* Hoàng xuân Hãn DỊCH THIẾU.
THÁI QUỐC MƯU
So
với nguyên tác Hoàng Xuân Hãn đã dịch thiếu những câu sau đây:
1). Nguyên tác: “Thường bất li
mộng mị giả”. Học giả Minh Di đã tán
đồng ý người viết, nên dịch là: “thường
chẳng lìa giấc mộng của thần” (chữ thần ở đây rút ngắn ở hai chữ “hạ thần”,
đó là cách nói hạ mình của nhà vua ở nước nhược tiểu nói với bậc Thiên tử bề
trên, không có nghĩa là thần thánh – Ý nói là sự nghĩ nhớ về việc đòi lại 2
Động Vật Dương và Vật Ác thường hằng canh cánh bên lòng của vua Lý Nhân Tông
(1072 - 1127; tại vị: 1072 - 1127) đến đỗi trong giấc ngủ sự nghĩ nhớ này vẫn
thường hiện trong giấc mộng của vua, tức Lý Nhân Tông vẫn thường chiêm bao về
việc mất 2 Động Vật Dương, Vật Ác này.
Nguyên văn bài Biểu trong nguyên tác:
Phiên âm Việt Nho:
“Hạ
ấp hữu Vật Dương, Vật Ác nhị động bát huyện, dữ tỉnh nhưỡng tiêp liên. Tiền hậu
bị thủ thổ nhân bạn khứ, uỷ thân quy minh. Kỳ Vật Dương ư binh thìn niên mông
thu nhập tỉnh; Vật Ác ư Nhâm tuất niên mông thu thiết Thông Khang ải.
Tuy
thử đẳng đại hoàn chi địa, vưu công thống hoài, thường bất ly mông mị giả.
Thành dĩ tiên tổ thần bình tích tru cầm tiếm nghịch, xung gian mạo hiển, tất
mệnh chi sở trí dã. Kim mạt tháo bất năng tự thừa, khởi cảm bị số ư phiên viên,
thâu sinh ư khoảnh khắc dã.
Giáp
tý niên, Quảng Tây kinh lược ti thường vị thân tấu. Tiên triều dĩ Túc, Tăng nhị
động lục huyện tứ thần chủ ĩnh. Tiếp Túc, Tang đẳng hiện thuộc hạ ấp, phi kim
chi trần thỉnh chi địa, bất cảm bái mệnh.
Phục
ngộ bệ hạ nhất tân vũ nội, cẩn cụ biểu dĩ văn.
Bản dịch của THANH BĂNG - HOÀNG LÊ:
Thỉnh Hoàn Vật Dương, Vật Ác Nhị Động
Biểu:
- “Nước tôi có đất Vật Dương, Vật Ác,
gồm hai động và tám huyện, vẫn tiếp liền với phần đất tỉnh (Quảng Tây). (Những
đất ấy) trước sau đều bị bọn đầu mục thổ dân làm phản, bỏ đi, đem theo về với
Trung Quốc. Đất Vật Dương thì năm Bính thìn (1076) bị sát nhập vầo đất quý
tỉnh; đất Vật Ác thì năm Nhâm tuất (1082) cũng bị sát nhập và đặt thành ải
Thông Khang.
Mặc dầu đấy chỉ là mảnh đất nhỏ nhưng
vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng. Quả thực tổ
tiên tôi xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm nghịch, xông pha gian nguy, không
tiếc tính mạng mới có được đất ấy. Nay tôi phận con cháu, đã không kế tục được
cơ nghiệp được (cha ông) thì dám đâu dự vào hàng mộ nước phên dậu, cầu lấy cái
sống tạm bợ trong chốc lát.
Năm Giáp tý (1084), Ti kinh lược Quảng
Tây đã vì nước tôi mà tâu bày về triều. Tiên triều đã đem đất Túc, Tang gồm hai
động và sáu huyện trả lại cho tôi chủ lĩnh. Các đất Túc, Tang ấy hiện thuộc
nước tôi rồi, chẳng phải là đất mà tôi bày tỏ ở đây. (Bởi vậy), tôi không dám
vâng mệnh.
May gặp khi bệ hạ (lên ngôi), khắp bờ
cõi thảy đều đổi mới. Vậy kính cẩn [nêu]
đầy đủ trong tờ biểu này để quý quốc nghe biết. (Sử gia Tư Mã Thiên (145 - 86
tr. Cn) chép trong bộ “Sử Ký”)
Thái Quốc Mưu So sánh: Những vị vua đất Việt ngày xưa, tuy thần phục nước
Tàu, nhưng bằng mọi cách vẫn cương quyết giữ đất đai của tiên tổ – dầu phải quỳ
lụy xin xỏ, nhưng quyết liệt khẳng định: “Tiên triều đã đem đất Túc, Tang gồm hai
động và sáu huyện trả lại cho tôi chủ lĩnh. Các đất Túc, Tang ấy hiện thuộc
nước tôi rồi, chẳng phải là đất mà tôi bày tỏ ở đây. (Bởi vậy),
tôi không dám vâng mệnh.”
Nghĩa là Người Xưa dù phải quỳ lụy nhưng
cương quyết không thể giao đất cho giặc Tàu. Ngày nay thì sao? Tôi không biết.
Xin
mở ngoặc nói thêm: (Vào thời điểm gởi thư
trên (1086) cho Tống triều, Lý Nhân Tông mới có 14 tuổi - còn là một trẻ nít,
thì không thể có một sự suy tư, nghĩ ngợi, như viết trong thư. Dĩ nhiên thư là
do văn thần triều Lý viết thay vua nhỏ của mình. Còn phía bên kia, vua Tống
triều, Tống Triết Tông (1077 - 1100; tại vị: 1085 - 1100), cũng là một đứa con
nít, còn nhỏ hơn vua Lý. Đương thời Tống Triết tông mới 9 tuổi).
2).
Nguyên tác: “Tất mệnh chi sở trí dã”.
Từ
điển Từ Nguyên giải nghĩa 2 chữ “tất mệnh” như sau:
a)-
“Tất mệnh” là Tận lực mệnh lệnh”.
b)-
“Tất mệnh” là Tận sức đến xả bỏ cả mạng
sống”.
Tiếng
“tất mệnh” nghĩa cũng như “trí mệnh”, nghĩa là “giao mạng, bỏ
mạng để phục vụ tổ quốc”
Các
tiếng nầy được dùng để chỉ sự dốc hết sức lực để làm một dầu có bỏ mạng vì quốc
gia dân tộc cũng đành! Nói môm na là “chơi tới cùng!”
* Kinh Dịch, Quẻ Khốn (Đoài / Khảm), Đại
Tượng từ:
-
“Tượng viết: Trạch vô thủy, Khốn, quân
tử dĩ trí mệnh toại chí”. Dịch: “Tượng
viết: Đầm không có nước, là (Tượng = hình ảnh) của Quẻ Khốn, bậc quân tử coi đó
mà đến bỏ cả tính mạng để thực hiện cho được chí hướng của mình”. Câu này
Học giả Minh Di đã dịch: “dốc hết sức mình, bất kể tính mạng mà cố (giữ thành,
hay đất) cho được!”.
3).
Nguyên tác: “khởi cảm bị số ư phiên viên?” nghĩa là “vùng đất ở sát ranh giới 2
nước”.
Trong
bộ Lý Thường Kiệt, Hoàng Xuân Hãn dịch thiếu 3 câu trên đây! Ba câu nầy chẳng
phải khó dịch, nhưng chẳng biết vì sao ông không dịch? Sơ ý chăng?
Về
hai động Vật Dương và Vật Ác, người viết không biết địa phận vùng đất trên hiện
nay nằm ở đâu? Tôi, Email thỉnh ý Học giả Minh Di ở Úc Châu, ông cho biết:
“Như
anh biết, các sử-sách Tống và Việt đều có chép hai tên đất ấy, nhưng không chỉ
rõ ở vùng nào. Nay góp-lặt và tham-khảo những tư liệu rời-rạc ta có thể nhận ra
rằng hai động ấy ở phía Tây-Bắc Cao-Bằng ngày nay” - Minh Di.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét