Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017



Nguyên Lạc       
BÀN VỀ VĂN NẠN
--------------------------------------------

Tiếng nói, chữ viết rất quan trọng, mất nó, chúng ta sẽ bị ĐỒNG HÓA và mất nước ngay.
Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói. Văn và nhất là thơ là tình túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ, phải dùng chính xác. Hãy dùng nó cho CÁI ĐẸP, phục vụ nhân sinh. Đừng dùng nó như công cụ hạ thấp người khác, phổ biến điều xấu xa, giả dối. Đừng "hòa quá nhiều nước lã vào mực." (Modern poets mix too much water with their ink - Goethe)  Nghĩa là phải LƯƠNG THIỆN.

Hãy cùng nhau bảo vệ sự trong sáng, chính xác, và giữ gìn tiếng VIỆT yêu thương của chúng ta!
CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc làm tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án MINH SỬ triều Thanh đã làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ MINH mà Kim Dung đã viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đĩnh Ký sao? Vụ án của Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc (giết ba họ) do sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ văn nạn. Vụ sửa đổi chữ bài phú "Đồng Tước đài" của Tào Thực, đưa đến việc thua trận Xích Bích của Tào Tháo. Và cuối cùng với hàng chữ "Kim loại màu vàng" mà các Ngài CS ghi khí kiểm kê vàng của người dân miền Nam để cướp lấy!
VĂN NẠN (cũng được gọi là ÁN VĂN), nói nôm na là những vụ án liên quan đến chữ nghĩa, văn chương, văn nghệ... Có khi nạn nhân chết chỉ do một chữ chứ không cần cả bài, cả tập. Chết mà không biết mình vì sao bị chết.
Ta hãy lần lượt xem các vụ văn nạn (án văn) kể trên.

KIM LOẠI MÀU VÀNG
Sau khi chiếm được Miền Nam, CS tiến hành chiến dịch "Kiểm kê tài sản". Để chiếm đoạt vàng của người dân, trong lúc kiểm kê họ đã thay đổi chữ VÀNG bằng chữ KIM LOẠI MÀU VÀNG hòng chiếm đoạt công lao mồ hôi và nước mắt của người tạo ra nó. Đó là VĂN NẠN mà người dân phải "lãnh đủ" trước sự trấn lột của cán bộ CS.

BÀI PHÚ ĐỒNG TƯỚC ĐÀI CỦA TÀO THỰC
Tào Tháo đời Tam Quốc (220- 264) có xây một cái đài bên sông Chương Hà tỉnh Hà Nam, đặt tên là Đồng Tước. Đài này cực kỳ tráng lệ. Tháo sai người trang hoàng tô điểm rất lộng lẫy, rồi tuyển gái đẹp khắp vùng đem chứa vào trong.
Tào Tháo có đứa con nhỏ tên Tào Thực, tự Tử Kiến, có tài hạ bút thành văn thơ. Khi xây xong đài Đồng Tước, Tào Tháo sai con làm bài phú "Đồng Tước đài" để ca tụng công nghiệp của Tào. Bài phú rất đặc sắc.
Để khích Chu Du là đô đốc Đông Ngô đánh Tào Tháo, Khổng Minh sửa đổi câu thứ 7 của bài phú "Đồng Tước đài" của Tào Thực.

Nguyên văn:

Liên nhị kiều vu đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.
Nghĩa là:
Bắc hai cầu tây đông nối lại
Như cầu vồng sáng chói không gian.

Đó là nói: hai bên đài Đồng Tước còn có hai đài phụ là Ngọc Long, Kim Phượng, và có hai cái cầu bắc nối vào đài giữa như hai cầu vồng trên lưng trời. Tào Thực dùng hai chữ "đế đống" (hay "chuế đống") là có ý so sánh đài Đồng Tước với cung A Phòng nhà Tần. Trong bài "A Phòng Cung Phú" của Đỗ Mục đời nhà Đường, có câu: "Trường kiều ngọa ba, vị vân hà long?/ Phức đạo hành không: bất tễ hà hồng?" (Cầu dài vắt ngang sông: chưa có mây sao có rồng?/ Hai đường bắc trên không: không phải mưa tạnh, sao có cầu vồng?)

Nhưng Khổng Minh lại đổi ra:
Lãm nhị Kiều ư đông nam hề,
Lạc triêu tịch chi dữ cộng.
Nghĩa là:
Tìm hai Kiều nam phương về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân...

Khổng Minh đem chữ "kiều" (cầu) đổi ra chữ "Kiều" (nàng họ Kiều), đổi chữ "Tây" ra chữ "Nam", đổi chữ "liên" ra chữ "lãm"; còn câu sau thì đổi hoàn toàn khác hẳn, để cố ý trỏ vào hai nàng Kiều. Đem chữ "kiều" đổi ra chữ "Kiều", Khổng Minh chủ ý lừa và chọc tức Chu Du. (Vì hai Kiều: một là vợ của Tôn Kiên, vua Đông Ngô, người thứ hai là vợ của Chu Du, đô đốc Đông Ngô)
Sau Đông Ngô liên minh cùng Tây Thục, nhờ Khổng Minh cầu đông phong, nên Chu Du dùng hỏa công đốt phá binh Tào tại trận Xích Bích. Tháo thua to, mộng chiếm đất GiangNam để đoạt lấy hai nàng Kiều đẹp hoàn toàn tan vỡ. (Nguyễn Tử Quang)

Thấy chưa, vì VĂN NẠN mà Tào Tháo nướng gần một triệu (850,000) binh sĩ, thoát chạy với vài tên cận vệ, nếu không được Quan Vân Trường (Quan Công) tha mạng thì toi đời.

VỤ ÁN MINH SỬ TRIỀU THANH

Đây là VĂN NẠN thứ hai nổi tiếng khủng khiếp ở triều đại Mãn Thanh. Do tên cẩu nhân Ngô Chi Vinh tố giác với Ngao Bá (đại thần triều Mãn Thanh) bộ Minh Thư tập lượt (do Trang Kiến Long và những văn nhân khác biên soạn), những người học giả văn sĩ tham dự vào việc biên soạn bộ Minh Thư tập lượt (MINH SỬ) và toàn gia họ Trang mấy chục người từ mười sáu tuổi trở lên đều bị xử trãm. Còn đàn bà con gái thì phát lảng đến Thảm Dương để cho bọn kỵ binh Mãn Châu dùng làm tôi mọi.
Vì bộ MINH SỬ mà nhà tan cửa nát, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Thảm hơn nửa là bọn thợ thuyền khắc chữ, thợ ấn loát, thợ đóng sách và những chủ tiệm sách, người bán cũng như người mua cùng người đọc sách hể điều tra ra được là xử trãm hết (Lộc Đỉnh Ký - Kim Dung )

VỤ ÁN NGUYỄN TRÃI

Phải công nhận xứ ta nhiều án văn, có những án kinh hoàng, thê thảm, đại bi kịch. Triều Lê Thái Tôn thế kỷ 15, con người bậc nhất của thời đại là Nguyễn Trãi đã chết bởi sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ án văn. Kẻ hoạn quan Lương Đăng được vua tin dùng vốn sẵn từ lâu ghét Nguyễn Trãi nên tìm mọi cớ vùi dập ông. Mỗi điều Nguyễn viết ra đều được Lương săm soi vạch vòi, Nguyễn có né cách mấy cũng bị quy thành tội. Cuối cùng Nguyễn Trãi đã bị kết án tru di tam tộc.
Và sau cùng chúng ta hãy nhớ đến án văn kinh hoàng gần đây - vụ Nhân văn giai phẩm.

VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM

Vụ án văn này là tấn bi kịch văn nghệ kinh hoàng, oan sai, oan trái, không chỉ tàn hại một thế hệ văn nghệ đầy công tích trong chiến tranh chống Pháp, mà còn phủ cái bóng thảm khốc đen tối của nó ám ảnh cả nền văn nghệ dân tộc suốt thời gian dài về sau. Những số phận đại bi kịch như Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Đào Duy Anh, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Nguyễn Bính, Hữu Loan, Trần Duy, Văn Cao, Cao Xuân Huy, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Nguyễn Sáng, Phùng Cung … đã thành mồi ngon cho chiếc máy chém khát máu trí thức của bộ máy cai trị. (Nguyễn Thông)

THI TẶC

Sẵn đây thấy những lời cảm thán của thi sĩ Linh Phương có liên quan đến VĂN NẠN (THI TẶC), Nguyên Lạc tôi xin phép được ghi ra đây để các ban thẩm định:
"Mần thơ chứ hong phải nấu cơm, bữa củi mừ thấy gì nói nấy, mần thơ là trí óc, là trái tim, chứ hong phải chân tay cứ có gạo là nấu cơm, có gỗ là chẻ củi…như thiên hạ hay nghĩ. Tâm hồn ngừi mần thơ bay bồng ra ngoài khoảng không gian vô tận, chứ hong chật hẹp chiện nấu cơm,..
Đọc một bài thơ vì bài thơ đó hay, chứ hong phải đọc thơ để phán xét tác giả bài thơ hạnh kiểm thế nào ? Nhân thân ra sao ?
Những bộ máy phân tích thơ thẩn như thế này, chẳng khác “ lâm tặc “ ( phá rừng, đốn cây ) - tui gọi là “ thơ tặc “ (thi tặc - NL) . Họ là ngừi đốt thơ, nhốt thơ, là sát thủ giết chít hồn thơ"
((Ghi nguyên văn theo thi sĩ Linh Phương)

Qua những điều trên, ta thấy VĂN NẠN ghê gớm lắm. Hãy cẩn trọng và chính xác trong chữ nghĩa. Hãy bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Và cuối cùng hãy nhớ:  ĐẤT NƯỚC NÀY SẼ TIÊU VONG NẾU MẤT TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA RIÊNG MÌNH.

Nguyên Lạc       2017




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét