HẬU THỀ RỬA HỜN TRONG VĂN HỌC:
THÁI QUỐC MƯU
“Nỗi oan của Hàn Tín khiến
người đời sau hết sức cảm thông, thương xót cho một viên tướng tài năng, trung
thành nhưng bị đối xử quá bạc bẽo và phải chết oan khuất.
Một văn nhân Trung Quốc đời sau
đã sáng tác truyện thơ hư cấu mang tên Trọng Tương Vấn Hán, được chuyển thể sang
tiếng Việt bằng thơ lục bát vào đầu thế kỷ 20. Nội dung cơ bản của Trọng Tương
vấn Hán nói về tiền căn báo hậu kiếp hay luân hồi quả báo kể từ thời Hán Sở
tranh hùng cho đến cuối đời Đông Hán - Tam Quốc.
Theo đó, Hàn Tín kiếp sau được
đầu thai làm Tào Tháo, còn Lưu Bang phải đầu thai làm Hán Hiến Đế Lưu Hiệp, còn
Lã Hậu đầu thai làm Phục Hậu. Kiếp trước Hàn Tín bị Lưu Bang phụ bạc giết oan,
kiếp sau Tào Tháo vẫn làm bầy tôi của Hiến Đế, nhưng chèn ép ức hiếp Hiến Đế và
giết hại vợ Hiến Đế là Phục Hậu - Lã Hậu đầu thai. Những hành động của Tào Tháo
với nhà Hán chính là việc làm báo oán kiếp trước của Hàn Tín.
Trọng Tương vấn Hán còn nói về
nhiều sự đầu thai khác vào thời Tam Quốc của nhiều nhân vật thời Hán Sở.”
TRỌNG TƯƠNG vấn HÁN
Trọng Tương vấn Hán (仲襄問漢) là một tác phẩm văn học nói theo thuyết
tiền căn báo hậu kiếp hay luân hồi quả báo kể từ thời Hán Sở tranh hùng cho đến
cuối đời nhà Hán – Tam Quốc, Trung Quốc chia thành ba nước.
Đến nay không thấy sách nào nói đến tác giả tác phẩm “Trọng Tương vấn Hán” là ai.
Tác giả có một trí tưởng tượng rất phong phú, lại khéo tài liên kết,
xếp đặt từ lúc Lưu Bang dựng ra nhà Tây Hán cho đến thời Tam Quốc, thành một
câu chuyện luân hồi quả báo, có nhiều tình tiết hữu lý, rất hợp với tín ngưỡng
dân gian là thưởng thiện phạt ác, làm người đọc say mê thích thú, tưởng đây là
câu chuyện huyền bí có thật.
Truyện "Trọng Tương vấn Hán" nguyên tác chữ Hán, có dịch ra
Việt ngữ theo thể thơ lục bát, được Võ
Tế Mỹ, Đặng Ngọc Có và Nguyễn Quới Mai dịch và giữ bản quyền, xuất bản lần
thứ nhất tại Sài Gòn, năm 1906.
Tác phẩm “Trọng Tương vấn Hán” chuyển
thể tiếng Việt gồm 920 câu thơ lục bát.
Đời vua Hán Linh Đế, tại quận Ích Châu, có ông Tư Mã Trọng Tương, rất
thông minh tài giỏi, 8 tuổi đã nổi tiếng thần đồng, nhà nghèo rất hiếu thảo với
cha mẹ, có đi lên kinh đô dự khoa thi nhưng bị đánh rớt, khi trở lại quê nhà
thì chẳng may cha mẹ đã mất. Trọng Tương lấy làm thương xót lắm, mới cất một
cái lều ở kế bên mộ phần của cha mẹ, để ở cư tang thủ hiếu cho đặng 6 năm. Lòng
buồn nhớ thương cha mẹ, lại ưu uất vì nỗi học tài thi phận, nên thường than
thân trách phận. Trọng Tương thấy phần nhiều trong triều đình là nịnh thần,
toan mưu hại kẻ trung lương, khiến dân chịu nhiều oan ức. Trọng Tương lấy làm
cảm động, nên làm ra một bài thơ để giải buồn, có ý trách Trời Đất không công
bình.
Không ngờ những lời than trách ấy có Du Thần nghe được, báo cáo lên Thượng
Thiên. Ngọc Hoàng Thượng Đế hạ sắc chỉ cho Diêm Vương. Diêm Vương lĩnh lệnh,
sai quỷ sứ bắt hồn Trọng Tương xuống âm phủ, phán rằng:
- “Như nhà ngươi thông minh biết sự công đoán thì phải xuống Diêm La mà
phân xử những án, nội trong 6 giờ cho xong thì Ngọc Hoàng mới xá tội cho ngươi.”
Khi đó, Tư Mã Trọng Tương ngồi làm chính tòa thay thế Diêm Vương phân
xử các án, trong 6 giờ đồng hồ thì xong hết.
Nội dung xử án của Trọng Tương chính là xét án các nhân vật lịch sử Tây
Hán – Đông Hán.
Trọng Tương thụ án các nhân vật thời Tây Hán và xét xử như sau:
- “Tào Tháo, nguyên kiếp trước là Hàn Tín, có công lớn gồm thâu nước Sở
đem về cho Hán Cao Tổ, thế mà không hưởng được lợi lộc gì, lại bị tru di tam
tộc, nên qua đời Tam Quốc, tác giả cho Tào Tháo soán ngôi nhà Hán, làm vua một
thuở để trả thù: xưa Hán Cao Tổ hiếp bức thế nào thì giờ đây Tào Tháo hiếp bức
thế ấy, và trước Lã Hậu giết Hàn Tín, nay Tào Tháo bắt Phục Hậu thắt cổ mà giết
lại.”
- “Khoái Triệt, mưu sĩ của Hàn Tín, biết Hán Lưu Bang là người ăn ở
không có hậu, nên bày kế cho Hàn Tín giữ vững nước Tề, tách khỏi Lưu Bang, hòa
với Hạng Vũ, giữ thế chia ba thiên hạ. Hàn Tín không nghe vì không nỡ phản bội
Lưu Bang. Sau, Khoái Triệt tái kiếp làm Khổng Minh Gia Cát Lượng, thực thi kế
chia ba thiên hạ theo hình chân vạc và cầm binh đánh cho Tào Tháo chạy dài cho
biết tài biết trí của quân sư.”
- “Tiêu Hà hèn nhát, không dám can gián Lã Hậu, lại tòng mưu giết Hàn
Tín, nên qua đời Tam Quốc, Tiêu Hà đầu kiếp làm Dương Tu, bị một tô canh gà làm
lanh nói toạc, bị Tào Tháo bắt tội tiết lộ cơ mưu, sai chém đầu răn loài lẻo
mép, mà cũng là người bạn xấu hèn nhát của kiếp trước.”
- “Bành Việt và Anh Bố là hai tướng tài có công lớn mà chết oan nên cho
đầu thai trở lại: Bành Việt làm Lưu Bị, Anh Bố là Tôn Quyền, để sau này cùng
với Tào Tháo chia ba thiên hạ, hưởng lộc cả quyền cao.”
- “Đinh Công là tướng nước Sở, vẫn có tiền ân với Lưu Bang, sau bị Lưu
Bang giết, cho đầu thai
làm Chu Du để phò Tôn Quyền, bị Khổng Minh chọc tức, trào máu chết lúc
36 tuổi.” (Trong bộ chánh sử Tam Quốc Chí của Trần Thọ, không có chuyện Khổng Minh chọc tức Chu Du trào máu
chết – Thái Quốc Mưu).
- “Hạng Vũ, tính tình cương trực, khí tiết anh hùng, lòng không tà vạy,
nên cho đầu thai làm Quan Vũ, trấn nhậm Kinh Châu, khi chết hưởng được hương
khói ngàn thu. (Trong bộ chánh sử Tam Quốc Chí của Trần Thọ, Quan công không có
tài cán chi cả - Thái Quốc Mưu).
- “Sáu tướng của Hạng Vũ, phản lại Hạng Vũ theo Lưu Bang, cho đầu kiếp
làm sáu tướng trấn giữ năm cửa ải của Tào Tháo, bị Quan Vũ phò hai chị dâu vượt
5 ải chém 6 tướng, để răn loại người phản chúa.” (Trong bộ chánh sử Tam Quốc
Chí của Trần Thọ, không có chuyện Quan công qua 5 ải, chém. 6 tướng - Thái Quốc
Mưu).
- “Phàn Khoái trung hậu, vũ dũng, ăn thịt tươi uống rượu nguyên bồ, cho
đầu thai làm Trương Phi, cũng rượu, cũng mạnh mẽ, cũng nóng tính như lửa không
thua gì kiếp trước.”
- “Thích Cơ và con trai là Lưu Ẩn, trước bị Lã Hậu ghen giết chết, nay
đầu thai làm Cam Phu nhân và thái tử A Đẩu (Lưu Thiện), hưởng nghiệp nhà Thục
Hán.”
- “Kỷ Tín có công thế mạng Lưu Bang, trung nghĩa hơn người, cho đầu
thai làm Triệu Vân, một tướng kỳ tài, phò Lưu Bị.”
- “Hạng Bá là chú của Hạng Vũ, nỡ phụ cháu mà theo Lưu Bang, và Ung Xỉ
là tôi của Hạng Vũ mà phản Hạng theo Lưu, nên đầu thai: Hạng Bá làm Văn Xú, Ung
Xỉ làm Nhan Lương (2 tướng của Viên Thiệu), bị thanh long đao của Quan Vũ (Hạng
Vũ) giết chết.” (Trong bộ chánh sử Tam Quốc Chí của Trần Thọ, Quan công không hề
sử dụng Thanh Long Đao. Mãi 300 năm sau thời Tam Quốc đến đời Tống mới có Thanh
Long Đao - Thái Quốc Mưu).
Còn những nhân vật quan trọng khác mà không thấy Trọng Tương xử án như:
Đổng Trác, Lã Bố, Vương Doãn, Điêu Thuyền,... . (Trong bộ chánh sử Tam Quốc Chí
của Trần Thọ, không có nhân vật nào tên Điêu Thiền hay Điêu Thuyền - Thái Quốc
Mưu).
Tóm tắt án do Trọng Tương xử
như sau
- Tiền căn: Hàn Tín - Hậu kiếp: Tào Tháo.
- Tiền căn: Tiêu Hà - Hậu kiếp: Dương Tu.
- Tiền căn: Lưu Bang - Hậu kiếp: Hán Hiến Đế.
- Tiền căn: Anh Bố - Hậu kiếp: Tôn Quyền.
- Tiền căn: Lã Hậu - Hậu kiếp: Phục Hậu.
- Tiền căn: Bành Việt - Hậu kiếp: Lưu Bị.
- Tiền căn:Khoái Triệt - Hậu kiếp: Gia Cát Lượng.
- Tiền căn: Hứa Phụ - Hậu kiếp: Bàng Thống.
- Tiền căn: Phàn Khoái - Hậu kiếp: Trương Phi
- Tiền căn: Hạng Vũ - Hậu kiếp: Quan Vũ.
- Tiền căn: Kỷ Tín - Hậu kiếp: Triệu Vân.
- Tiền căn: Thích Cơ - Hậu kiếp: Cam phu nhân.
- Tiền căn: Lưu Ẩn - Hậu kiếp: Lưu Thiện.
- Tiền căn: Đinh Công - Hậu kiếp: Chu Du.
- Tiền căn: Hạng Bá - Hậu kiếp: Văn Xú.
- Tiền căn: Ung Xỉ - Hậu kiếp: Nhan Lương.
- Tiền căn: Dương Quán - Hậu kiếp: Biện Hỉ.
- Tiền căn: Vương Ế - Hậu kiếp: Vương Trấn.
- Tiền căn: Hạ Quản - Hậu kiếp: Khổng Tú.
- Tiền căn: Lã Đằng - Hậu kiếp: Hàn Hộ.
- Tiền căn: Tiêu Hà - Hậu kiếp: Dương Tu.
- Tiền căn: Lã Mã Đồng - Hậu kiếp: Tần Dương.
-Tiền căn: Trọng Tương - Hậu
kiếp: Tư Mã Ý.
Thượng đế thấy Trọng Tương xử án phân minh, bèn phán cho đầu thai vào
nhà họ Tư Mã, đặt tên là Tư Mã Ý, hiệu là Trọng Đạt, để ngày sau con cháu của
nhà Tư Mã chấm dứt cục diện Tam Quốc, thống nhất Trung Quốc, mở ra nhà Tây Tấn.
* Ý NGHĨA:
Tác giả truyện “Trọng Tương Vấn Hán” đã khéo xếp đặt di chuyển từ Tây
Hán đến Tam Quốc thành một đại cuộc luân hồi quả báo.
Truyện Trọng Tương Vấn Hán, tuy do trí tưởng tượng đặt ra nhưng có phần
giống như thật, với mục đích chỉ rõ sự luân hồi quả báo từ kiếp này sang kiếp
khác, có tính cách khuyến thiện phạt ác, không ai tránh khỏi luật Nhân Quả, rất
hợp với tín ngưỡng của dân gian nên được truyền tụng.
Tác phẩm "Trọng Tương Vấn Hớn" gồm 920 câu thơ lục bát, xin
trích ra sau đây vài đoạn tượng trưng:
* TRỌNG TƯƠNG vấn HÁN
Trải xem sử cũ Hớn trào,
Cao Hoàng noi dấu Đường Nghiêu dựng nền.
Sáu trăm muôn lửa dõi truyền,
Thánh Thần ngự trị vững bền kim âu.
Đến tuần Linh Đế nối sau,
Quang Hòa tự thuở năm đầu nguyên niên.
Thấy trong nước có sanh hiền,
Họ nhà Tư Mã ở miền Ích Châu.
Trâm anh thói có phong lưu,
Đời đời truyền dõi nghiệp nhu học hành.
Bẩm sanh một gã tinh anh,
Mẹ cha mới đặt tên là Trọng Tương.
Thông minh đi đứng khác thường,
Sớm khuya đèn sách văn chương học hành.
Trót thông mã sử lục kinh,
Mới nên tám tuổi nổi danh thần đồng.
Xa gần thôn ấp ngợi khen,
Biểu dưng trong quận có trang kỳ tài.
Chiếu ra ứng thí chương đài,
Chức quan dưới chẳng biết tài cao xa.
Từ ngày trở lại quê nhà,
Ở nơi biển liễu tường hoa ngày chầy.
Máy linh chẳng khác vần xây,
Song thân một phút cỡi mây tách ngàn.
Trọng Tương nước mắt đượm chan,
Than rằng Tạo Hóa khép oan lòng người.....
HÀN TÍN TRẠNG CÁO rằng:
Bây giờ mới hỏi Hớn Vương,
Vua sao nỡ phụ chẳng thương nhơn thần?
Phò Lưu, diệt Hạng, bặt Tần,
Gẫm xem Tín đã nhiều lần công lao.
Chẳng hay can cớ làm sao?
Cho nên giết Tín lẽ nào nói ngay.....
Rằng: “Ngươi là tướng có danh,
Cớ chi Lữ Hậu tư tình giết ngươi?
BÀNH VIỆT TRẠNG CÁO rằng:
Việt liền rón rén thưa lời,
Rằng vua điền điệp đi chơi lâu về.
Lữ Hậu tánh vốn dâm mê,
Nào còn đoái đến thửa bề nhơn luân.
Hỏi trong văn võ quần thần,
Rằng ai dung mạo hơn phần sắc thinh?
Thái giám rằng ngươi Trần Bình,
Song còn phụ giá thánh minh ngoài trào.
Lại hỏi ai khá thứ sau,
Bày vào nội yến y trào trung trương.
Thưa rằng: Bành Việt Lương vương,
Xem dường dung mạo có phương hơn người.
Bèn sai chiếu chỉ đi mời,
Tôi bèn vưng mạng đến nơi điện ngoài.
Thấy quan Thái giám truyền lời,
Rằng vưng sắc chỉ dạy người vào trong.
Tôi vưng thẳng đến đền rồng,
Thấy bà Lữ Hậu đứng cùng bệ giai.
Sẵn sàng tiệc ngọc an bài,
Tay bà Lữ Hậu khuyên mời quỳnh tương.
Vậy bèn lửa dục nhiều đường,
Tôi nghĩ là sự phi thường chẳng không.
Đạo làm thần tử chi trung,
Thảo ngay chẳng giữ, hổ cùng cao xanh.
Lữ Hậu giận chẳng thuận tình,
Giết người cắt lưỡi hành hình chỉnh ghê.
Ra lòng độc dữ nhiều bề,
Chẳng cho mai táng, phân thi tan tành.
Ngỡ trông ơn đức cao minh,
Xét soi lòng kẻ trung thần làm tôi.....
ANH BỐ TRẠNG CÁO rằng:
Thưa rằng tôi cũng người ngay,
Vốn cùng Hàn Tín nhiều ngày công linh.
Những ngờ hưởng phước thái bình,
Ơn vua tước trọng đãi mình ấm phong.
Khăng khăng giữ một chữ trung,
Cớ chi đến nỗi mắc vòng thân lao.
Vả đà bạn cũ cùng nhau,
Đều đi viếng kiểng tới đầu biên giang.
Phút liền thấy sứ tái truyền,
Của vua cầm thực ngự tiền ban cho.
Chúa tôi tình thiệt nào lo,
Tiệc bày ăn uống say no dật dờ.
Tánh linh dạ động bấy giờ,
Hỏi rằng vật lạ ai đưa đến chầu?
Sứ rằng song chẳng biết đâu,
Tôi bèn khiến đến đuôi đầu hỏi tra.
Bây giờ nó mới nói ra,
Thịt ngươi Bành Việt, vua đà mổ phanh.
Tôi nghe hình thậm hãi kinh,
Tủi thầm thương nghĩa ngươi Bành hữu công.
Có chi oan thác khi không,
Ngùi ngùi cảm động, trong lòng xót xa.
Công phò nghiệp cả Hớn gia,
Chẳng làm phản nghịch, nào ra dâm hình?....
HẠNG VƯƠNG TRẠNG CÁO rằng:
Trọng Tương xem án mới tường,
Hỏi rằng: Hàn Tín vốn đường tôi ngươi.
Ra lòng quyết chí về Tây,
Phò Lưu diệt Hạng, chẳng hay lẽ nào?
Hạng Vương thưa hết thấp cao,
Xưa nhơn vật gặp hỗn hào chiến tranh.
Liều mình hết sức bình sanh,
Dựng thành nghiệp Sở xưng danh trùng trùng.
Tánh ngu chẳng biết anh hùng,
Cho nên Tín chẳng ở cùng, trách ai?
Đến khi thua trận đất Cai,
Đụt xông mới khỏi ra ngoài Tề vây.
Lạc đường chẳng biết nẻo đi,
Phúc liền xảy gặp đá kề bên sông.
Hỏi rằng nào nẻo được thông,
Điền phu nó chỉ về Đông thẳng đường.
Chẳng ngờ phải chước Hớn vương,
Sai người cày đó giả chàng điền phu.
Trước sau chẳng thấu căn do,
Vậy nên sa xuống hạ ngu khốn mình.
Bốn bề toàn những Hớn binh,
Tình cờ xảy gặp bạn lành Mã Thông.
Những ngờ nghĩa cũ phục dung,
Ai ngờ nó lại trở lòng chẳng hay.
Giục đem sáu tướng lại vây,
Phải liều tự vận khỏi tay loài phàm.
Há rằng phụ nó cho cam,
Quân thần nghĩa nặng nỡ làm thù sâu.
Giải niềm oan khuất bấy lâu,
Ngỡ trông rõ được mối sầu bấy thu.
(Trọng Tương ngồi thế Diêm Vương xử án:)
Trọng Tương nghe biết căn do,
Sửa sang kẻo kẻ hạ ngu ức lòng.
Gẫm xem sáu tướng kích công,
Tham giàu quên nghĩa là lòng bất nhơn.
Tội ngươi không xiết kể chi,
Phải làm răn kẻ mãn khi sanh hiền.
Luận cho Hạng Võ sanh lên,
Khiến người cải tộc đặt tên kẻo trùng.
Bắt đày sáu tướng kích công,
Một tay Hạng Võ đều thì giết tươi.
Răn loài phản nghịch một đời,
Hổ mình cho biết đạo trời chẳng dung.
Hỏi nào các tướng tứ tung,
Đem ra hội nghị luận công trọng tiền.
Đầu nguyên xuất thế tùy duyên,
Phán rằng chủ định họ tên các nhà.
Đoạn thôi, đòi Hàn Tín ra,
Vì ngươi hết sức Hớn gia được tuyền.
Cho ngươi quá bán sơn xuyên,
Trước đà hưởng phước sau đền trả oan.
Thác sanh hậu duệ nhà quan,
Lại về dòng tộc được huờn thửa công.
Sanh làm con gã Tào Tung,
Tên là Tào Tháo gian hùng có danh.
Vả hay quen việc dụng binh,
Được làm Hớn tướng tung hoành Hứa Xương.
Tước phong danh hiệu Ngụy Vương,
Bỏ công lành trước nắng sương dãi dầu.
Toàn gia đều hưởng sang giàu,
Oai ra một phút đâu đâu phục tùng.
Sau về địa hạ sắc phong,
Cho làm Võ Đế thỏa lòng cần lao.
Đoạn thôi mới dạy Hớn Cao,
Thác sanh rồi lại lộn vào Hớn gia.
Để cho Hàn Tín tự chuyên,
Đêm ngày kinh khủng chẳng an tòa ngồi.
Bởi chưng bạc hại công người,
Oan ức những kẻ tôi ngươi khốc tình.
Cho ngươi lại được huờn sinh,
Đạo Trời nhẫng thấy đành rành chẳng tư.
Truyền đem Lữ Hậu lại đây,
Cừu lòng ở dữ tánh mầy gian ngoan.
Đầu thai cho lại dương gian,
Vào nhà họ Phục lại huờn giáng sanh.
Ngồi cùng Hiến Đế cung đình,
Để cho Hàn Tín gia hình trả oan.
Vì mầy tham độc thiên ban,
Giết cùng đền số họ Hàn mới tha.
Tín thưa: Còn sự Tiêu Hà?
Hiến người lại giáo, trở ra hại người.
Trọng Tương thấy Tín thưa lời,
Bây giờ mới dạy chuyện ngươi Tiêu Hà.
Đầu thai về họ Dương gia,
Mai sau thác xuống tên là Dương Tu.
Nguyên xưa Hớn đến Tân đô,
Chẳng tham tiền bạc, thâu cho bản đồ.
Dốc lòng chí khí trượng phu,
Lập cho nghiệp cả để phò minh quân.
Chẳng ngờ Hớn Tổ thiểu ân,
Cho nên phải lụy chung thân nào toàn.
Tiến hiền rồi lại hại hiền,
Về sau cho phải lại đền bổn thân.
Ba lần ngồi tính Hớn quân,
Làm cho sanh bạc trả ơn hội nầy. v.v....
(Trọng Tương xử án xong, bước xuống:)
Trọng Tương bước xuống ngai vàng,
Đều huờn áo mão, trả quyền Diêm Vương.
Lại đặt lẽ ấy cho thường,
Lời ra xem thấy có phương nhiệm mầu.
Tài nầy chẳng phải tài ngu,
Kiện nầy có đến sáu giờ liền xong.
Ta rày vốn lấy lẽ công,
Bảo thôi tâu đến cất dùng trạc liên.
Ngọc Hoàng xem thấy phán truyền:
"Người nầy đoán kiện đã nên anh hùng.
Ba trăm án kiện đều bày,
Sáu giờ tra án đạo Trời chẳng sai.
Phép làm tôi quá thưởng công,
Chức cao lộc trọng phỉ lòng tôi ngươi.
Rày đà khỏi uất ức người,
Đầu thai cho nó vào nơi công hầu.
Đức nhà Tư Mã đã lâu,
Rày cho nó lại nối sau chuyên quyền.
Đặt Tư Mã Ý là danh,
Chữ là Trọng Đạt, khôn hiền thông minh.
Xưa là chủ bạc đến sanh,
Cháu con Tào Tháo mặc mình sửa sang.
Tính vừa ba nước hiệp vương,
Thâu về một mối chiếm đương tay chàng."
Phán thôi sắc xuống công đàng,
Diêm Vương mở đọc phân minh lịnh truyền.
Thôi bèn thỉnh Trọng Tương liền,
Khuyên mời tiếp đãi ngự tiền để trên. (ngưng trích)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét