nuôi Mẹ.
Khi mẹ mất, Hàn Tín bán cả nhà cửa, để xây mộ cho Mẹ trên vùng núi đẹp
đẽ. Vì thế phải xách kiếm đi lang thang.
Có tên đồ tể thấy Hàn Tín gầy gò yếu đuối nhưng lại vác kiếm trông như
võ tướng, hắn muốn làm nhục Tín buộc Tín một là dùng kiếm đánh nhau với gã, hai
là lòn dưới trôn nó. Hàn Tín chấp nhận chui qua háng, mọi người thấy Hàn Tín chịu
bị nhục đều chê cười.
Những khi không câu được cá, Tín không có gì ăn, thường đi xin cơm của
bà lão giặt lụa và hứa hẹn sau này làm nên sự nghiệp sẽ trả ơn ngàn vàng. Bà
lão giặt lụa trách:
- “Cậu là thanh niên trai tráng
mà không lo nổi miếng ăn thì làm sao làm nên sự nghiệp, tôi thấy cậu tội nghiệp
nên giúp, chứ nào có mong cậu đáp đền chi!”
Mọi người nghe thấy đều cho ông là người thấp kém, hèn hạ.
Năm 209 TCN, Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, Hàn Tín ra bờ sông Vị
Thủy cầm kiếm xin tham gia nghĩa quân. Ông đã được Hạng Lương là thế tộc nước
Sở cho gia nhập nghĩa quân. Tuy nhiên, Hạng Lương và cháu là Hạng Vũ xem thường
Hàn Tín thân phận thấp hèn, chỉ cho làm quân cầm kích đứng hầu. Nhiều lần Hàn
Tín bày mưu cho Hạng Vũ, nhưng Hạng Vũ không dùng.
Nhà Tần sụp đổ, Hạng Vũ đứng đầu chư hầu, phân phong cho các tướng và
vua chư hầu. Lưu Bang bị Hạng Vũ tranh công vào Quan Trung, đẩy Lưu Bang vào
đất Thục xa xôi hiểm trở, rồi phong cho Bang làm Hán Vương.
Vào đất Thục, Hàn Tín tự mình tiến cử với Hạ Hầu Anh, lúc đó Hạ hầu Anh
chịu trách nhiệm về việc chiêu hiền đãi sĩ.
Hạ Hầu Anh bèn nói chuyện với Hàn Tín, rất hài lòng, sau đó tâu với Lưu
Bang. Lưu Bang cho ông làm độ úy, coi về thóc.
Hàn Tín thường nói chuyện với tướng quốc của Lưu Bang là Tiêu Hà. Hàn
Tín có nói với Tiêu Hà 1 câu rất nổi tiếng về người làm tướng như sau:
- “Bẩm Thừa Tướng, đạo làm tướng
trước nhất phải có NĂM TÀI" và tránh MƯỜI LỖI. Năm tài là: Trí, Nhân, Tín,
Dũng, Trung. Trí thì biết cẩn thận; Nhân thì biết thương người, Tín thì không
sai hẹn; Dũng thì không ai dám phạm; Trung thì không ở hai lòng.
Còn mười điều lỗi: Một là cậy vào
cái dũng khinh thân mình; Hai là gặp việc gấp thì nóng nảy, thiếu cẩn thận; Ba
là gặp lợi thì ham; Bốn là vì lòng nhân không dám giết kẻ phạm tội ác; Năm là ỷ
lại vào sức mình không biết lo xa; Sáu là tin người mà không phòng; Bảy là
không chịu thu thập ý kiến người khác; Tám là việc đáng làm gấp mà do dự; Chín
là thiên vị, thiếu công bằng; Mười là lười biếng, chỉ muốn sai người. Nếu có đủ
NĂM TÀI và tránh được MƯỜI LỖI ấy, tất là tướng giỏi.”
Tiêu Hà nghe xong rất phục tài ông và hứa tiến cử với Hán Vương.
Đường từ Hàm Dương vào Thục xa xôi, hiểm trở, Lưu Bang cùng các tướng
di chuyển trong thời gian khá lâu.
Khi Hán Vương đến đất Nam Trịnh, trên đường đi, các tướng thấy cõi Thục
độc địa bỏ trốn đến mấy chục người. Hàn Tín xem chừng Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh đã
mấy lần tâu với Lưu Bang nhưng Lưu Bang không dùng mình, nên cũng bỏ trốn. Tiêu
Hà nghe tin Hàn Tín bỏ trốn liền thân hành theo tìm, không kịp báo cho Hán
vương biết.
Lưu Bang coi Tiêu Hà như cánh tay phải, lúc đó đứng ngồi không yên. Mãi
hai hôm sau Tiêu Hà mới về, giãi bày hết với Hán vương và ra sức tiến cử Hàn
Tín:
- “Các tướng đều dễ kiếm thôi, còn như Tín là kẻ quốc sĩ, có một không
hai. Nhà vua nếu cứ muốn làm vương mãi ở Hán Trung, thì chẳng cần Tín làm gì
chứ nếu muốn tranh lấy thiên hạ thì ngoài Tín ra chẳng có thể bàn công việc với
ai.”
Lưu Bang dù chưa thật tin nhưng vì sự khẩn khoản của Tiêu Hà mà phong
cho Hàn Tín làm đại tướng. Khi Hán vương làm trai giới, lập đàn để phong ông,
cả ba quân đều kinh ngạc, không nghĩ rằng người như ông lại được lên làm đại
tướng.
Hàn Tín lên đàn nhận phong xong, bèn phân tích cho Hán vương về những
thế mạnh, yếu của Hạng Vũ và phương sách đánh bại Sở. Hán vương bắt đầu nhận ra
tài năng của ông. Về sau mới biết Tín là người được Trương Lương tiến cử nên
Lưu Bang lại càng xem trọng.
Từ đó Hàn Tín, Trương Lương, Tiêu Hà được Lưu Bang xem là Tam Kiệt của
mình.
Để che mắt các nước Tam Tần, ngay khi vào Thục, Trương Lương cho đốt
đường sạn đạo (con đường nối vùng đất Thục với Tần) khiến không nước nào chú ý
đến Lưu Bang.
Tháng tám năm 206 TCN, Hàn Tín được phong làm đại tướng, bắt đầu ra
quân bình định Tam Tần, do các vua chư hầu Chương Hàm (Ung vương), Tư Mã Hân
(Tắc vương) và Đổng Ế (Địch vương) án ngữ làm phiên giậu cho Sơn Đông để cản
đường Lưu Bang.
Hàn Tín sai người giả vờ đi sửa đường sạn đạo, vốn mất rất nhiều công
sức thời gian, khiến Tam Tần yên trí rằng quân Hán còn lâu mới ra được cửa ải.
Trong khi Hàn Tín dẫn đại quân đi theo đường Trần Thương đi qua huyện
Cố Đạo đánh úp Ung
Vương Chương Hàm. Chương Hàm đón đánh quân Hán ở Trần Thương. Hàn Tín
giả thua chạy, sau đó dùng kế hỏa công mai phục đốt Chương Hàm. Ung vương bị
thua chạy, lại dừng quân đánh đất Hạo Trĩ, bị thua nữa, bỏ chạy đến Phế Khâu.
Hán vương đuổi theo, bình định đất đai của Ung vương, đi về đông đến Hàm Dương,
lại cho một cánh quân riêng vây Ung vương ở Phế Khâu, còn sai các tướng bình
định các vùng Lũng Tây, Bắc Địa, Thượng Quận.
Hàn Tín sau đó đánh Phế Khâu, thấy thành kiên cố dễ thủ khó công. Sau
khi đi thị sát, ông nói với Tào Tham:
- “Dưới chân thành, con sông Bạch Thủy chảy vòng quanh từ Tây Bắc sang
Ðông Nam, làn nước rất mạnh. Nếu ta dùng bịch đựng cát đắp ngang dòng sông, cho
nước dâng lên, tràn vào thành, quân địch ắt phải vào bụng cá hết.”
Tào Tham theo kế, đem một ngàn quân xuống phía nam Phế Khâu lệnh cho
binh sĩ ngày đêm thay phiên nhau dùng lá cọ, lá dừa nước đan bịch. Xong, cho cát
vào bịch đem chắn dòng sông, rồi dẫn nước chảy thẳng vào thành Phế Khâu. Chương
Hàm thất đảm hồn kinh phải bỏ Phế Khâu chạy về Đào Lâm.
Năm 207 TCN, Hàn Tín lại điều quân đánh Tắc Vương Hân, Địch Vương Ế. Bị
đánh bất ngờ, Tư Mã Hân và Đổng Ế đầu hàng. Hàn Tín kéo về đông, Hà Nam Vương
Thân Dương cũng đầu hàng theo. Hán Vương muốn đánh ngay Hàm Dương, Hàn Tín chủ
trương diệt Chương Hàm trước, được Hán Vương đồng ý.
Hàn Tín đem quân đánh Đào Lâm, Chương Hàm tự sát. Hàm Dương nghe tin
liền đầu hàng. Đến đây thì Tam Tần bị diệt, đất Quan Trung rơi vào tay Hán
Vương.
Trong khi đó, Hạng Vũ sau khi giết Hàn Vương Thành, cho người thân tín
của mình là Trịnh Xương làm Hàn Vương. Hàn Vương không chịu đầu hàng Hán. Hàn
Tín mang đại quân đánh bại Trịnh Xương.
Chiếm Hàn Thành, Lưu Bang lập người tông thất nước Hàn, đang làm thái úy,
cũng tên là Hàn Tín làm Hàn Vương, gọi là Hàn Vương Tín.
Tây Ngụy Vương Báo bèn hàng Hán, cùng hợp binh với Hán đánh Ân. Ân Vương
Tư Mã Ngang bị bắt sống.
Hàn Tín ở lại giữ Quan Trung, Hán Vương cùng các tướng tiếp tục đông
tiến, dụ thêm nước Triệu hội quân đánh Sở.
Lúc đó Tây Sở Bá vương Hạng Vũ đang sa lầy chiến tranh ở nước Tề, chưa
diệt được Điền Quảng và Điền Hoành, Hán Vương gom quân chư hầu 56 vạn rầm rộ
tiến vào chiếm cứ kinh đô Sở là Bành Thành. Hạng Vương (Hạng Vũ) mang 3 vạn
tinh binh trở về đánh tan tành quân Hán ở Bành Thành. Quân Hán tan tác rút
binh.
Một loạt các chư hầu như Tư Mã Hân, Đổng Ế, Triệu Yết thấy Sở thắng Hán
lại theo Sở. Cả Điền Hoành nước Tề cũng giảng hoà với Sở. Thế quân Sở mạnh lên,
Hạng Vũ mang quân tây tiến đánh Hán.
Hán Vương thu binh về Huỳnh Dương. Hàn Tín đến tâu với Hán Vương:
- “Tôi ở Hàm Dương đã chế ra được vài trăm cỗ xe để dự bị đánh Sở, loại
chiến xa nầy, có tác dụng rất mạnh trong trận chiến thuộc bình nguyên. Huỳnh
Dương cách đây ba mươi dặm, có một khu đất bằng có thể áp dụng chiến xa được.
Hán Vương nghe nói liền sai thợ ngày đêm theo mẫu xe của Hàn Tín mà chế
tạo thêm được hơn 3.000 chiếc dự bị đánh Sở.
Hạng Vương đem quân đến, Hàn Tín gửi thư cho Hạng Vũ, đại để viết:
“Nguyên soái nhà Ðại Hán Hàn
Tín trao thư Tây Sở Bá Vương khán hạ.
Tín vẫn có sung vào chức Chấp
kích lang của Sở, song, trước kia cùng với Bá vương lập vua Hoài vương, quay
mặt về Bắc xưng thần, đồng triều chấp sự, thì Tín là tôi của vua Nghĩa Ðế chứ
không phải là tôi của Sở, lẽ ấy đã rõ ràng. Chẳng ngờ Ðại vương (Hạng Vũ) lại
giết vua Nghĩa Ðế, chuyên chế chư hầu, thiên hạ oán vọng, còn Tín cũng lấy làm
đau lòng. Những muốn vung gươm giết đứa đại nghịch, trả thù cho vua, nhưng xét
thấy tài hèn sức yếu chưa làm nổi chuyện đó, đành phải sang đầu Hán để bá cáo
tội ác Đại Vương cho thiên hạ biết. Vừa rồi, Tín đóng quân tại Hàm Dương, không
đi đánh Sở, thất cơ một chút đến nỗi quân thua. Nay Tín thống lãnh hùng binh, áo
trắng cờ tang, thi vũ tại Huỳnh Dương trước rửa hờn cho vua Nghĩa Ðế, sau vì
Hán vương tuyết sĩ, thì phen này Đại Vương (Hạng Vũ) khó mà toàn mạng.
Tín báo trước cho Ðại vương giữ
mình.”
Hạng Vương xem xong tức lắm, quát:
- “Thằng lòn trôn khốn nạn đó đã dám dùng lời vô lễ với ta. Phen này,
ta thề không bắt được đứa phản phúc quyết không trở về.”
Hôm sau Hạng Vương đem quân ra đánh với Hàn Tín, Hàn Tín giả thua bỏ chạy,
đến sông Kinh Sách qua cầu xong quay mặt lại chờ Hạng Vương. Hạng Vương đuổi
theo, vừa qua khỏi cầu thì Hàn Tín sai quân phá cầu, rồi sai đem chiến xa ra
làm tường lũy, bắn tên tua tủa vào quân Sở. Quân Sở không thoát được đều bị
giết hết, Hạng Vương dẫn theo Quý Bố phá vây mà chạy. Hai nước Hán, Sở lại lâm
vào thế giằng co.
Tháng sáu năm 205 TCN, Ngụy Vương Báo (Ngụy Báo) lấy cớ xin nghỉ để về
thăm cha bị bệnh. Về đến nước, Ngụy Vương liền cắt đường giao thông ở Hà Quan,
phản lại Hán, giao hiếu với Sở.
Hán vương sai Lịch Tự Cơ thuyết phục Báo, nhưng Ngụy Báo không nghe.
Tháng tám năm 205 TCN, Lưu Bang phong Hàn Tín làm tả thừa tướng để đánh
Ngụy. Ngụy Báo
đem nhiều binh đến Bồ Bản chặn cửa sông Lâm Tấn. Hàn Tín dàn thêm nghi
binh, bày thuyền bè như muốn vượt qua sông Lâm Tấn; nhưng trái lại dùng phục
binh đi đường đất Hạ Dương, lấy thùng gỗ để cho quân vượt qua sông, đánh úp cựu
đô của Ngụy là An Ấp.
Ngụy Vương Báo cả kinh, đem binh quan về đánh trả nhưng đã muộn. Hàn
Tín đánh chiếm đất Ngụy, bắt Ngụy Báo, bình định đất Ngụy, lập thành quận Hà
Đông.
Hàn Tín trợn mắt hỏi Nguỵ Báo (魏 豹):
- Nhà ngươi khi ở Hán làm chức Nguyên Soái không tròn nhiệm vụ, để quân
thất trận nơi Truy Thủy. Lẽ ra, Chúa Thượng chiếu luật trừng phạt, nhưng lại để
cho nhà người được về nước, giữ y vương vị, ân đức ấy nhà ngươi không cố sức
báo đền, lại nghe lời thầy tướng mà phản phúc. Nay ta bắt ngươi, đáng ra phải
chém đầu, song nghĩ nhà ngươi là vua của một nước…
Tới đây, Hàn Tín bỗng dưng truyền Tào Tham và Quán Anh mở trói cho Nguỵ
Báo, ân cần mời ngồi, đoạn hạ giọng:
- Nhà ngươi là vua của nước Tây Nguỵ, ta hỏi ngươi câu nầy…
Ngụy Báo cúi mặt, nói:
- Nguyên Soái cứ hỏi.
Hàn Tín biết chữ Ngụy (魏) là HỌ của Ngụy Báo (cũng như NGỤY là tên
của nước NGỤY) nhưng lại đồng âm với chữ Ngụy (偽) có nghĩa là gian dối, trộm cắp, loạn thần
(như ngụy triều), nhưng muốn thử tinh thần Ngụy Báo, Tín bèn mỉm cười, hỏi:
- Nhà ngươi là vua của nước Tây Ngụy. Thế, ngươi có biết chữ Ngụy nghĩa
là gì không?
Ngụy Báo đáp nhanh:
- Tôi nghĩ, theo ý tướng quân chữ Ngụy (偽) có
nghĩa là… gian trá, trộm cắp, loạn thần. Nhưng tôi biết ngoài ra, còn có…
Hàn Tín cướp lời, hỏi tiếp:
- Giả trá, nghĩa là không thật, tức là không có chính nghĩa. Thế sao
người không đổi bằng một cái tên khác?
Ngụy Báo ngẩng cao đầu, giọng sang sảng trả lời:
- Ngụy (魏) của tôi là Quốc Hiệu là của tổ tiên truyền lại, nên
không thể thay đổi.
Hàn Tín giả lơ, lại nói:
- Chính vì cái … giả là không thật cho nên ngươi mới thua trận.
Rồi Hàn Tín hạ giọng, đặt điều kiện:
- Thôi được, ta sẽ tha cho ngươi về Tây Ngụy tiếp tục làm vua với một
điều kiện, ngươi phải đổi lại Quốc Hiệu không còn là… Ngụy nữa. Ngươi nghĩ thế
nào?
Nguỵ Báo nghiêm sắc mặt, nói:
- Nếu như Nguyên Soái vì đức hiếu sinh mà tha mạng cho Báo nầy, thì tôi
nguyện kết cỏ ngậm vành. Còn như Nguyên Soái tha cho tôi mà kèm theo điều kiện,
thì tôi thà chịu chết. Bởi, không có gì hèn hạ và thấp kém cho bằng, khi ban ơn
cho người, lại kèm theo điều nầy, điều nọ…
Hàn Tín cả cười, nói:
- Chữ Nguỵ có đẹp đẽ chi đâu, sao ngươi lại khăng khăng giữ lấy để nhận
cái chết?
Ngụy Báo nhìn vào mặt Hàn Tín, thẳng thắn đáp:
- Tôi không thể làm trái ý tổ tiên. Tôi vẫn biết, kẻ chiến bại không
bao giờ được bước qua Khải Hoàn Môn. Còn kẻ chiến thắng muốn vẽ rắn thêm chân,
nói vượn, nói hươu làm sao mà chẳng được? Duy có điều…
Hàn Tín đưa mắt dò xét:
- Điều gì?
Một thoáng nghĩ ngợi, Ngụy Báo, nói:
- Tôi biết khi nói ra điều nầy, Nguyên Soái sẽ không bằng lòng. Nhưng
dẫu chết tôi cũng nói.
Hàn Tín giục:
- Ngươi cứ nói. Ta nghe đây!
Nguỵ Báo hăm hở:
- Kẻ chiến thắng chưa chắc đã có thực tài hay có chánh nghĩa. Đó chẳng
qua do thời thế phải thế mà thôi! Như nguyên Soái trước kia bị người đời miệt
khinh là kẻ lòn trôn giữa chợ, ai nấy cũng nhìn Ngài bằng ánh mắt… là kẻ lòn
trôn. Nhưng bây giờ. có ai dám bảo Ngài là… kẻ lòn trôn nữa không? Chắc chắn là
không! Vả lại, nếu Ngụy Báo nầy chỉ vì tham sanh úy tử, vì cái danh lợi phù du
mà phản bội tổ tiên, phản bội đất nước mình thì Báo nầy há chẳng phải giống như
loài giun dế sao? Nếu Ngài ban cho cái chết thì Báo nầy vui lòng chấp nhận. Còn
nếu Ngài xui Báo là điều phi nghĩa thì Ngụy Báo nầy tuyệt đối không thể và sẵn
sàng chấp nhận rơi đầu.
Hàn Tín nghe qua vỗ án, bật cười khoái chí, khom mình vòng tay trước
Ngụy Báo, lời cung kính:
- Khí khái! Khí khái! Ha! Ha! Ha.a…a.a! Kể ra, Ngụy vương Báo rõ là
người đầy khí khái! Nếu ta giết một người đầy bản lĩnh, giàu khí khái như ông, tất
sẽ bị người đời nguyền rủa. coi ta như bọn thất phu! Đời đời chẳng những miệt
khinh mà còn nguyền rủa một cách tệ hại! Vậy ta xin tha Người về nước. Xin đừng
cảm ơn hạ tướng nầy mà hãy tiếp tục làm một vị vua sáng suốt để muôn dân được
nhờ ân đức.
Tào Tham nghe thấy, liền vội can:
- Nguyên Soái tự ý tha cho Nguỵ Báo sẽ bị mang tội với Hán Vương!
Hàn Tín khẳng khái:
- Hán Vương là đấng anh minh, tất phải biết câu: “Tướng quân tại ngoại…”.
Ngươi chớ có nói nhiều. Ngươi lập tức truyền lệnh ta hãy cấp người hầu, xe ngựa
và lương thực cho Ngụy Vương lên đường về Tây Ngụy. Đồng thời ngươi thay ta đưa
tiễn Ngụy Vương mươi dặm đường.
Tào Tham vâng mệnh ra đi. Quán Anh thấy vậy ra chiều nghĩ ngợi, đợi
Ngụy Báo đi rồi mới hỏi Hàn Tín:
- Tôi biết Nguyên Soái là người trí dũng, nên tôi chưa thể đoán ra việc
Nguyên Soái tha cho Ngụy Báo.
Hàn Tín trầm ngâm một lúc lâu, nói:
- Ta đánh tráo hai chữ Ngụy để thử tinh thần Ngụy Báo, nhưng ông ta nói
chí phải. Ngụy chỉ là cái tên gọi. Vì vậy, không thể lấy đó làm thước đo trí
tuệ của vua quan, cũng như trình độ dân trí của họ. Tướng quân hãy mau truyền
lịnh ta. Tất cả các tướng sĩ, không được vì chiến thắng mà sinh lòng kiêu ngạo,
bởi đó hành động hạ đẳng của bọn kiêu binh! Đừng có nghĩ, “TA” là kẻ chiến
thắng thì cái gì của mình hay, cũng đúng, rồi đưa cái “TA” lên trên thiên hạ. Đời
chỉ có “TA” ngu thôi, còn trăm họ luôn sáng suốt!
Đã là kẻ thắng cuộc, nếu ta không hơn kẻ chiến bại tất cả mọi mặt, thì
ít ra cũng có mặt ta hơn. Đó là điều khó khăn nhất! Nếu là kẻ thắng cuộc thì ta
phải làm được điều gì cho quân dân phe chiến bại thấy rằng, họ thua ta là xứng
đáng, là vì họ thiếu chánh nghĩa. Có như vậy, thì chiến thắng kia mới thực sự
vinh quang. Còn nếu như ta chiến thắng họ rồi tỏ ra ươn hèn, ngu si trước kẻ
thù chung của dân tộc, của đất nước và, không có chính nghĩa bằng kẻ chiến bại,
thì liệu cái chiến thắng đó có vinh quang, có được sử sách ghi chép chiến công?
Hay sau nầy, qua sách sử cháu con bọn ta sẽ bị cả dân tộc nầy nguyền rủa ông
cha chúng là những kẻ vì lợi ích riêng tư mà bán rẻ cả dân tộc, bán rẻ cả tổ
quốc?
Trước khi vâng lịnh lui ra, Quán Anh vòng tay thi lễ, cung kính nói:
- Lời Nguyên Soái chí phải! Đúng là châu báu cũng không sánh bằng. Trong
tâm trí của kẻ thua trận và nhân dân của họ không tâm phục khẩu phục thì sự
chiến thắng đó chẳng có gì vinh dự cả! Và, còn làm cho kẻ chiến bại họ xem sự
chiến thắng đó giống như… lũ chó đói trên đồng hoang vớ phải… c… ứt!
Hàn Tín đưa tay vỗ vỗ vào vai Quán Anh, giọng thân tình nói:
- Không ngờ… tướng quân Quán Anh là người hiểu thấu ruột gan Tín nầy.
Ha! Ha..a..a.a!
Sau đó, Hán Vương lại sai Hàn Tín đi đánh nước Đại.
Tháng chín nhuận, năm 205 TCN, Hàn Tín phá quân Đại, bắt được thừa
tướng Hạ Duyệt, người được Đại vương Trần Dư ủy quyền cai quản đất Ứ Dự của
nước Đại. Lúc đó chiến sự giữa Hán và Sở đang rất gay go, Hán Vương bị Sở Bá
vương tấn công mạnh mẽ. Hán Vương nghe tin Hàn Tín diệt liền hai nước, liền truyền
thu tinh binh của ông đem đến Huỳnh Dương để chống Sở.
Hàn Tín và Trương Nhĩ mộ quân mới, được mấy vạn người, đi về phía Đông
xuống Tỉnh Hình để đánh Triệu. Vua Triệu và Trần Dư nghe tin quân Hán sắp đánh
úp, bèn tụ tập quân đội ở Tỉnh Hình, phao là hai mươi vạn. Tướng Triệu là Lý Tả
Xa bày mưu cho Trần Dư nên cố thủ và chẹn đường vận lương của quân Hán nhưng
Trần Dư không nghe theo.
Hàn Tín sai người sang thám thính, biết mưu của Lý Tả Xa không được
dùng, bèn đem quân thẳng xuống. Chưa đến cửa Tỉnh Hình, cách ba mươi dặm, dừng
lại cắm trại. Nửa đêm truyền lệnh xuất phát. Chọn hai nghìn kỵ binh trang bị
nhẹ, mỗi người cầm một lá cờ đỏ đi theo đường tắt lén lút sang theo dõi quân
Triệu.
Xong, Hàn Tín truyền lệnh cho đoàn kỵ binh:
- “Triệu thấy ta chạy, thế nào cũng bỏ trống thành mà đuổi ra. Các
ngươi tiến ngay vào trong thành, nhổ cờ của Triệu dựng cờ đỏ của Hán.
Sau đó ông sai các tùy tướng truyền bảo cho binh sĩ ăn cơm lót lòng
thôi, và nói:
- “Hôm nay phá quân Triệu xong sẽ họp nhau ăn tiệc.”
Các tướng nghe lệnh nhưng vẫn nghi hoặc không ai tin.
Sau đó Hàn Tín nói với tướng sĩ:
- “Quân Triệu đã giữ địa thế tiện lợi trước để xây đồn lũy, chúng lại
chưa thấy cờ trống, chúng chưa thấy quân ta nên chưa chịu tiến lên đánh đội
tiên phong vì chúng sợ đến nơi đường hẹp, hiểm trở ta phản công thì khó quay
lại.
Rồi Hàn Tín sai một vạn người đi trước bày trận quay lưng ra sông. Đó
là phép tối kỵ trong binh pháp vì theo binh pháp, phải dựa vào núi và nhìn ra
sông, nếu tựa vào sông sẽ bị kẻ địch đánh dồn tới hết đường chạy, đó là chỗ
chết. Vì thế quân Triệu ở xa nhìn thấy, khinh chê nói cười nghiêng ngửa.
Lúc bình minh, Hàn Tín truyền dựng cờ đại tướng, đánh trống lên, kéo
quân ra cửa Tỉnh Hình. Quân Triệu mở cửa lũy, đánh nhau to một hồi lâu. Bấy giờ
Hàn Tín, Trương Nhĩ lệnh cho vờ bỏ cờ trống chạy đến đạo quân gần sông. Đạo quân
gần sông rẽ ra, đón lấy họ, rồi lại chiến đấu dữ dội.
Quả nhiên quân Triệu bỏ thành ra tranh lấy cờ trống của Hán, đuổi theo quân
Hàn Tín, Trương
Nhĩ.
Khi quân Hàn Tín, Trương Nhĩ đã nhập vào đạo quân ở gần sông thì quân
đội đều liều chết chiến đấu không thể nào địch quân đánh bại được. Hai nghìn
quân kỵ mà Tín đã cho đi từ trước chờ đến khi quân Triệu bỏ lũy trống để đuổi
theo để lấy cờ trống của Hán, liền phi ngựa nhanh vào trong thành, nhổ tất cả
cờ xí của Triệu để dựng hai nghìn lá cờ đỏ của Hán.
Quân Triệu đã không thắng, không bắt được Hàn Tín và các tướng Hán,
muốn quay trở về đồn, nhưng trong thành toàn là cờ đỏ của Hán thì cả sợ, cho
rằng quân Hán đã bắt được tướng của Triệu Vương rồi. Quân sĩ hỗn loạn bỏ chạy.
Tướng Triệu chém những kẻ bỏ chạy cũng không ngăn được. Quân Hán hai bên áp
lại, phá tan quân Triệu, chém Trần Dư trên sông Chi Thủy, bắt sống Triệu Vương
Yết.
Hàn Tín ra lệnh cho quân đội không được giết Lý Tả Xa, ai bắt sống được
ông ta thì thưởng ngàn vàng. Có người trói Tả Xa nộp dưới cờ, Tín bèn cởi trói
cho ông ta và cho ngồi quay mặt về hướng Đông, còn mình ngồi quay mặt về hướng
Tây, bái làm thầy… (xin xem phần trích
dẫn dưới đây)
Lý Tả Xa (李左车).
Trích Sử Ký Tư Mã Thiên – Phần Hoài Âm Hầu: “Lý tả Xa người Bách Nhân, là cháu nội Lý Mục là tướng Triệu; cha là Bạc, làm Trung đại phu chiêm
sự đời Tần. Tả Xa làm việc cho Triệu vương Hiết, được phong Quảng Vũ Quân, tức
là thành cũ Quảng Vũ đời Minh. Ông là mưu sĩ nước Triệu cuối đời Tần, từng
khuyên tướng Hán là Hàn Tín chiêu dụ thay vì phát binh tiến đánh 2 nước Yên,
Tề, kết quả thành công.
Tháng 10 năm 204 TCN, bọn tướng Hán là Hàn Tín, Trương Nhĩ đưa mấy vạn
quân vượt núi Thái Hành, đông tiến đánh Triệu, lúc nầy đang phụ thuộc nước Sở.
Tả Xa theo Thành An quân Trần Dư tập trung binh lực ở cửa Tỉnh Hình, chiếm giữ
địa hình có lợi, chuẩn bị cùng Hàn Tín quyết chiến. Ông nghĩ, quân Hán đi xa
thiếu lương, sĩ tốt đói mệt, vả lại Tỉnh Hình đường sá chật hẹp, ngựa xe không
dùng được, nghiêm thủ thì khó lòng thất bại; tự xin nắm 3 vạn quân, theo đường
nhỏ cắt đứt đường vận lương của quân Hán. Trần Dư không nghe, kiên quyết đón
đánh quân Hán.
Hàn Tín bày "trận Bối thủy" dọc theo bờ đông sông Bí, đánh
cho quân Triệu đại bại. Tín treo thưởng ngàn vàng cho ai bắt được Tả Xa. Không
lâu sau, có người trói ông đưa đến trước trướng.
Hàn Tín lập tức cởi trói cho ông, mời ngồi quay mặt về hướng đông, Hàn
Tín ngồi quay mặt về hướng Tây, bái làm thầy.
Hàn Tín hỏi Quảng Vũ Quân (Lý Tả Xa):
- “Kẻ hèn nầy muốn bắc đánh Yên, đông dẹp Tề, làm thế nào thì thành
công?”
Quảng Vũ Quân, tạ rằng:
- “Tôi nghe tướng thua trận, không thể kể chuyện dũng cảm; đại phu mất
nước, không thể toan mưu giữ gìn. Nay tôi là tên tù thất bại mất nước, sao có
quyền bàn đến việc lớn!?”
Tín nói:
- “Kẻ hèn nầy nghe nói, Bách Lý Hề ở nước Ngu thì nước Ngu bị mất, ở
nước Tần thì nước Tần xưng bá, không phải Bách Lý Hề ở Ngu thì ngu, ở Tần thì
khôn, ấy là do được dùng hay không! Nếu như Thành An Quân nghe theo kế của túc
hạ, thì Tín nầy đã bị bắt rồi.”
Nói xong, cố nài rằng:
- “Kẻ hèn nầy dốc lòng theo kế, xin túc hạ chớ từ khước từ thành ý”.
Quảng Vũ Quân nói:
- “Tôi nghe kẻ khôn nghĩ ngàn việc, ắt có một việc sai; kẻ ngu nghĩ
ngàn việc, ắt có một việc đúng. Nên mới có câu “lời của kẻ rồ, thánh nhân cũng
xét đến”. (Nguyên văn: 千虑一得 (Hán Việt:
Thiên lự nhất đắc. Tạm dịch: ngàn nghĩ được một). Nguyên văn: “智者千虑, 必有一失; 愚者千虑, 必有一得” (Hán
Việt: trí giả thiên lự, tất hữu nhất thất; ngu giả thiên lự, tất hữu nhất
đắc. Tạm dịch: kẻ khôn nghĩ ngàn
việc, ắt có một việc sai; kẻ ngu nghĩ ngàn việc, ắt có một việc đúng).
Chỉ e kế của tôi chưa chắc đã dùng được, chỉ xin tỏ lòng ngu trung. Ôi!
Thành An Quân có kế bách chiến bách thắng, trhế mà một sớm, một chiều lại thất
bại, quân bại dưới thành Khao, thân chết gần sông Bí. Nay tướng quân vượt Tây
Hà, cầm tù Ngụy Vương (Ngụy Báo), bắt Hạ Duyệt ở Át Dữ, một trận lấy Tỉnh Hình,
không đầy một buổi sáng phá 20 vạn quân Triệu, giết Thành An Quân. Tiếng nổi
trong nước, oai vang thiên hạ, nông phu không ai không nghỉ cấy buông cày, mặc
áo đẹp, ăn món ngon, nghiêng tai để đợi mệnh.
Như thế, là sở trường của tướng quân vậy. Nhưng mà giờ đây sĩ nhọc, tốt
mỏi, kỳ thật khó dùng.
Nay tướng quân muốn cất quân vất vả, đình đốn dưới thành nước Yên, muốn
đánh thì sợ lâu ngày không nhổ được, tính rõ thì thế yếu, lâu ngày thì hết
lương, mà nếu Yên không phục, Tề ắt giữ biên giới chống lại. Yên – Tề giằng co
không hạ được, thì quyền vị của Lưu (Bang) – Hạng (Vũ) chưa phân rõ. Như thế
ấy, tức là sở đoản của tướng quân vậy.
Tôi ngu, trộm cho rằng làm thế là sai. Bởi kẻ giỏi dùng binh không lấy
đoản đánh trường, mà lấy trường đánh đoản.”
Hàn Tín nói:
- “Vậy Tín nầy nên làm thế nào?”
Quảng Vũ Quân đáp rằng:
- “Đương lúc nầy xin bày kế cho tướng quân, chẳng bằng xếp giáp dừng
binh, vỗ về những đứa con mất cha của nước Triệu; trong vòng trăm dặm, đem bò
rượu đến đãi hết ngày, đem thết sĩ phu và khao binh sĩ; đề phòng nước Yên ở mặt
Bắc, rồi sau đó sai biện sĩ đem thư bộc lộ sở trường của ở Yên, Yên ắt chẳng
dám không nghe theo. Yên đã theo, thì sai sứ giả truyền lời sang nước Tề ở phía
đông, Tề ắt thuận thời mà theo; dẫu có kẻ khôn, cũng không thể bày kế cho Tề.
Như thế, thì thiên hạ có thể lấy được. Việc binh vốn có phép trước hư (đánh
tiếng) rồi sau thật (dùng binh) vậy.”
Hàn Tín nói:
- “Chí phải." Tín nầy xin theo sách lược của ông”. Rồi sai sứ đi
Yên, Yên thuận thời mà hàng.)
(ngưng trích).
Các tướng đem thủ cấp các tướng Triệu và tù binh đến nộp đâu đấy và
chúc mừng, nhân dịp hỏi Hàn Tín:
- “Binh pháp nói, “khi dàn binh phải chọn, bên phải và sau lưng thì có núi
gò, trước mặt bên trái thì có sông đầm, nay tướng quân lại sai bọn chúng tôi
quay lưng ra sông mà bày trận, nói rằng phá xong quân Triệu sẽ ăn cơm. Bọn
chúng tôi không phục nhưng kết quả lại thắng, không biết đó là thuật gì?”
Hàn Tín cười đáp:
- “Điều đó có ở trong binh pháp, chỉ có điều các ngươi không xét đến mà
thôi. Chẳng phải binh pháp có nói: “Hãm vào đất chết thì sau đó mới sống, dắt
vào chỗ mất thì sau đó mới còn” hay sao? Vả chăng không phải ta đã có những
tướng sĩ đã từng được huấn luyện sao? Đây cũng như người ta nói là buộc những
người ngoài chợ phải đi đánh giặc. Trong tình thế đó, nếu không đặt họ vào nơi
đất chết thì họ không thể nào chiến đấu. Ta đặt họ vào đất chết khiến cho người
nào cũng vì mình mà chiến đấu thì sao chẳng thành công? Nếu như ta để cho họ
vào nơi đất sống thì họ đều bỏ chạy, ta còn làm sao dùng họ được nữa?”
Theo kế của Lý Tả Xa, Hàn Tín cho quân nghỉ ngơi, bình định nước Triệu,
rồi sai người mang một bức thư sang nước Yên dụ Yên vương Tang Đồ. Tang Đồ sợ
thế quân Hán bèn xin theo.
Hàn Tín sai sứ báo với Hán, nhân tiện xin lập Trương Nhĩ làm Triệu
Vương để cai trị và vỗ về nước này. Vua Hán ưng thuận, bèn lập Trương Nhĩ làm
Triệu Vương.
***
Hạng Vũ mấy lần sai kỵ binh vượt qua sông Hoàng Hà đánh Triệu. Triệu
Vương Nhĩ và Hàn Tín
đi đi lại lại để cứu Triệu, nhân lúc đi lại bình định các thành ấp ở
Triệu, đem binh đến giúp Hán Vương.
Hạng vương đang bận vào việc vây Hán Vương ở Huỳnh Dương, nên không thể
dồn đại quân đánh Triệu. Hán Vương bị quân Sở vậy ngặt, phải trốn ra về phía
Nam, đến giữa miền Uyển và Diệp, chạy vào Thành Cao. Hạng Vũ lại bao vây rất
gấp.
Tháng sáu năm 204 TCN, Hán Vương ra khỏi Thành Cao, chạy về hướng đông,
vượt qua sông Hoàng Hà, chỉ có một mình Hạ Hầu Anh cùng đi. Hán Vương theo quân
của Trương Nhĩ đến Tu Vũ. Đến nơi, Hán Vương nghỉ ở ngoài quán trọ. Sáng sớm,
Hán Vương tự xưng là sứ thần nhà Hán, phi ngựa vào trong thành Triệu. Trương
Nhĩ, Hàn Tín chưa dậy, Hán Vương vào trong phòng ngủ, cướp ấn tín và binh phù,
dùng cờ mao để triệu tập các tướng, thay đổi chức vị các tướng.
Khi Hàn Tín và Trương Nhĩ thức dậy, mới biết là Hán Vương đã đến. Hán
Vương sau khi đoạt quân của hai người liền ra lệnh cho Trương Nhĩ giữ lấy đất
Triệu, phong Hàn Tín làm tướng quốc, thu quân đội của Triệu chưa phái đến Huỳnh
Dương để đánh Tề.
Hàn Tín đem quân sang Đông, chưa vượt qua bến sông Bình Nguyên thì nghe
tin sứ thần của Hán Vương là Lịch Tự Cơ đã thuyết phục được nước Tề đầu hàng.
Hàn Tín muốn dừng lại. Người biện sĩ đất Phạm Dương là Khoái Triệt bàn với Hàn
Tín:
- “Tướng quân nhận chiếu đánh nước Tề, nay Hán Vương chỉ sai một người
ly gián mà khiến nước Tề đầu hàng, nhưng đã có chiếu chỉ bảo tướng quân dừng
lại đâu? Tại sao tướng quân lại không đi? Vả chăng Lịch Sinh là một kẻ sĩ kính
cẩn chỉ múa ba tấc lưỡi mà hạ được hơn bảy mươi thành của nước Tề, tướng quân
cầm mấy vạn quân hơn một năm mới hạ được hơn năm mươi thành của Triệu. Làm tướng
quân bao năm mà công không bằng một anh nhà nho hay sao?”
Hàn Tín cho là phải, theo kế của Khoái Triệt, mang quân vượt qua sông
Hà.
Nước Tề đã nghe lời Lịch Sinh nên giữ Lịch Sinh ở lại uống rượu, triệt
bỏ các quân đội để phòng ngự quân Hán. Hàn Tín nhân đó đánh úp quân Tề ở Lịch
Hạ, đi đến Lâm Tri. Vua Tề là Điền Quảng cho rằng Lịch Sinh lừa mình nên nấu
Lịch Sinh và trốn đến đất Cao Mật, sai sứ đến nước Sở để cầu cứu. Sau khi đã
bình định Lâm Tri, Hàn Tín đi về hướng Đông, đuổi Quảng đến phía Tây đất Cao
Mật.
Hạng Vương nghe cầu cứu của Tề, bèn sai Long Thư làm tướng, phao là hai
mươi vạn quân, đem quân đến cứu Tề. Vua Tề là Điền Quảng cùng Long Thư dồn quân
để đánh nhau với Hàn Tín.
Long Thư bày trận hai bên sông Tuy Thủy. Hàn Tín đang đêm sai người đan
hơn một vạn cái vỏ đổ đầy đất chặn lấy thượng lưu dòng sông rồi đem quân qua
nửa chừng đánh Long Thư, giả vờ thua, quay lưng bỏ chạy về. Long Thư quả nhiên
mừng rỡ nói:
- “Ta biết Hàn Tín nhát gan mà!”
Bèn dẫn quân đuổi theo, qua sông. Lúc đó Hàn Tín cho người phá các vỏ
đựng đất, nước sông chảy cuồn cuộn, ào ào như thát đổ, đại quân của Long Thư qua
quá nửa sông không qua tiếp được, cũng chẳng quay lại được. Hàn Tín mới thúc
quân đánh gấp, giết được Long Thư. Bộ phận quân của Long Thư phía đông dòng sông
(tức phía bên kia bờ) bỏ chạy tán loạn.
Vua Tề là Điền Quảng chạy trốn. Hàn Tín liền đuổi theo đến đất Thành
Dương, bắt bỏ tù tất cả lính Tề.
Năm 203 TCN, Hàn Tín bình định nước Tề, sai người báo với Lưu Bang:
- “Nước Tề là nước gian dối, hay gây biến, tráo trở. Biên giới phía Nam
là nước Sở, nếu không lập giả vương để giữ thì không thể bình định được. Xin
cho tôi làm giả vương.”
Lúc bấy giờ quân Sở đang vây Hán Vương rất gấp ở thành Huỳnh Dương. Sứ
giả của Hàn Tín đến, Hán Vương mở phong thư ra, cả giận mắng:
- “Ta đang nguy khốn ở đây, sớm chiều trông nó đến giúp thế mà nó lại
muốn tự lập làm vương à?”
Các mưu sĩ Trương Lương, Trần Bình giẫm vào chân Hán Vương, nhân đấy
ghé vào tai Hán Vương nói:
- “Nhà Hán hiện nay bất lợi, có thể cấm không cho Tín làm vương được
không? Chi bằng nhân đấy mà lập, đối xử với ông ta cho tử tế, khiến ông ta vì
mình mà giữ. Nếu không sẽ sinh biến.”
Hán vương nghe theo, liền sai Trương Lương đi lập Hàn Tín làm Tề Vương,
trưng dụng binh của ông đến đánh Sở.
Nghe tin Long Thư chết, Hạng Vương lo lắng sai Vũ Thiệp, người Vu Thai
đến nói với Tề Vương Tín (Hàn Tín), hãy phản Hán để chia ba thiên hạ nhưng ông
từ tạ rằng:
- “Tôi thờ Hạng Vương, quan chẳng qua là lang trung, địa vị chẳng qua
là cầm kích đứng hầu ở điện, lời nói ra không được nghe, mưu kế đưa ra không
được dùng, cho nên tôi bỏ Sở mà theo Hán. Hán Vương trao cho tôi ấn thượng
tướng quân, giao cho tôi mấy vạn binh, cởi áo của mình để cho tôi được dùng.
Cho nên tôi mới được như thế này. Phàm người ta hết sức tin cậy mình thành thực
như thế mà mình phản lại là điều chẳng lành. Tôi dù chết cũng không thay lòng
đổi dạ. Nhờ ông thưa lại với Hạng Vương rằng Tín nầy từ chối.”
Sau khi Vũ Thiệp đi rồi, người nước Tề là Khoái Triệt biết rằng thiên
hạ ai thắng ai bại là ở Hàn Tín, cũng ra sức thuyết phục ông cắt đất Tề, Yên,
Triệu để chia ba thiên hạ, tạo thế chân vạc. Nhưng ông nói với Khoái Triệt
rằng:
- “Vua Hán đối đãi tôi rất hậu, lấy xe của mình để cho tôi đi, lấy áo
của mình để cho tôi mặc, lấy cơm của mình để cho tôi ăn. Tôi nghe nói “đi xe
người ta thì lo điều lo của người ta, mặc áo của người ta thì mang điều lo nghĩ
của người ta, ăn cơm người ta thì chết cho công việc của người ta”. Tôi lẽ nào
lại chạy theo lợi mà quên nghĩa?
Khoái Triệt cố phân tích mọi lẽ để thuyết phục, ông nói thêm mấy lần
nữa cũng không lay chuyển nổi vì Hàn Tín không nỡ phản lại Nhà Hán. Ông lại tự
cho rằng mình lập được nhiều chiến công, vua Hán dẫu sao cũng không lấy mất
nước Tề của mình, nên ông bèn từ tạ Khoái Triệt. Khoái Triệt nói không được,
bèn giả điên, làm người thầy cúng.
Sau hoà ước Hồng Câu, năm 202 TCN, Hán vương theo kế của Trương Lương,
bội ước mang quân đánh úp Hạng Vương, nhưng vẫn bị Hạng Vương quay lại đánh cho
đại bại ở Cố Lăng. Lưu Bang lo sợ, bèn theo kế của Trương Lương, triệu Hàn Tín
cùng Bành Việt mang quân về giúp, hứa sẽ phong cho nhiều đất.
Hàn Tín cùng Bành Việt nghe theo, đem binh họp nhau với Hán vương ở Cai
Hạ. Hạng Vương thấy quân Hán ngày càng đông, biết không thắng được, bèn hạ lệnh
quay về phía đông rút về Bành Thành. Hàn Tín đem quân tập kích quân Sở giữa
đường, Hạng Vương tức giận đem quân quay lại. Hàn Tín giả rút lui, trên đường
đã đặt sẵn quân mai phục khắp các mặt. Hạng Vương không biết là bẫy, đi đến đâu
cũng bị quân Hán đổ ra tập kích, không sao thoát được, cuối cùng thì phải rút
vào Cai Hạ. Mấy mươi vạn quân Hán siết chặt vòng vây, quân Sở bị vây kín mười
mặt.
Theo kế Trương Lương, Lưu Bang cho quân Hán bốn phía cùng ca bài ca
nước Sở (tứ diện Sở ca). Quân Sở nghe tiếng hát, nghĩ là Sở bị Hán chiếm rồi,
bèn đào ngũ trốn đi hết. Ái thiếp của Hạng Vương là Ngu Cơ tự sát, Hạng Vương
cùng 800 thân binh phá vây, đến bờ Ô Giang thì chỉ còn 26 người. Có người đình
trưởng chờ ở bờ sông muốn đưa Hạng Vương qua sông về Giang Đông nhưng Hạng
Vương từ chối rồi cùng 26 kỵ binh bỏ ngựa tử chiến. Hạng Vương một mình giết
mấy trăm người, chịu mười mấy vết thương, cuối cùng đâm cổ tự sát. Tây Sở diệt
vong.
Sau khi Hạng Vũ đã bị phá, Lưu Bang lập tức đoạt lấy quân của Tề Vương Tín
(Hàn Tín) lần thứ hai (lần trước ở thành Tu Vũ).
Hàn Tín vừa lập được công xong lập tức bị tước binh quyền. Tới tháng
giêng năm 202 TCN, Lưu Bang dời Tề Vương Tín làm Sở Vương, đóng đô ở Hạ Bì. Lưu
Bang lên ngôi hoàng đế, lập ra vương triều Đại Hán, tức là Hán Cao Tổ. Nhà Hán
trị vì 400 năm.
Năm ấy, mọi chuyện đã ổn định. Hàn Tín
về quê thăm lại bà Phiếu Mẫu, người mà trước đây đã cưu mang Hàn Tín thuở còn
hàn vi, từng cho cơm Hàn Tín trong cơn đói khát.
Hàn Tín bèn xây nhà, tặng châu báu,
tạo vườn tượt, cung cấp ruộng đất, người hầu và nguyện chăm sóc Phiếu Mẫu đến
cuối đời.
Hàn Tín truyền gọi tên hàng thịt ngày
trước bắt mình lòn trôn giữa chợ đến ban truyền:
- Nhờ trước kia nhà ngươi bắt ta lòn
trôn giữa chợ, mà hôm nay ta trở thành Đại Tướng. Ta rất cám ơn ngươi. Bây giờ
ta ban cho nhà ngươi chức Huyện Lệnh (Quận trưởng) ở đây.
Tên hàng thịt lúc đầu nghe Hàn Tín gọi
đến run như cầy sấy, đến khi nghe Tín ban cho chức Huyện Lệnh như mở cờ trong
bụng, liền dập đầu lạy tạ và nhận lịnh lên đường.
Quán Anh thấy vậy can:
- Một kẻ ngu dốt chuyên làm nghề thịt heo.
Nó biết gì, sao Đại Tướng lại bổ nhiệm làm quan?
Hàn Tín cười, đáp:
- Chỉ trong một thời gian nữa, Tướng
Quân sẽ biết ý định của ta.
Vốn kẻ ngu dốt, học hành không qua chữ Nhất (一) gặp thời bỗng nhiên được phe phái nâng lên làm quan, có uy quyền, ăn trên ngồi trước, bỗng lộc ngày ngày… Tân Huyện lệnh (tên hàng thịt) rất hách dịch, tha hồ giở thói tham lam, hiếp đáp bốc lột đất đai, tài sản dân lành.
Người có học hành, đạo đức làm quan
thường có liêm sỉ, biết nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Còn bọ ngu dốt như tên đồ tể
được làm huyện lệnh chi hại dân, hại nước mà thôi.
Mấy tháng sau, Hàn Tín đến huyền đường
do tên hàng thịt làm huyện lệnh thanh tra sổ sách, phát hiện hắn ta vơ vét của
dân từ bãi cứt khô đến ngoại viện do chánh quyền trung ương rót xuống cứu trợ
thiên tai, bão lụt cho dân, hắn ta đều đớp hết cho vào túi riêng.
Chiếu theo phép nước, Hàn Tín ra lịnh
xử tử, tịch thâu tất cả tài sản của tên huyện lệnh ngu dốt hàng thịt kia sung
vào công quỹ
Trên đường về Quán Anh sực hiểu ra,
bật cười sang sảng. Hàn Tín ngạc nhiên hỏi:
- Sao Tướng Quân lại cười?
Quán Anh, đáp:
- Tôi cười vì khâm phục sự… trả thù
hết sức tuyệt diệu của Nguyên Soái.
Hàn Tín vờ không hiểu:
- Tướng Quân nói ta trả thù? Vậy ta
trả thù ai?
Quán Anh nói:
- Suốt cuộc đời vào chinh ra chiến,
lẫy lừng cùng trận mạc, Ngài thừa hiểu rằng, bọn bất tài vô tướng khi chúng có
chức có quyền bao giờ cũng có lòng tham vô độ. Với một gã bán thịt, kẻ mà trước
đây bắt Ngài lòn trôn giữa chợ, khi Ngài làm Đại Tướng, muốn giết nó lúc nào
không được? Nhưng giết nó lúc đó, người đời sẽ thấy Ngài chú tâm trả thù cá
nhân, nên Ngài ban cho nó chức huyện lệnh, để người người nhìn vào cứ tưởng đó
là tấm lòng vị tha, đức độ, bao dung của Ngài. Nhưng thực ra, Ngài biết những
kẻ ngu dốt như tên hàng thịt kia khi có chức có quyền sẽ lộ rõ chân tướng tham
lam của công, cướp bốc tài sản, đất đai dân nghèo, lúc đó Ngài nhân danh pháp
luật trị tội nó. Giết nó mà được danh chánh ngôn thuận. Chẳng ai dám nghĩ Ngài
giết nó để trả thù riêng.
Hàn Tín cười to, nói:
- “Ôi, sanh ta ra là cha mẹ, hiểu ta
là Quán Anh. Ta rất khâm phục cái trí của Tướng Quân!”
Quán Anh chấp tay xá ba xá đáp lễ, rối
nói:
- Cái trí của kẻ nầy chỉ là cái trí
của giống chim sâu, chim sẻ. Cái trí của Nguyên Soái là cái trí của giống Đại
Bàng, của chim Hồng chim Hộc. Quán Anh nào dám sánh? Nào dám nhận lời khen của
Ngài! Có điều không bóng tối nào được ánh quang rọi đến mà không sáng. Tiểu
nhân được như ngày hôm nay chẳng qua là nhờ được đứng dưới vầng nhật nguyệt mà
thôi!
***
Một lần, lúc thung dung Lưu Bang nói chuyện với Hàn Tín về tài năng của
các tướng, xem tài năng họ như thế nào, Lưu Bang hỏi Hàn Tín:
- “Như ta thì có thể cầm được bao nhiêu quân?”
Hàn Tín nói:
- “Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười vạn.”
Lưu Bang lại hỏi:
- “Thế còn nhà ngươi thì cầm được bao nhiêu?”
Hán Tín trả lời:
- “Thần thì càng nhiều càng tốt!”
Lưu Bang cười nói:
- “Càng nhiều càng tốt thì sao lại bị ta bắt?”
Hán Tín đáp:
- “Bệ hạ không có tài cầm quân, nhưng có tài cầm tướng, vì vậy cho nên
Tín mới bị bệ hạ bắt.
Sau lần đó, Lưu Bang càng sợ tài của Tín và quyết trừ khử cho được.
Viên tướng của Hạng Vương bỏ trốn là Chung Ly Muội nhà ở núi Y Lư, vốn
chơi thân với Tín. Sau khi Hạng Vương chết, Muội bỏ trốn về với Hàn Tín. Hán
Cao Đế truy lùng Chung Muội, nghe nói Muội ở Sở, ra chiếu cho Sở Vương Tín bắt
Muội.
Năm 201 TCN, có người đưa thư lên báo Sở Vương Tín làm phản. Cao Đế
dùng mưu kế của Trần Bình, giả cách thiên tử đi tuần thú hội họp chư hầu. Ở
phương Nam có đất Vân Mộng, Hán Đế bèn sai sứ báo cho chư hầu biết vua sẽ họp ở
đất Trần, rằng: “Cao Đế sẽ đi chơi Vân Mộng, kỳ thực vua Hán muốn bắt Hàn Tín,
nhưng Tín không biết.
Cao Tổ sắp đến Sở, Hàn Tín lo lắng vì chứa Chung Ly Muội trong nhà. Có
người khuyên ông chém Muội để ra mắt nhà vua thì sẽ khỏi tội.
Hàn Tín bèn đến gặp Chung Ly Muội nói về việc ấy, Muội nói:
- “Nhà Hán sở dĩ không dám đánh lấy Sở là vì Muội ở nhà ông. Nay ông
muốn bắt ta để nịnh nhà Hán, thì ta hôm nay chết nhưng ông cũng chết theo như
trở tay mà thôi.”
Rồi Muội mắng Hàn Tín:
- “Nhà ngươi không phải bậc quân tử!”
Nói xong, Chung Muội tự đâm cổ chết. Hàn Tín cắt đầu Chung Ly Muội đem ra
mắt Lưu Bang ở đất Trần. Lưu Bang sai võ sĩ trói Tín lại chở ở xe sau. Hàn Tín
nói:
- “Đúng như người ta nói: “Thỏ khôn hết thì chó giỏi bị nấu, chim cao
hết thì cung tốt bị cất, nước địch bị phá thì mưu thần hết đời”. Thiên hạ đã
bình định rồi, ta bị nấu là đáng lắm!”
Lưu Bang đáp:
- “Người ta bảo nhà ngươi làm phản”.
Rồi sai áp giải ông về kinh. Đến Lạc Dương thì tha tội cho ông, giáng
làm Hoài Âm Hầu.
Ý kiến của các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Lưu Bang nghe theo các cận
thần, hoặc tự đặt ra chuyện có người tố cáo Hàn Tín mưu phản để lấy cớ bắt ông
mang về kinh quản thúc và giáng chức, kỳ thực Hàn Tín không có tội. Vì vậy khi
đưa Hàn Tín từ nước Sở về kinh, lập tức Lưu Bang hạ lệnh tha Hàn Tín, lý do Tín
không còn binh quyền trong tay để đe dọa ngai vàng của Lưu Bang.
Sử ký Tư Mã Thiên ghi đại ý:
“Năm 196 TCN, Trần Hy làm phản.
Lưu Bang thân hành làm tướng, đem quân đi đánh. Hàn Tín mưu tập hợp người nhà
làm phản ở kinh đô để làm nội ứng cho Trần Hy. Nhưng vì có người môn hạ có tội
với Hàn Tín bị ông bỏ tù, muốn giết đi nên em của người này ra đầu thú báo tin
với triều đình, tố cáo ông muốn làm phản.”
Lã Hậu muốn gọi Hàn Tín vào, nhưng sợ ông không đến, nên bàn với tướng
quốc Tiêu Hà, giả vờ sai người từ ngoài chiến trường chỗ Lưu Bang trở về báo
tin rằng: Trần Hy đã chết, các chư hầu, các quan đều đến mừng. Tiêu Hà lừa Hàn
Tín rằng:
- “Tuy ngài ốm, cũng xin cố gắng vào mừng!”
Hàn Tín theo Tiêu Hà vào cung, Lã Hậu lập tức sai võ sĩ trói ông, rồi
mang chém ở nhà treo chuông trong cung Trường Lạc. Lúc sắp bị chém, Hàn Tín nói
to:
- “Ta hối hận không dùng mưu kế
của Khoái Triệt, cho nên mới bị bọn đàn bà con nít lừa dối. Há chẳng phái là vì
trời muốn thế hay sao?”
Lã Hậu bèn giết cả ba họ nhà Hàn Tín. Sau khi Lưu Bang đã dẹp xong quân
của Trần Hy trở về kinh đô, thấy Hàn Tín đã chết Hán Cao Đế vừa mừng vừa thương.
Tiêu Hà trước kia là ân nhân của Hàn Tín, ra sức tiến cử ông với Lưu
Bang, nhưng cuối cùng lại chính Tiêu Hà lừa ông vào cung cho Lã Hậu giết. Bởi
vậy đời sau nói rằng Hàn Tín làm nên sự nghiệp nhờ bởi Tiêu Hà mà chết cũng do
tay Tiêu Hà.
Nghi án lịch sử:

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét