Ký Giả / Nhà Thơ / Nhà Văn DUY VĂN
Giới Thiệu KINH VÔ THƯỜNG
của Phù Hư dật sĩ Võ Thạnh Văn
Bộ “KINH VÔ THƯỜNG” của tác giả Võ Thạnh Văn gồm có 2 quyển THƯỢNG và HẠ
và trong hai quyển này chứa khoảng 10 tập thơ mang tên Cát Bụi theo số thứ
tự từ 1 đến 10. Mỗi tập thơ Cát Bụi như vậy, chứa một ngàn câu thơ
theo thể LỤC BÁT. Như thế toàn bộ tập sách KINH VÔ THƯỜNG chứa 10
ngàn câu. Nếu tính theo chữ gồm có 70 chục ngàn chữ.
Đọc qua tập thơ Cát Bụi 2 từ câu 251 đến câu 500, trên phương diện hình
thức chúng ta thấy: tác giả Võ Thạnh Văn không những là một nhà thơ can
đảm lại còn tài tình nữa, vì dám chọn thể lọai LỤC BÁT để viết về thơ
KINH ĐIỂN. Với phương thức chọn lựa này chắc chắn tác giả phải thật
hiểu rõ về vần, điệu và tiết tấu… của thể thơ này mới có quyết định như vậy, vì
thể thơ LỤC BÁT, tuy dễ gieo vần, nhưng vì gần gũi với Ca dao và Vè nên lắm lúc
nhiều nhà thơ xử dụng thể lọai này, bài thơ của họ có những âm điệu gần giống
như một bài Ca dao hay Vè, tạo cho người đọc nhiều nhàm chán.
Nhưng, với tác giả Võ Thạnh Văn, khi áp dụng thể loại LỤC BÁT cho việc
viết thơ KINH ĐIỂN, ông đã thành công một cách nhất định. Qua 10 tập
thơ Cát Bụi, ngoài sự am hiểu về vần, điệu, tiết tấu … ông còn chứng tỏ
khả năng hiểu biết bất tận của mình về bố cục của thể thơ này. Ông dùng cú pháp
và ngôn ngữ lưu loát, trôi chảy, ổn thỏa… Đặc biệt trong tập thơ Cát Bụi
2, tác giả Võ Thạnh Văn cho người đọc thấy nghệ thuật xử dụng vần điệu một cách
tài tình. Có những đọan thơ gần như là yểu vận mà ông vẫn gieo vần một cách
mạch lạc, rõ ràng, như trong đọan thơ:
“Cát
đi vấp bóng hoàng hôn
Bụi
bay rã cánh, ngậm hồn cõi xa
Về
đây bện cỏ lợp nhà
Ngắm
chân đá dựng mây là đà bay”
Hay :
“Gió
mang phún thạch ra đi
Người
về nhân thế thị phị bụi làn
Ta un
củi mục non ngàn
Tình
hâm. Tro lạnh. Đêm tàn. Rượu vơi”
Cũng trong hình thức, tác giả Võ Thạnh Văn không phải vô tình cho người
đọc thấy sự đặc thù trong cách xử dụng thể thơ LỤC BÁT trong “ KINH
VÔ THƯỜNG” của ông. Mở bất cứ tập thơ Cát Bụi nào của Võ Thạnh Văn chúng ta đều
thấy phần lớn những câu 6 hay 8 đều được trình bày ngắt đọan bởi một dấu chấm
hoặc gạch nối hoặc ngoặc đơn, nhưng ý nghĩa của câu văn tác
giả muốn trình bày vẫn rõ nghĩa. Làm thơ Lục Bát lối này có phải chăng đó là
một thể thức mới một kiểu lập dị riêng biệt mà chỉ có tác giả Võ Thạnh Văn
mới là người ưu tiên thực hiện? Chúng ta hãy xem đọan thơ sau đây
để thấy sự sáng tạo trong thơ Lục Bát của tác giả Võ Thạnh Văn.
“Mưa
sa. Bão Táp. Sóng nhồi
Trăm
năm (ngụp lặn mé đời) phồn hoa
Cuối
mùa. Thác Lọan. Kinh qua
Bóng
ai (chao đảo sương tà) rơi nghiêng”
Hoặc:
“Cát
nào. Không trước. Không sau
Không
sinh. Không diệt. Không dày. Không thưa
Bụi
nào. Không thiếu. Không thừa.
Không
biến. Không hóa. Không trưa. Không chiều”
Về nội dung, 10 tập thơ Cát Bụi trong KINH VÔ THƯỜNG, nhất là tập Cát
Bụi 2, chúng ta thấy Võ Thạnh Văn là một nhà thơ luôn sáng tạo, ngoài đức can
đảm, tài tình, ông cũng còn là một nhà mô phạm, một nhà tu có một kiến thức
triết học và thần học thuộc cấp thượng thừa. Tác giả đã thấu triệt nhân sinh
quan của Phật giáo về căn nguyên của con người theo lẽ tuần hoàn của tạo hóa:
“Con người từ đâu mà sinh ra, chết sẽ đi về đâu, có còn về đâu hay mất
hẳnn?”. Trả lời câu hỏi này ông viết:
“Người
từ (cát bụi) đầu thai.
Nghe
kinh. Hóa cội hoàng mai. Đền Thần
Ta từ
(sỏi vụn) liều thân
Ngẩn
ngơ. Trôi giạt. Phù trầm. Hợp ly”
Tác giả khẳng định con người từ cát bụi từ đất mà có, sự khẳng định có
tính khoa học đó của tác giả chúng ta thấy phù hợp với thuyết tạo vật của
Khởi Nguyên (Cựu Ước). Qua đó, Thiên Chúa là một vị duy nhất sinh ra Trời- Đất
và muôn vật. Theo bộ Khởi Nguyên (Cựu Ước) thì vũ trụ này trước đây
là một khoảng mênh mông, mù mịt. Nhờ tài năng và huyền phép của Thiên Chúa,
trong 7 ngày Ngài tạo thành mặt Trời, mặt Trăng, Tinh tú, Đất, Nước, Núi ,
Sông, Cây Cối, con người và vạn vật.
Trong 7 ngày ấy, Thiên Chúa lấy chút đất hà hơi thành ra ông Adam, đồng
thời lấy chút đất khác cùng mấy dẻ xương sườn của ông Adam, hà hơi vào
thành ra bà Eve. Hai người lấy nhau, sinh xuống cõi trần làm thủy tổ loài
người, sau khi hai ông bà đã phạm vào trái cấm của Chúa. Từ đó con
cháu loài người đều bị bó buộc trọng tội tổ tông truyền. Ai biết tôn
trọng, kính thờ, vâng lời Thiên Chúa sẽ được lên thiên đàng, đời đời sung
sướng, trái lại sẽ phải đọa đày xuống địa ngục.
Bởi chưng con người là Cát Bụi nên phải trở về Cát Bụi.
“Đời
sinh ta ra ta là Cát.
Đời
đưa ta đi, ta về đất....
Và
anh đã về.
Một
chiều anh đã về quê”
(Huyền
Thoại Người Mang Tên Quốc
của
Phạm Duy)
Cho nên từ trạng thái vật chất cát bụi trở thành người bởi hóa
kiếp, nghĩa là không mãi mãi ở yên trong trạng thái nhất định nào, luôn chuyển
hóa và thay đổi hình dạng. Từ trạng thái hình, thành, cao, thấp, to, nhỏ, tan,
rã… những giai đoạn thay đổi đó tác giả cho là “Vô Thường” và theo Phật gọi là
định luật: Thành, Trụ , Họai, Không.
Con người là thực thể hiện hữu trong thế gian nên cũng không thóat khỏi
sự biến đổi, hư hoại nên không tránh khỏi định luật vô thường, lúc có, lúc
không, luôn thay đổi, biến hóa, vận chuyển…
“Tay
vo (hạt cát) vô thường
Miên
man hoa sóng. Miên trường sắc không
Bọt
bèo (xô giạt) nhánh sông
Nhấp
nhô thuyền đậu. Ngùi trông thuyền về”
Ngoài những kiến thức thâm thúy triết lý về kiếp sống tạm bợ của con
người trên cõi thế gian, Võ Thạnh Văn còn chứng minh cho người đọc thấy khả
năng uyên bác của ông về thuyết Luân Hồi của Đạo Phật . Được sinh ra làm
người con người phải tu chuyên và trải qua nhiều kiếp và nó luôn gắn liền với
thuyết nhân quả và nghiệp quả, nghiệt oan.
“Tự
thân (hạt bụi) nhuốm sầu
Tìm
về (với cát nối cầu) nghiệt oan”
Đạo Phật xem việc sống chết là một vấn đề quan trọng, làm nhân loại luôn
thắc mắc và băn khoăn. Và từ sự băn khoăn đó nên có nhiều quan niệm về vấn đề
này. Thuyết CHẤP ĐOẠN cho rằng, loài người cũng như vật chất, chết là mất
hẳn không còn gì sau đó: “Là cát bụi, con người trở về cát bụi”. Thuyết CHẤP
THƯỜNG thì trái lại, cho rằng con người chết đi linh hồn vẫn còn, vẫn vĩnh viễn
lên Thiên Đàng hoặc mãi xuống địa ngục.
Với Võ Thạnh Văn, tuy am hiểu thuyết luân hồi của Phật giáo, nhưng là
một nhà tu xuất, tín lý và thần học Thiên Chúa Giáo dạy ông chấp nhận thuyết
chấp thường cho phần hồn tinh anh… và cùng lúc, chấp nhận thuyết chấp đoạn cho
thể chất tro bụi của thân phận con người: Tiền thân là cát bụi phải trở về cát
bụi, mặc dù bị quá trình tạo kiếp chi phối.
Bởi đó, theo Võ Thạnh Văn, con người có những nỗi khổ đau tự tại trong
kiếp hiện sinh như là một hiển nhiên tất yếu:
“Khổ
đau. Tự tánh. Vô thường
Hốt
nhiên. Tụ tán. Như thường. Như không.
Nửa
khuya lạnh nụ yêu hồng
Mai
mùa tình (chín, rục) nồng ngát hương”
Thân phận của Cát bụi trong KINH VÔ THƯỜNG của Võ Thạnh Văn, chính là
thân phận của con người có những cảm giác, cảm nhận vui, khổ hoặc không vui
khổ từ Ngũ Căn (Mắt, Tai, Mũi , Lưỡi, Thân). Rồi cũng từ năm giác quan này
đưa con người đến ý thức tâm thiện hay tâm ác, mà sinh ra u sầu hay trụy lạc.
“Cát
pha bụi. Lạnh lòng tay
Nồng
đêm trăng giải. Ấm ngày sầu chao
Tình
buồn (từ thuở) uyên trao
Vàng
rơi. Ngọc rụng. Mày chau. Châu trầm”
Trên khía cạnh học thuật, chúng ta đều phải công nhận tác giả Võ Thạnh
Văn là người thêm vào tòa nhà văn học Việt Nam một nghệ thuật mới trong cung
cách sáng tác và sử dụng cấu trúc trong thể thơ Lục Bát rất thuần
điệu. Xưa nay, dùng thơ để viết kinh là thông thường, nhưng dùng thơ Lục
Bát và ngắt dấu để viết Kinh Thư mới là một phát sinh mới đáng đề cập.
Với KINH VÔ THƯỜNG, đại để là 10 tập thơ Cát Bụi, mà đặc trưng
là Cát Bụi 2, chúng ta còn thấy nơi Võ Thạnh Văn một con người luôn tìm tòi học
hỏi , nghiên cứu sâu về các triết lý sống của nhiều Đạo Giáo.
Ngoài các triết thuyết lớn của các tôn giáo hiện hữu. Võ Thạnh Văn đã
còn có một triết lý sống cho chính bản thân mình. Tác giả đem niềm vui
vào sự nghiên cứu triết lý, cho bản thân và cho giới nghiên cứu triết học. Với
Võ Thạnh Văn triết lý là bình thường, là nhân văn là trong cuộc sống thường
ngày của con người, những bi, lạc…. Đó là triết lý, nó là những ý thức, ý niệm
không xa vời với con người.
Thái độ khiêm cung trước mọi người cũng chính là triết lý sống của tác
giả. Cũng với tác giả ý thức quan niệm của con người còn là một triết lý
sống thực hơn hết. Đó là lối sống
“không xa đời, không tránh người, gần với trời, hòa với đất, vui với đạo, yên
với đức , bằng lòng với số mệnh, chấp nhận an bài, không oán, không ghét, không
giận, không hờn… mà chỉ thương, chỉ nhớ, nên vui, nên mừng, để tích hợp diệu
nghĩa, để biểu đạt lương duyên.” (VTV, Tiểu Tự, KVT).
Vì am thấu đời người là vô thường nên tác giả chấp nhận lẽ trời như là
một thực thể trong cuộc sống của mình, rồi chiêm nghiệm sự tất yếu của luật vô
thường mà sẵn sàng kết thân với sự chết, để biết hành tàng của sự Thành,
Trụ, Họai, Không… Từ đó sẵn sàng cho linh hồn mình có sự tự do thoát khỏi
mọi sự trói buộc phóng đãng của lý trí.
“Ngày
mai cát bụi xa rồi
Ta
lên đồi vắng. Ngóng môi mắt về
Bốn
bề (sương tỏa) lê thê
Trường
Sơn (lạnh ngắt như mê) mộng vờn”
Tóm lại, với quan niệm đời người là cát bụi phù du, nay còn mai
mất, và dù chấp nhận lẽ tất yếu của thuyết vô thường, nhưng tác giả vẫn phải
tranh đấu để tồn tại dù sự tồn tại trong giới hạn của một kiếp nhân sinh. Không
vì hiểu đời là vô thường mà thụ động trong cuộc sống. Võ Thạnh Văn luôn làm
việc siêng năng để có được cái cơ may trong cuộc sống làm người. Ông sáng tác,
viết sách, viết kinh không phải để khoe cái kiến thức uyên bác của mình, hay
muốn thế hệ sau biết về mình hoặc mong có đuợc người tri âm hay tri kỷ. Hơn ai
hết ông đã biết:
“Chìm
trong khói bụi. Am tăng
Vô
thường một thoáng.Thường hằng phù vân
Xác
thân (huyễn hoặc) vô ngần
Độ
người siêu thoát. Trăm ngần họa tai”
Võ Thạnh Văn viết kinh, viết sách, nhiếp ảnh hay làm thơ, làm văn
chương… đó chỉ qua là để trả cái nợ nhân sinh của con người tuấn kiệt. “Âu đó cũng là cái nghiệp dĩ của một kiếp
tài hoa.”
San Jose, 2008
Duy
Văn HÀ ĐÌNH HUY
Chủ Nhiệm / Chủ Bút ĐỜI
MỚI.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét