Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

Ghi chú:
THÁI QUỐC MƯU



I. Thượng Quan (Nghi):

Thượng Quan là họ kép. Đa phần những họ kép xuất phát từ chức danh hoặc từ dòng tộc của vua. Thí dụ: Tư Mã là chức danh, thế hệ sau quan Tư Mã trở thành họ kép (Tư-Mã Ý). / Công Tôn, Công Tằng và Tôn Thất để chỉ những người có quan hệ với nhà vua như thế nào. Về sau thành hai họ kép (Công-Tôn Toản, Công-Tằng Tôn Nữ Thị Huyền), (Tôn-Thất Đính,… Âu-Dương Tu,…).

II. Uyển Nhi:

a)- Là tên của một loại ngọc (ngọc UYỂN). Chữ nhi ở đây là trợ từ, như "HOA nhi" là cái bông.)


b)- Một đứa trẻ đẹp, nhu thuận nết na. NHI là đứa bé trai, về sau người ta dùng NHI để chỉ chung các bé cả trai lẫn gái (thiếu nhi)

III. Phi, Chiêu – Tu - Sung, Tiệp, Mỹ, Tài, Bảo, gồm có:

(a). Phi, có:

13 tuổi Uyển Nhi được phong Phi, là để cho nàng được hưởng bỗng lộc theo bậc ngũ phẩm, chứ không phải để phục vụ như những Tài Nhân Quí phi, Thục phi, Đức phi, Hiền phi. Tất cả là 4 người, được gọi chung là Phu nhân. Trật Nhất phẩm.

(b). Chiêu-Tu-Sung, gồm có:

b1. Chiêu nghi - Chiêu Dung - Chiêu Uyển.
b2. Tu Nghi - Tu Dung - Tu Uyển.
b3. Sung Nghi - Sung Dung - Sung Uyển.

Tất cả 9 người, được gọi là Cửu tần - Trật Nhị phẩm.

(c). Tiệp hảo. Tất cả 9 người - Trật Tam phẩm.

(d). Mỹ nhân. Tất cả 9 người - Trật Tứ phẩm.

(đ). Tài nhân. Tất cả 9 người - Trật Ngũ phẩm.

(e). Ngoài ra còn có:

e1. Bảo Lâm 27 người. - Trật Lục phẩm.
e2. Ngự nữ 27 người. - Trật Thất phẩm.
e3. Thể nữ 27 người. - Trật Bát phẩm.

IV. Cân Quắc Tể Tướng:

Bốn chữ Cân Quắc Tể Tướng, ta có thể hiểu “Vị Tể Tướng là một phụ nữ tài hoa, đẹp đẽ”. Mục đích là để phân định với chức danh Tể Tướng của các ông Tể Tướng trong triều.

Còn nghĩa đen, CÂN là cái khăn mà các phụ nữ con nhà quyền thế quấn đầu. Quắc là một một loại nữ trang như một hay nhiều sợi dây chuyền kết lại, hoặc sợi dây chuyền bản có cẩn ngọc thạch và có mặt, khi trang điểm phần sợi dây được đính trên cái khăn quấn đầu ấy, còn phần mặt dây chuyền được để thòng xuống trên trán.

Thành ngữ có câu “Cân hương Quắc sắc” để chỉ những phụ nữ quý phái, đẹp đẽ. Những người không biết, thường nói hay viết Cân hương QUỐC sắc. Trong khi hai chữ QUỐC Sắc nằm trong câu “Thiên hương Quốc sắc” (Sắc nước, hương trời).

V. Tài nhân:

Ở đây là chức danh có tên Tài Nhân. Trật Ngũ phẩm. Trách nhiệm của Tài Nhân là sắp xếp yến tiệc, chỗ ngủ nghỉ, coi về tơ lụa, vải vóc... Mỗi triều đại thường có 9 Tài Nhân. Có thể Đường Cao Tông ban chức danh Tài Nhân cho Uyển Nhi khi nàng mới 13 tuổi.

Khi tôi (TQMưu) viết “Tài Nhân Trịnh Bản Kiều”, có một vị chủ nhiệm không hiểu nghĩa TÀI NHÂN là gì, (hay có lẽ vị ấy nghĩ tôi viết “lộn”, nên chỉnh lại giùm) nên đảo ngược hai chữ TÀI NHÂN thành “NHÂN TÀI” Trịnh Bản Kiều”. Trong khi Tài Nhân là người tài hoa thường dùng để nói về giới văn chương, nghệ thuật.

“Tài nhân Trịnh Bản Kiều” là nói về “người tài hoa (tên)Trịnh Bản Kiều”.

Trịnh Bản Kiều có “Thi tài hoa” – “Thư (pháp) tài hoa” – “Họa (pháp) tài hoa”, người đời thường gọi là “Bản Kiều tam tuyệt”.

Ngoài ra, tiếng Tài Nhân còn chỉ người có tài năng đặc biệt trong lãnh vực nào đó.

Thí dụ, trong bài Ai Giang Đầu của Đỗ Phủ có câu:

            Liễn tiền TÀI NHÂN đới cung tiễn,
            Bạch mã tước nghiệt hoàng kim lặc.

Chữ Tài Nhân trong câu thơ trên chỉ những cận vệ võ giỏi, có tài cung, kiếm phi thường... luôn hầu cận bên Đường Huyền Tông.

Còn NHÂN TÀI là người giỏi, có tài. Chữ “TÀI” trong Tài Nhân và chữ “TÀI” trong Nhân Tài viết y nhau.

Xin mạo muội cống hiến quý độc giả mua vui.

Thái Quốc Mưu
(Atlanta, Sept. 9-2016)

---------------------
Tài liệu tham khảo và trích đoạn từ:

- Cựu Đường Thư của Lưu Hu (888 - 947)
- Tham khảo trực tiếp Học giả Minh Di (Giảng sư Triều Lương Chính)
- Bách Khoa Toàn Thư
- http://www.qulishi.com/
- Sử Ký Tư Mã Thiên


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét