Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017

Thiệp Ảnh QUANG TUYẾT

Nguyên Lạc          
       LẬP QUẺ DỊCH CHO VIỆT NAM




 Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán (Bài 6)
"Kinh Dch là thsách vì hng quân tmà làm ra, không phi là ca hng tiu nhân. Trương Hoành Cnói: “Kinh Dch chmưu tính cho quân t, không mưu tính cho tiu nhân”.
Kinh Dch là thsách do shư không làm ra. Trước khi chưa có hào vch, Dch thì là mt lhn nhiên, người ta là tm lòng im lng.  Đến khi đã có hào vch, mi thy hào y là thế nào, hào kia là thế nào. nhưng mà vn  theo nhng cái  rng,  tĩnh ấy  làm ra Tượng S.  Vì vy nó mi linh thiêng!.

Trong Kinh Dch, đi khái Dương thì lành (tốt) mà Âm thì d (xấu). Đôi khi cũng có Dương dmà Âm lành! Tuy nhiên, vì có vic nên làm, cũng có vic không nên làm.  Nên làm mà không làm, không nên làm mà clàm, thì dù Dương cũng xấu. Trong Kinh Dch, hào Dương phn nhiu lành, hào Âm phn nhiu d!  Tuy nhiên, cũng cần phải xem ngôi vca chúng ra sao!
Trong Kinh D
ch, chcó “trinh cát”, chưa có chnào không “trinh” mà “cát”; chnói “li trinh”, ch chưa tng nói “li bt trinh”. Như quKin (Càn) tt lm, nhưng mà dưới li nói “li trinh”. Nghĩa là ngay thng, trung chính  thì li, không ngay thng, trung  chính thì không li.
Coi Dch nên da chc vào Tượng mà coi. Xét Tượng S (Thoán tượng) đích đáng trước, sau đó mới nói Lý (Thoán truyện, Thoán từ). Nhờ vậy  mi khi sai lch. Nếu không, vic không có thc chng thì cái Lý suông dsai.
Kinh Dch nên đc lúc lòng mình trng rng, không nên giý kiến riêng. Cn phi gicho lòng mình sáng sa, êm , yên lng, thì tnhiên đo lý lưu thông, mi bao quát được rt nhiu nghĩa lý.
Xem Kinh Dch phi bn ngày xem mt qu:  mt ngày xem li Qu (Thoán  Tượng, Thoán t) , hai ngày xem sáu hào ( Hào từ) và mt ngày xem tổng quan (gm tt c lại)  mi tinh tường!
Kinh Dch đi khái mun cho người ta tu tnh!. Hc Kinh Dch không phi đi khi gp vic mới xem, mi s! Ngay nhng lúc an bình, cũng nên nghiền ngm nhng đo lý ca nó , so vi đa vca mình hiện tại , suy ra nên hành x thế nào cho thích đáng. Cho nên: “Lúc yên thì xem Tượng mà ngm Li , lúc hành đng thì xem sbiến đi mà ngm li chiêm đoán ”. (Kinh Dịch - Ngô Tất Tố)
Trên đây là những lời người xưa đã dặn dò, chúng ta nên thuộc nằm lòng khi nghiên cứu về Dịch.
                                                                                    ***

LẬP QUẺ DỊCH
Hoàn cảnh đất nước Việt Nam bây giờ làm tâm tư Nguyên Lạc tôi đao đáo, nên mạo muội đem chút kiến thức hạn hẹp của mình thử lập, đoán và đề nghị phương pháp đối ứng cho đất nước thân yêu! Nó có thể thiếu sót, xin các bậc cao mình bỏ quá cho!
 Mong các bạn cùng tôi, đem chút hiểu biết đã học từ các bài trước, chúng ta cùng nhau hợp tác lập quẻ, coi như ôn tập lại.
Sáng đầu năm 2017, tôi thức sớm, thanh tẩy, tắm rửa sạch sẽ, đun một ấm trà, rót trà thơm vào tách. Hai bàn tay ôm ấp tách trà thơm, nhẹ bước ra ngoài hiên nhà, đứng chiêu một hớp, nhắm mắt tận hưởng sự ngọt ngào của trà chạy rần khắp người. Tâm trí thanh thản, quan sát chung quanh cảnh yên bình, với chút giá lạnh của đầu Đông nơi tôi đang sống (Texas). Tất cả vẫn còn đang trong giấc ngủ an bình. Chợt nhớ quê hương, buồn!
Trở vào nhà, đến phòng lập quẻ thắp hương, thắp nến. Sau khi tiến hành đúng những nghi thức đã kể ở các bài trước, với lời khấn: Thiên địa vô ngôn, tôi tin rằng Dịch cảm nhận tâm thành mà soi sáng cho tôi được rõ nẽo cát hung (tốt, xấu), sự lành dữ, được mất, lo sợ về Việt Nam. Rồi tôi tiến hành lập quẻ bằng 50 que cỏ thi, mà tôi có được rất lâu, mua tận bên Trung Quốc, đúng theo những thao tác đã học ở những bài trước.
Đây là kết quả:
- Hào sơ (1) tổng số 3 lần là:    8
- Hào nhị (2) tổng số 3 lần là:   8
- Hào tam (3) tổng số 3 lần là:  8
- Hào tứ (4) tổng số 3 lần là:    7
- Hao ngủ (5) tổng số 3 lần là:  7
- Hào thượng (6) tổng số 3 lần là 7
Vậy các bạn vẽ được các vạch như thế nào? Và quẻ (trùng) đó là quẻ gì?
.....
Vâng! căn cứ vào Bảng Bói ở bài 3, ta biết được:  8 là thiếu âm (tĩnh) và 7 là thiếu dương (tĩnh), và sấp lần lượt từ dưới lên trên, từ 1 lên 6, ta được Quẻ Thiên Địa BĨ
Lập đuoc quẻ cho Việt Nam rồi, ta hãy cùng nhau  giải đoán.
Điều đầu tiên làm tôi quá buồn  vì quẻ này là quẻ rất xấu! Than ôi, đó là qu 12: THIÊN ĐA BĨ      

 GIẢI QUẺ                              
12.THIÊN ĐA BĨ *                                      


ợng:  Càn Dương  (tri) trên, Khôn Âm (đt) dưới.  Tri đt cách tuyt, không giao vi nhau, cho nên là bĩ. (Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Đất đè trời! Nghịch lý.  NL)
Thoán từ: - Bĩ chi phnhân. Bt li quân ttrinh, đi vãng tiu lai.
Dch nghĩa. - Bĩ đy (?) chng phi người. Chng li cho schính bn ca đng quân t, ln đi nhli.
GII NGHĨA
Truyn ca Trình Di. - Tri đt giao nhau mà muôn vt sinh bên trong, ri sau mi đba Tài. Tri đt không giao nhau, thì không sinh ra muôn vt, y là không có đo người, cho nên nói là “phnhân” ( không phi đo người). Trên dưới phải giao thông, cng mm phải hoà hp: đó là đo đng quân t. Cuc bĩ thì trái hn thế, cho nên không li cho người quân t. Trinh tc là chính đo ca đng quân t, bbĩ tc mà không thc hành được, ln đi nhli, tc là Dương đi mà Âm li. Đó là tượng “đo ktiu nhân ln lên, đo người quân ttiêu đi”, cho nên là bĩ.
LI KINH
Thoán từ viết: Bĩ chi phnhân, bt li quân ttrinh, đi vãng tiu lai, tc ththiên đa bt giao nhi vn vt bt thông dã; thượng hbt giao nhi thiên hvô bang dã, ni Âm nhi ngoi Dương, ni nhu nhi ngoi cương, ni tiu nhân nhi ngoi quân t, tiu nhân đo trưởng! Quân tử đạo tiêu dã.
Dch nghĩa. - Li Thoán từ nói rng: Bĩ đy? Chng phi đo người, chng li cho schính bn ca đng quân t, ln đi nhli, thì là tri đt không giao nhau mà muôn vt không thông vy; trên dưới không giao nhau mà thiên hkhông có nước vy; trong Âm mà ngoài Dương, trong mm mà ngoài cng, trong ktiu nhân mà ngoài đng quân t, y là đo ktiu nhân ln lên, đo đng quân ttiêu đi vy.
Truyn ca Trình Di. - Khí ca tri đt không giao nhau, thì muôn vt không có lsinh thành; nghĩa ca ktrên người dưới không giao nhau thì thiên hkhông có đo an bang. Người trên thi hành chính sự để trdân, dân nương  theo mnh lnh, trên dưới giao nhau là đlàm vic chính tr. Nay trên dưới không giao nhau, y là thiên hkhông có đo an bang. Âm mm trong, Dương cương ngoài, đng quân tử đi phía ngoài, ktiu nhân li phía trong, đó là lúc đo ktiu nhân ln lên, đo đng quân ttiêu đi.
Quẻ Bĩ ngược với quẻ Thái, quẻ Bĩ dương trên âm dưới, dương bay đi, âm xuống dưới, âm dương rời xa nhau là âm dương cách tuyệt. Giống như người sống còn ở dương gian, còn người chết về nơi âm phủ. Quẻ này đạo quân tử tiêu vong còn đạo tiểu nhân mạnh lên, đó là âm đang dần thắng.
Thường thì quẻ tĩnh ta thường xét Tượng Quẻ , Thoán T, ít xét tới Hào T; nhưng nếu có xét, thì ta thấy cặp 2-5 tương ứng cũng không tốt. Hào 2 là âm nhu, yếu mềm của người dưới không dám khuyên ngăn người trên nghiêm khắc, cứng rắn của Hảo 5 dương (xem lại sự tương ứng của các Hảo ở bài 2)
Lòng buồn quá!

HY VỌNG CHUYỂN QUẺ
I.
Lập quẻ cho đất nước mà gặp quẻ xấu, rất xấu sao buồn quá!
Chợt một tia hy vọng lóe lên vì nhớ đến câu:  "Hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai". Thới lai đó chinh là Qu11: Địa Thiên THÁI
Chúng ta thử xét Quẻ THÁI này xem sao!
11. ĐA THIÊN THÁI *
(Hình quẻ ĐỊA THIÊN THÁI)
ợng:  Nó là quKhôn (Âm) trên. Càn (Dương) dưới, khí ca tri đt Âm Dương giao nhau mà dung hoà, thì muôn vt sinh thành, cho nên mi là thông thái. Thái tc là thông thái. (Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Trời phủ đất: Thuận lý.  NL)
Thoán từ: - Thái, tiu vãng, đi lai, cát hanh.
Dch nghĩa: - QuThái, nhỏ đi, ln li, lành tt hanh thông.
GII NGHĨA
Truyn ca Trình Di: - Nhlà Âm, ln là Dương, “đi” là đi ra ngoài, “li” là bên trong, khí Âm hxung, khí Dương bc lên, tc là giao nhau. Âm Dương li xướng thì muôn vt được sng thỏa , y là tri đt thông thái. Nói vvic người, thì ln là đng quân thượng, nhlà kthn h. Vua thành tht  dùng kdưới, btôi hết lòng thành tht đthvua, chí ca ktrên người dưới thông nhau, y là cuc thái ca triu đình. Dương là quân t, Âm là tiu nhân, quân tli bên trong, tiu nhân đi bên ngoài; quân tử được ngôi, tiu nhân dưới, y là cuc thái ca thiên h. Đó là đo ca cuc thái, tt mà li hanh thông.

II.
Từ quẻ BĨ (xấu) muốn biến thành quẻ THÁI (tốt) thì cả Nội Quái và Ngoại Quái của quẻ BĨ phải cùng nhau biến:
- Khôn (Nội Quái) biến thành Càn
-  Càn (Ngoại Quái) biến thành Khôn
Trên và dưới bắt buộc phải biến nếu muốn thành Quẻ tốt.
Nói rộng ra, đng quân thượng (người cầm quyền: trên) và kthn h (người dân: dưới) phải biến để được cuộc thái của thiên hạ , đất nước được thái bình, an lành thịnh vượng. Chữ BIẾN bây giờ thường được gọi với ngôn ngữ hiện tại là Cải Cách, Cách Mạng . Biển có thể tự thân, tự mình (bên trong) hoặc do bên ngoài tác động. Thưởng tự bên trong thì tốt hơn, it xảy ra việc tiêu cực hơn!
Có hai trường hợp trung gian có thể xảy ra:
- Nội Quái biến nhưng Ngoại Quái không biến
- Nội Quái không biến nhưng Ngoại Quái biến
Ta hãy lần lượt xét:
1/ Nội Quái biến nhưng Ngoại Quái không biến:
Nội Quái Khôn âm khi biến sẽ thành Càn dương, lúc đó Quẻ Bĩ biến ra thành qu 1: Thuần Càn.
1. THUẦN CÀN *   


(Hình quTHUẦN CÀN)

Tượng của quẻ Càn là trời,
Thoán từ: càn nguyên, hanh, lợi, trinh
Dịch nghĩa: quẻ Càn đầu cả, hanh thông, lợi tốt , chính bền.
GII NGHĨA: Văn Vương cho rằng, bói được quẻ này thì tốt. Hanh thông có lợi và tất
giữ cho được tới cùng, nhưng cần phải chính bền vững. Quẻ Càn có tượng của người
quân tử có năm đức tính lớn. Đó là: Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín.
Quẻ Càn là quẻ tốt, tuy không bằng quẻ Thái

Như ta đã biết ở bài 2: Cặp hào ứng 2‐5 quan trọng nhất, hai hào đều đắc trung cả, mà hào 5  lại ở vào địa vị cao nhất.  Nếu hào 5 là âm (nhu), hào 2 là dương (cương) thì tốt (Thí dụ quê Thái) Nếu hai hào ứng mà thể giống nhau (cùng dương hoặc cùng âm cả) thì có khi kỵ nhau chứ không giúp nhau. Trong trường hợp quẻ Thuần Càn nảy, cả hai đều dương (cương), nên sự va chạm tiêu cực sẽ xảy ra. Kẻ thần hạ: Nội Quái (người dân: dưới) biến mà đấng quân thượng: Ngoại Quái (người cầm quyền: trên) không chịu biến thì đương nhiên sự va chạm phải xảy ra thôi. Nội Quái, là gốc, sẽ thắng ngọn Ngoại Quái, để tiến tới trùng quẻ Thái đúng theo tinh thần của Dịch, không lâu thì mau thôi. Tuy nhiên những va chạm tiêu cực sẽ xảy ra rất đáng tiếc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét