Sách Sử ký Chí nghi của Lương
Ngọc Thắng nói:
Thái Quốc Mưu
- “Tín chết oan vậy! Những
người hiền ngày trước đều thấy ông không có tội trạng gì tỏ ra làm phản chỉ có
mấy lời tố giác vu vơ đấy thôi... Qua Sử ký, dựa vào giấy tờ làm án mà viết ra
cũng thấy rõ là sai. Bữa cơm ngàn vàng, cởi áo nhường cơm, lẽ nào phụ bạc Cao
Đế. Không nghe Thiệp (Vũ Thiệp), Thông (tức Khoái Triệt. Vì tên Triệt trùng với
huý của Hán Vũ Đế nên viết thành Thông), không giữ quân làm vua đất Tề thì thế
nào cũng không làm liều khi nhà ở Hoài Âm. Không nghĩ đến việc liên kết các vua
lớn như Kinh Bố, Bành Việt thì ắt không giao ước dễ dàng với viên tướng ở ngoài
biên giới xa xôi như Trần Hy.
Ai nghe lời nói “khi nắm tay
đuổi người xung quanh ra”, việc mưu phản là đại sự, làm sao mà Hàn Tín lại sơ
suất như vậy? Số người và năng lực bọn tôi tớ bao lăm, Hàn Tín tất không dùng
họ một cách liều lĩnh. Mới hay Cao Tổ sợ Tín không phải một sớm một chiều,
Trương Lương giẫm vào gót chân, ghé tai mà nói ở Vu Thai, Cao Tổ cướp binh phù,
đoạt quân đội, bắt trói cũng chưa cho là vừa, giết cả họ mới mừng. Xét câu: “Dẹp
xong quân Trần Hy trở về vừa mừng vừa thương”, đủ rõ Tín không có tội mà chết.”
Các sử gia đều nói Hàn Tín bị oan. Cái chết của ông cũng như cái chết
của nhiều công thần khai quốc nhà Hán khác như Bành Việt, Anh Bố, v.v... đều có
sự khuất tất, do những mưu đồ vu cáo, hãm hại của chính vợ chồng Lưu Bang và
các cận thần như Trần Bình, Trương Lương. Công lao, tài năng của Hàn Tín quá
lớn khiến cho Lưu Bang không bao giờ yên tâm và phải tìm cách trừ khử, đúng như
nhận định của Khoái Triệt và Vũ Thiệp trước kia.
Không phải một mình Hàn Tín là nạn nhân của sự bạc bẽo của vua Hán. Cho
tới trước khi Lưu Bang chết, tất cả các khai quốc công thần làm vua chư hầu đều
bị giết hoặc bị đuổi, phế truất (như Hàn Vương Tín, Lương vương Bành Việt, Hoài
Nam Vương Anh Bố, Yên vương Tang Đồ, thậm chí cả Yên vương Lư Quán là bạn chí thân
của Lưu Bang, Triệu vương Trương Ngao là con rể v.v...) bởi những tội trạng
không rõ ràng để thay vào là các hoàng tử nhà họ Lưu.
Dù trước ông đã có trường hợp đại phu Văn Chủng nước Việt bị vua Câu
Tiễn đối xử tương tự, nhưng khi nhắc đến câu “Thịt thỏ hết, chó săn bị mổ”,
người ta vẫn thường nhắc đến chuyện của Lưu Bang.
NHẬN ĐỊNH:
* Công trạng: Hàn Tín là một danh tướng bách chiến bách
thắng. Không có ông quân Hán không thể vượt qua Tần Lĩnh mà tiến về phía đông
và thắng được quân Sở mạnh mẽ, trong tam kiệt đóng góp cho Hán trào Hàn Tín là người
có công lao to lớn nhất. Một tay ông đã diệt Tam Tần và nước Hàn, sau đó đánh
bại quân Sở giải vây cho Hán Vương ở Huỳnh Dương, bắc phạt diệt các nước Ngụy,
Triệu, Yên, Tề. Tại trận Cai Hạ, phải có sự xuất hiện của Hàn Tín thì Hạng
Vương mới bị đánh bại.
Sau này khi muốn bình thiên hạ, Tào Tháo đã cố gắng tìm 1 tướng quân
như Hàn Tín, nhưng nhân tài ngàn năm có 1 như ông không xuất hiện vào thời Tam
Quốc.
Tào Tháo thường khen Tào Nhân là Hàn Tín nhưng thật ra là lời nói quá
mà thôi. Người đời sau thường hay so sánh Hàn Tín với danh tướng vô địch của
nước Tần thời Chiến Quốc là Bạch Khởi.
Trong Sử Ký Tư Mã Thiên, phần Hán
Cao Tổ Kỷ, Lưu Bang từng khen ông:
- “Nắm trong tay trăm vạn quân đã đánh là thắng, tiến công là nhất định
lấy thì ta không bằng Hoài Âm Hầu.”
* Tài năng: Tên tuổi của Hàn Tín gắn liền với những trận
đánh nổi tiếng, được hậu thế nhắc đến như những điển hình về nghệ thuật quân sự
như trận thế “bối thủy” phá Triệu, ngăn nước sông Tuy Thủy giết danh tướng Sở
là Long Thư. Những chiến thuật mà ông sử dụng được trở thành thành ngữ của
Trung Quốc như: “Hàn Tín điểm binh; Minh
tu sạn đạo, ám độ Trần Thương.” sau này được biên tập lại thành một trong
36 kế; Thập diện mai phục. Có thể nói rằng về mặt quân sự trong tranh chấp giữa
Hán và Sở, gần như một mình Hàn Tín quyết định cán cân nghiêng về phía nào. Ông
theo Sở thì Sở thắng, theo Hán thì Hán thắng. Ông rất giỏi về quân sự nhưng về chính
trị và thù đoạn ông không phải là đối thủ của Lưu Bang – một con cáo đầy bản
chất lưu manh.
Dù sao, hậu thế vẫn luôn nhìn nhận Hàn Tín là một trong các đại tướng
cầm quân xuất sắc nhất.
Đền ơn bà giặt lụa, không nghe lời Khoái Triệt chia ba thiên hạ, chứng
tỏ ông là người trung hậu, đạo đức, nhân từ. Còn Lưu Bang, người bị các sử gia
Trung Quốc gọi là “tên vua vô lại", chỉ biết lợi dụng, sau đó phủi ơn. Sau
bị Lã Hậu hành hình rất ác: xẻo mũi, róc thịt, vứt xương cho chó ăn, giết cả 3
họ của ông, trước khi chết ông hận mình không nghe mưu của Khoái Triệt đúng như
lời: “Thỏ khôn hết thì chó giỏi bị nấu, chim cao hết thì cung tốt bị cất” thì
đã muộn.
* Tính cách: Dịch
Trung Thiên lại cho rằng, con người Hàn Tín ngoại trừ có khí độ và bao dung còn
là kẻ tự tư tự lợi, không đáng tin cậy, có tâm lý đầu cơ. Lúc có thể phản Hán,
Hàn Tín thấy không phản sẽ lãi lớn, lúc không thể phản Hán, Hàn Tín lại thấy
không phản sẽ thiệt to. Nhìn vào việc Hàn Tín bán đứng Chung Ly Muội thì cũng
biết Hàn Tín chẳng phải tốt lành gì. Hàn Tín dâng đầu Chung Ly Muội để mua cổ
phần chính trị, lại bị Lưu Bang xem thường, đã thế còn để cho Lưu Bang bắt được
thóp: chứa chấp kẻ nghịch tặc, bán đứng bạn bè tốt, giết người diệt khẩu, chưa
đánh đã khai, hình tượng đạo đức cao độ của vị danh tướng bách chiến bách thắng
thì ra cũng chỉ như thế, kẻ như vậy mà Lưu Bang ta không trị được sao? Việc làm
của Hàn Tín đã giúp Lưu Bang rửa sạch trách nhiệm về mặt đạo đức và tự đưa mình
lên pháp trường. Hàn Tín đã bán đứng bạn bè, nay lại tự bán luôn mình, không
những không giữ được mạng mà còn mất nhanh hơn.
Hàn Tín vừa đáng kính vừa đáng
thương. Đáng kính ở chỗ Hàn Tín tuy xuất thân ti tiện nhưng nhờ nhẫn nhục chịu
đựng, cố gắng phấn đấu đã kiến công lập nghiệp, lưu danh sử sách. Đáng buồn ở
chỗ Hàn Tín không triệt để. Hàn Tín trung với Hán, nhưng không trung triệt để,
nên khi bị giết không thấy có ai đứng ra minh oan cho như Loan Bố khóc Bành
Việt, Quán Cao chịu hình không khai ra Triệu vương, những người đó đều được Lưu
Bang tha chết. Hàn Tín muốn phản Hán, nhưng khi có quân trong tay thì không
phản, đến lúc nằm trong tay người ta thì lại muốn phản, thế là đã mê muội rồi.
Sự việc Trần Hy làm phản, trước
đó có thể đã có thư từ với Hàn Tín, nhờ Hàn Tín làm chân trong, Hàn Tín có đồng
ý hay không thì không biết, nhưng thư mật đã rơi vào tay Lã hậu để trở thành
chứng cớ Hàn Tín mưu phản. Chỉ xét thấy Hàn Tín trước khi chết có nói "hối
hận không nghe lời Khoái Triệt" thì chứng tỏ Hàn Tín đã có lòng phản.
Nếu nói Hàn Tín tham gia mưu
phản thì có thể oan cho Hàn Tín, nhưng
không oan khi nói rằng trong bụng Hàn Tín đã có lòng phản lại Lưu Bang. Sự
việc xấu đi khi ở trong Hàn Tín có cả lòng trung và gian, và cả hai đều không
triệt để, không hết lòng trung và không dám phản thật. Nếu trung triệt để, thì cho dù bị oan cũng sẽ
có những bậc trượng phu đứng ra nói thay cho, không người nào đứng ra biện hộ
cho Hàn Tín chứng tỏ nhân cách của Hàn Tín có vấn đề. Còn nếu phản triệt để,
thành công thì không cần nói, có thua cũng không hối hận.
(Nhận định của Dịch trung Thiên
đoạn trên đây hoàn toàn lệch lạc, không chính xác. Nếu Hàn Tín có ý phản Lưu
Bang thì phản lúc Vũ Thiệp với Khoái Triệt khuyên Hàn Tín phản Hán Đế để phân
ba thiên hạ rồi – Thái Quốc Mưu.)
Dịch Trung Thiên cho rằng, Hàn
Tín chê Hạng Vũ có lòng nhân của đàn bà, do dự thiếu quyết đoán nhưng lại không
biết chính mình cũng như thế, và cũng không biết rằng đàn bà vị tất đã có lòng
nhân. Cuối cùng thì Hàn Tín, người có lòng nhân của đàn bà đã bị Lã hậu, một người
đàn bà bất nhân giết hại. Khi so sánh 3 con người Lưu Bang, Hạng Vũ và Hàn Tín,
Dịch Trung Thiên cho rằng: Lưu Bang tự biết mình biết người nên đã chiến thắng.
Hạng Vũ không biết mình cũng không biết người nên thua to. Hàn Tín biết người
nhưng không biết mình nên tuy có thành công nhưng cuối cùng cũng thất bại. Hạng
Vũ là anh hùng triệt để, anh hùng bản sắc nên chết oanh liệt. Hàn Tín khó khăn
lắm mới trở thành anh hùng, là anh hùng không triệt để nên ấm ức mà chết.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét