III. Tự Điển Bách Khoa Toàn Thư viết:
Thái Quốc Mưu
- “Dưới triều nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn
làm quan đến chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ
là một chức quan võ chỉ huy quân đội bảo
vệ kinh đô Hoa Lư bấy giờ. Năm 1005, Lê Trung Tông bị em trai là Lê Long Đĩnh
sát hại, ông ôm Trung Tông khóc, Long Đĩnh cho rằng Uẩn là tôi trung, bèn cho
giữ chức quan Cận vệ. Đến năm 1009, Long Đĩnh qua đời, con trai còn nhỏ, ong
Uẩn được lực lượng của Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh tôn làm Hoàng đế.”
Ba
đoạn I - II và III trên đây viết về nguồn gốc, cách xuất thân của Lý Thái Tổ,
rất đáng tin.
Những truyền thuyết, huyền thuyết
dưới đây, trích từ Wekipedia:
1. “Phạm Thái Hậu đi chơi núi Tiên Sơn,
cùng với thần giao hợp mà sinh ra Lý Công Uẩn. Lý Khánh Vân nuôi làm con, nhận
là họ Lý. Bài ký ở chùa Tiên Sơn có nói: “Thái Hậu cảm tinh anh của Bạch Hầu mà
sinh ra Vua, nhà sư Vạn Hạnh đem về nuôi.”
2. “Mẹ Lý Thái Tổ năm 20 tuổi nghèo hèn
không có chồng, nương tựa người lão Sa môn ở chùa Ứng Thiên, làm việc thổi nấu,
khi lửa tắt và bà đương ngủ lơ mơ, lão Sa môn ngẫu nhiên chạm phải, giật mình
trở dậy rồi có thai mà sinh ra Vua (Lý Công Uẩn)”.
Chữ
“lão” ở đây không phải chỉ người già, mà dùng để chỉ người đàn ông là tu sĩ nhà
Phật, một cách khinh bỉ, bởi kẻ đó không phải là nhà tu chân chính, lương
thiện.
Đoạn
văn trên đây, theo người viết nghĩ có thể sự việc như sau: “Người phụ nữ họ
Phạm nghèo khó, phải nương thân trong chùa, bị một lão Sa môn (Sa môn, để chỉ
nam tu sĩ Phật giáo, tức thầy Chùa), cưỡng dâm rồi có thai. Còn nói, “lão Sa
môn ngẫu nhiên chạm phải giật mình trở dậy rồi có thai”, chỉ là cách ngụy biện,
gỡ gạc cho Mẹ vua “không có chồng mà có chửa”.
Người
Trung Hoa, gọi hai chữ Sa môn bằng “CẦN TỨC”, có nghĩa, “người tu sĩ nhà Phật dẹp hết tính ác để tiếp thu tính thiện”. Còn
Sa di để chỉ giới nam mới quy y cửa Phật, sau khi kẻ ấy nhận đủ mười giới răn
của Phật pháp, hầu tự răn mình, tránh tội ác và trở thành người biết sống lương
thiện và làm điều thiện. Người Việt thường gọi Sa môn là Chú Tiểu. Nếu kẻ đó
thuộc giới nữ, thì gọi là Sa di ni.
3.
“Mẹ Vua ở quanh quẩn trong rừng Cổ Pháp
hốt nhiên chết, kiến, mối xông đất đẩy thành mả, cao bảy thước được chỗ đất tốt
chung linh. Đến bây giờ Vua về yết lăng, trông thấy cây cối xanh tốt, loài chim
bay liệng cảm động rớt nước mắt, sai đo quanh mộ mỗi bên vài mươi thước làm cấm
địa, sau này các triều có phụ táng ở đó đều gọi là Thọ lăng.”
4. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, viết: Lý “Thái Tổ, tên húy là Công Uẩn, người
châu Cổ Pháp, Bắc Giang. Mẹ là người họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với
thần giao hợp, rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu
Thái Bình năm thứ 5 thời Đinh (974). Lớn lên làm quan nhà Lê, thăng đến chức
Điện Tiền Chỉ Huy Sứ”.
5. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương
Mục là bộ chính sử của nhà Nguyễn do Quốc Sử Quán triều Nguyễn soạn thảo vào
khoảng năm 1856-1884, viết: “Công Uẩn, người Cổ Pháp Bắc Giang. Sinh ra
đã thông minh sâu sắc, dung mạo đẹp đẽ khác thường, khi nhỏ thường thụ nghiệp
với sư Vạn Hạnh. Vạn Hạnh thấy rất lạ mới nói rằng: “đây không phải người
thường, ngày sau tất sẽ làm chủ thiên hạ”.
6. Đại Nam Nhất Thống Chí do Quốc Sử
Quán triều Nguyễn thời vua Tự Đức, viết: “Quê hương của Lý Công Uẩn là Cổ
Pháp thuôc Giao châu. Người mẹ họ Phạm ăn ở với “Thần nhân” mà sinh ra... Nhưng
khi lên ngôi Công Uẩn lại truy phong cha làm Hiển Khánh Vương, mẹ làm Minh Đức
Thái hậu. (Bịa đặt rồi tráo trở, sử mà viết như đồ chơi trẻ em).
Qua
6 lần (từ 1-6), viết về cách xuất thân của đấng minh quân Lý Thái Tổ nêu trên,
người viết nhận thấy: “Đất nước, dân tộc, tôn giáo,
triều đại nào cũng tự tạo cho mình một huyền thoại “không giống ai”. Sau đó, vì
lợi ích phe nhóm hoặc tôn giáo, họ xây dựng những công trình vật chất để tạo
thành “Chứng Tích”. Từ những cái gọi là “Chứng Tích” ấy về lâu dài sẽ được nâng
lên thành “Di Tích Lịch Sử” để mê hoặc, ru ngủ lòng người” Và, chỉ có con người
mới có khả năng “lộng giả thành chân” để dối lừa nhau”.
Điều
lạ lùng là, “lý lịch” (tiểu sử) của một đấng minh quân (dù là dân Tàu thứ
thiệt) ở đất nước luôn tự hào có trên bốn ngàn năm văn hiến, thế mà sử sách,
đất nước dân tộc mình viết cũng không đồng nhất, thiếu xót quá nhiều, bịa đặt
tùm lum... Chợt nghĩ vui, hay là các nhà sử học nước ta muốn dạy cho hậu duệ
của mình cái trò gian gian, trá trá như “Ai kia” tung hỏa mù tiểu sử để dối lừa
dân dân tộc Việt
b)- Về danh tướng Lý Thường Kiệt:
Hầu
hết, sử Việt chỉ viết Lý Thường Kiệt mà không ghi rõ Lý Thường Kiệt tên thật là
Lý Thượng Cát, nguyên là một Hoạn Quan.
Hai
tiếng “Hoạn Quan” dùng chỉ những người yêu nước tự cung (tự thiến) để không
vướng bận gia đình, với ý muốn gần gũi vua hầu phục vụ đất nước một cách tích
cực. Còn thái giám là thành phần bị cưỡng bức cung hình (bị thiến) để ngăn chận
mọi quan hệ tình dục với cung tần, thị nữ cùng phục vụ trong hậu cung. Giới nầy
gọi là Hoạn Nô.
Do
giới tự hoạn với lý do cao cả quá ít (dường như Việt Nam chỉ có hai vị Lý
Thường Kiệt và Lê văn Duyệt), về sau người ta gọi hoạn nô (thái giám) bằng hoạn
quan.
c)- Lê Đại Hành (Lê Hoàn):
Cũng
như Lý Thường Kiệt phần Lê Hoàn (Lê Đại Hành), sử Việt chỉ viết thuần Lê Hoàn,
không ghi một tên khác là Lý Uy.
-
Câu: “Tần ký giải Hàn Đan vi nhi Triệu
vương nhập triều, sử Triệu Thích ước sự ư Tần, cát lục huyện nhi cấu.”
Dịch: “Sau khi Tần rút quân, không vây
Thành Hàn Đan nữa, thì Triệu vương vào triều, liền sai Triệu Thích giao ước
việc thần phục Tần, cắt 6 huyện cho Tần để giản hòa.
- Ngu Khanh vị Triệu vương viết: “Tần chi công
vương dã quyện nhi qui hồ? Vương dĩ kỳ lực thượng năng tiến, ái vương nhi phất
công hồ? Dịch: “Ngu Khanh nói với
Triệu vương: “Tần tới tấn công nhà vua có phải vì quân mệt mỏi mà rút về chăng?
Nhà vua có cho rằng lực của Tần còn có thể tiếp tục tấn công, thế nhưng vì
thương nhà vua mà không tấn công nữa hay không?”
- Ngu Khanh viết: “Tần dĩ kỳ lực
công kỳ sở bất năng thủ, quyện nhi qui. Vương hựu dĩ kỳ lực chi sở bất năng thủ
dĩ tống chi, thị trợ Tần tự công dã! Lai niên Tần phục công vương, vương vô cứu
hĩ!” Dịch: “Ngu Khanh nói, “Tần thấy
lực của mình đánh chiếm cái không thể chiếm được, bởi lẽ đó, khi thấy quân mệt
mỏi mà rút về, bây giờ nếu nhà vua nghĩ là quân lực của Tần không thể đánh
chiếm được Thành của Triệu mà lại cắt đất nhượng cho Tần thì đây là nhà vua
giúp Tần để tự đánh mình! Năm sau Tần lại tới tấn công nhà vua thì chừng đó nhà
vua không cứu được mình nữa!”.
- Vương viết: “Tần chi công ngã
dã bất di dư lực hĩ, tất dĩ quyện nhi qui dã!” Dịch: Triệu
vương nói: “Quân Tần đánh ta không còn sức nữa, đây chắc chắn vì mệt mỏi mà rút
về!”
-
Câu: “Vương dĩ Ngu Khanh chi ngôn cáo
Triệu Thích.” Dịch: “Triệu vương đem
lời của Ngu Khanh nói với Triệu Thích.”
“- Triệu
Thích viết: Thử đạn hoàn chi địa phất dữ, lệnh Tần lai niên phục công vương”.
Dịch: Triệu Thích nói: “vùng đất nhỏ này
mà không cho thì năm sau Tần lại tới tấn công nhà vua nữa.” / Sử Ký. Qu.
LXXVI. Ngu Khanh truyện.
Thái
Quốc Mưu
_______________
Tham khảo và đối chiếu có trích đoạn,
từ:
-
Bộ Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn, NXB Văn học, 1995.
-
Thỉnh ý trực tiếp Học giả Minh Di (bậc đàn anh của người viết)
-
Lãnh Ngoại Đại Đáp của Chư Khứ Phi.
-
Sử Ký của Tư Mã Thiên
-
Tự điển Hán Việt Thiều Chửu
-
Tống Sử. Qu. CCCXXXII.
-
Bách Khoa Toàn Thư.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét