Nguyên Lạc
LẬP QUẺ DỊCH CHO VIỆT NAM
Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán (Bài 6)
"Kinh Dịch là thứ sách vì hạng quân tử mà làm ra,
không phải là của hạng tiểu nhân. Trương Hoành Cừ nói: “Kinh Dịch chỉ mưu tính
cho quân tử, không mưu tính cho tiểu nhân”.
Kinh Dịch là thứ sách do sự hư không làm ra. Trước khi chưa có hào vạch, Dịch thì là một lẽ hồn nhiên, ở người ta là
tấm lòng im lặng.
Đến khi đã có hào vạch, mới thấy hào ấy là thế nào, hào kia là thế nào. nhưng mà vẫn
theo những cái
rỗng,
tĩnh ấy
làm ra Tượng Số.
Vì vậy nó mới linh
thiêng!.
Trong Kinh Dịch, đại khái Dương thì lành (tốt) mà Âm thì dữ (xấu). Đôi khi cũng có Dương dữ mà Âm lành! Tuy nhiên, vì có việc nên làm, cũng có việc không nên làm. Nên làm mà không làm, không nên làm mà cứ làm, thì dù Dương cũng xấu. Trong Kinh Dịch, hào Dương phần nhiều lành, hào
Âm phần nhiều dữ! Tuy nhiên, cũng cần phải xem ngôi vị của chúng ra sao!
Trong Kinh Dịch, chỉ có “trinh cát”, chưa có chỗ nào không “trinh” mà “cát”; chỉ nói “lợi trinh”, chứ chưa từng nói “lợi bất trinh”. Như quẻ Kiền (Càn) tốt lắm, nhưng mà ở dưới lại nói “lợi trinh”. Nghĩa là ngay thẳng, trung chính thì lợi, không ngay thẳng, trung chính thì không lợi.
Trong Kinh Dịch, chỉ có “trinh cát”, chưa có chỗ nào không “trinh” mà “cát”; chỉ nói “lợi trinh”, chứ chưa từng nói “lợi bất trinh”. Như quẻ Kiền (Càn) tốt lắm, nhưng mà ở dưới lại nói “lợi trinh”. Nghĩa là ngay thẳng, trung chính thì lợi, không ngay thẳng, trung chính thì không lợi.
Coi Dịch nên dựa chắc vào Tượng mà coi. Xét Tượng Số (Thoán tượng) đích đáng trước, sau đó mới nói Lý (Thoán truyện, Thoán từ). Nhờ vậy mới khỏi sai lệch. Nếu không, việc không có thực chứng thì cái
Lý suông dễ sai.
Kinh Dịch nên đọc lúc lòng mình trống rỗng, không
nên giữ ý kiến riêng. Cần phải giữ cho lòng mình
sáng sủa, êm ả, yên lặng, thì tự nhiên đạo lý lưu
thông, mới bao quát được rất nhiều nghĩa lý.
Xem Kinh Dịch phải bốn ngày xem một quẻ: một ngày xem
lời Quẻ (Thoán
Tượng, Thoán từ) , hai ngày xem sáu hào ( Hào từ) và một ngày xem tổng quan (gồm tất cả lại) mới tinh tường!
Kinh Dịch đại khái muốn cho người ta tu tỉnh!. Học Kinh Dịch không phải đợi khi gặp việc mới xem, mới sợ! Ngay những lúc an bình, cũng nên nghiền ngẫm những đạo lý của nó , so với địa vị của mình hiện tại , suy ra nên hành xử thế nào cho
thích đáng. Cho nên: “Lúc ở yên thì xem Tượng mà ngẫm Lời , lúc hành động thì xem sự biến đổi mà ngẫm lời chiêm
đoán ”. (Kinh Dịch - Ngô Tất Tố)
Trên đây là những lời người xưa đã dặn dò, chúng ta nên thuộc nằm lòng khi nghiên cứu về Dịch.
***
LẬP QUẺ
DỊCH
Hoàn cảnh đất nước Việt Nam bây giờ làm tâm tư Nguyên Lạc tôi đao đáo,
nên mạo muội đem chút kiến thức hạn hẹp của mình thử lập, đoán và đề nghị phương pháp đối ứng cho đất nước thân yêu! Nó có thể thiếu sót, xin các bậc cao mình bỏ quá cho!
Mong các bạn cùng tôi, đem chút hiểu biết đã học từ các bài trước, chúng ta cùng
nhau hợp tác lập quẻ, coi như ôn tập lại.
Sáng đầu năm 2017, tôi thức sớm, thanh tẩy, tắm rửa sạch sẽ, đun một ấm trà, rót trà
thơm vào tách. Hai bàn tay ôm ấp tách trà thơm, nhẹ bước ra ngoài hiên
nhà, đứng chiêu một hớp, nhắm mắt tận hưởng sự ngọt ngào của trà chạy rần khắp người. Tâm trí thanh thản, quan sát chung quanh cảnh yên bình, với chút giá lạnh của đầu Đông nơi tôi đang sống (Texas). Tất cả vẫn còn đang trong giấc ngủ an bình. Chợt nhớ quê hương, buồn!
Trở vào nhà, đến phòng lập quẻ thắp hương, thắp nến.
Sau khi tiến hành đúng những nghi thức đã kể ở các bài trước, với lời khấn: Thiên địa vô ngôn, tôi tin rằng Dịch cảm nhận tâm thành mà soi sáng cho tôi được rõ nẽo cát hung (tốt, xấu), sự lành dữ, được mất, lo sợ về Việt Nam. Rồi tôi tiến hành lập quẻ bằng 50 que cỏ thi, mà tôi có được rất lâu, mua tận bên Trung Quốc, đúng theo những thao tác đã học ở những bài trước.
Đây là kết quả:
- Hào sơ (1) tổng số 3 lần là: 8
- Hào nhị (2) tổng số 3 lần là: 8
- Hào tam (3) tổng số 3 lần là: 8
- Hào tứ (4) tổng số 3 lần là: 7
- Hao ngủ (5) tổng số 3 lần là: 7
- Hào thượng (6) tổng số 3 lần là 7
Vậy các bạn vẽ được các vạch như thế nào? Và quẻ (trùng) đó là quẻ gì?
.....
Vâng! căn cứ vào Bảng Bói ở bài 3, ta biết được: 8
là thiếu âm (tĩnh) và 7 là thiếu dương (tĩnh), và sấp lần lượt từ dưới lên trên, từ 1 lên 6, ta được Quẻ Thiên Địa BĨ
Lập đuoc quẻ cho Việt Nam rồi, ta hãy cùng nhau giải đoán.
Điều đầu tiên làm tôi
quá buồn vì
quẻ này là quẻ rất xấu! Than ôi, đó là quẻ 12: THIÊN ĐỊA BĨ
GIẢI QUẺ
12.THIÊN ĐỊA BĨ *

Tượng: Càn Dương (trời) ở trên, Khôn Âm (đất) ở dưới. Trời đất cách tuyệt, không giao với nhau, cho nên là bĩ. (Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Đất đè trời! Nghịch lý. NL)
Thoán từ: - Bĩ chi phỉ nhân. Bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai.
Dịch nghĩa. - Bĩ đấy (?) chẳng phải người. Chẳng lợi cho sự chính bền của đấng quân tử, lớn đi nhỏ lại.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di. - Trời đất giao nhau mà muôn vật sinh ở bên trong, rồi sau mới đủ ba Tài. Trời đất không giao nhau, thì không sinh ra muôn vật, ấy là không có đạo người, cho nên nói là “phỉ nhân” ( không phải đạo người). Trên dưới phải giao thông, cứng mềm phải hoà hợp: đó là đạo đấng quân tử. Cuộc bĩ thì trái hẳn thế, cho nên không lợi cho người quân tử. Trinh tức là chính đạo của đấng quân tử, bị bĩ tắc mà không thực hành được, lớn đi nhỏ lại, tức là Dương đi mà Âm lại. Đó là tượng “đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo người quân tử tiêu đi”, cho nên là bĩ.
LỜI KINH
Thoán từ viết: Bĩ chi phỉ nhân, bất lợi quân tử trinh, đại vãng tiểu lai, tắc thị thiên địa bất giao nhi vạn vật bất thông dã; thượng hạ bất giao nhi thiên hạ vô bang dã, nội Âm nhi ngoại Dương, nội nhu nhi ngoại cương, nội tiểu nhân nhi ngoại quân tử, tiểu nhân đạo trưởng! Quân tử đạo tiêu dã.
Dịch nghĩa. - Lời Thoán từ nói rằng: Bĩ đấy? Chẳng phải đạo người, chẳng lợi cho sự chính bền của đấng quân tử, lớn đi nhỏ lại, thì là trời đất không giao nhau mà muôn vật không thông vậy; trên dưới không giao nhau mà thiên hạ không có nước vậy; trong Âm mà ngoài Dương, trong mềm mà ngoài cứng, trong kẻ tiểu nhân mà ngoài đấng quân tử, ấy là đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo đấng quân tử tiêu đi vậy.
Truyện của Trình Di. - Khí của trời đất không giao nhau, thì muôn vật không có lẽ sinh thành; nghĩa của kẻ trên người dưới không giao nhau thì thiên hạ không có đạo an bang. Người trên thi hành chính sự để trị dân, dân nương theo mệnh lệnh, trên dưới giao nhau là để làm việc chính trị. Nay trên dưới không giao nhau, ấy là thiên hạ không có đạo an bang. Âm mềm ở trong, Dương cương ở ngoài, đấng quân tử đi ở phía ngoài, kẻ tiểu nhân lại ở phía trong, đó là lúc đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo đấng quân tử tiêu đi.
Quẻ Bĩ ngược với quẻ Thái, quẻ Bĩ dương trên âm dưới, dương bay đi, âm xuống dưới, âm dương rời xa nhau là âm dương cách tuyệt. Giống như người sống còn ở dương gian, còn người chết về nơi âm phủ. Quẻ này đạo quân tử tiêu vong còn đạo tiểu nhân mạnh lên, đó là âm đang dần thắng.
Thường thì quẻ tĩnh ta thường xét Tượng Quẻ , Thoán Tử, ít xét tới Hào Từ; nhưng nếu có xét, thì ta thấy cặp 2-5 tương ứng cũng không tốt. Hào 2 là âm nhu, yếu mềm của người dưới không dám khuyên ngăn
người trên nghiêm khắc, cứng rắn của Hảo 5 dương (xem lại sự tương ứng của các Hảo ở bài 2)
Lòng buồn quá!
HY
VỌNG CHUYỂN QUẺ
I.
Lập quẻ cho đất nước mà gặp quẻ xấu, rất xấu sao buồn
quá!
Chợt một tia hy vọng lóe lên vì nhớ đến câu: "Hết cơn bĩ cực tới hồi thới
lai". Thới lai đó chinh là
Quẻ 11: Địa Thiên THÁI
Chúng ta thử xét Quẻ THÁI này xem sao!
11. ĐỊA THIÊN
THÁI *

(Hình quẻ ĐỊA THIÊN THÁI)
Tượng:
Nó là quẻ Khôn (Âm) ở trên. Càn (Dương) ở dưới, khí của trời đất Âm Dương giao nhau mà dung hoà, thì muôn vật sinh thành, cho
nên mới là thông thái. Thái tức là thông thái. (Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Trời phủ đất: Thuận lý. NL)
Thoán từ: - Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh.
Dịch nghĩa: - Quẻ Thái, nhỏ đi, lớn lại, lành tốt hanh thông.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di: - Nhỏ là Âm, lớn là Dương, “đi” là đi ra ngoài, “lại” là ở bên trong, khí Âm hạ xuống, khí Dương bốc lên, tức là giao nhau. Âm Dương lợi xướng thì muôn vật được sống thỏa , ấy là trời đất thông thái. Nói về việc người, thì lớn là đấng quân thượng, nhỏ là kẻ thần hạ. Vua thành thật dùng kẻ dưới, bề tôi hết lòng thành thật để thờ vua, chí của kẻ trên người dưới thông nhau, ấy là cuộc thái của triều đình. Dương là quân tử, Âm là tiểu nhân, quân tử lại ở bên trong, tiểu nhân đi ở bên ngoài; quân tử được ngôi, tiểu nhân ở dưới, ấy là cuộc thái của thiên hạ. Đó là đạo của cuộc thái, tốt mà lại hanh thông.
Thoán từ: - Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh.
Dịch nghĩa: - Quẻ Thái, nhỏ đi, lớn lại, lành tốt hanh thông.
GIẢI NGHĨA
Truyện của Trình Di: - Nhỏ là Âm, lớn là Dương, “đi” là đi ra ngoài, “lại” là ở bên trong, khí Âm hạ xuống, khí Dương bốc lên, tức là giao nhau. Âm Dương lợi xướng thì muôn vật được sống thỏa , ấy là trời đất thông thái. Nói về việc người, thì lớn là đấng quân thượng, nhỏ là kẻ thần hạ. Vua thành thật dùng kẻ dưới, bề tôi hết lòng thành thật để thờ vua, chí của kẻ trên người dưới thông nhau, ấy là cuộc thái của triều đình. Dương là quân tử, Âm là tiểu nhân, quân tử lại ở bên trong, tiểu nhân đi ở bên ngoài; quân tử được ngôi, tiểu nhân ở dưới, ấy là cuộc thái của thiên hạ. Đó là đạo của cuộc thái, tốt mà lại hanh thông.
II.
Từ quẻ BĨ (xấu) muốn biến thành quẻ THÁI (tốt) thì cả Nội Quái và Ngoại Quái của quẻ BĨ phải cùng nhau biến:
- Khôn (Nội Quái) biến thành Càn
-
Càn (Ngoại Quái) biến thành Khôn
Trên và dưới bắt buộc phải biến nếu muốn thành Quẻ tốt.
Nói rộng ra, đấng quân thượng (người cầm quyền: trên) và kẻ thần hạ (người dân: dưới) phải biến để được cuộc
thái của thiên hạ , đất nước được thái bình, an lành thịnh vượng. Chữ BIẾN bây giờ thường được gọi với ngôn ngữ hiện tại là Cải Cách, Cách Mạng . Biển có thể tự thân, tự mình (bên trong) hoặc do bên ngoài
tác động. Thưởng tự bên trong thì tốt hơn, it xảy ra việc tiêu cực hơn!
Có hai trường hợp trung gian có thể xảy ra:
- Nội Quái biến nhưng Ngoại Quái không biến
- Nội Quái không biến nhưng Ngoại Quái biến
Ta hãy lần lượt xét:
1/ Nội
Quái biến nhưng Ngoại
Quái
không biến:
Nội Quái Khôn âm khi biến sẽ thành Càn dương,
lúc đó Quẻ Bĩ biến ra thành quẻ 1: Thuần Càn.
1. THUẦN CÀN *

(Hình quẻ THUẦN CÀN)
Tượng của quẻ Càn là trời,
Thoán từ: càn nguyên, hanh,
lợi, trinh
Dịch nghĩa: quẻ Càn đầu cả,
hanh thông, lợi tốt , chính bền.
GIẢI NGHĨA: Văn Vương cho rằng, bói được quẻ này thì tốt. Hanh thông có
lợi và tất
giữ cho được tới cùng, nhưng cần phải
chính bền vững. Quẻ Càn có tượng của người
quân tử có năm đức tính lớn.
Đó là: Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín.
Quẻ Càn là quẻ tốt, tuy không bằng quẻ Thái
Như ta đã biết ở bài 2: Cặp hào ứng 2‐5 quan trọng nhất, hai hào đều đắc trung cả, mà hào 5 lại ở vào địa vị cao nhất. Nếu hào 5 là âm
(nhu), hào 2 là dương (cương) thì tốt (Thí dụ quê Thái) Nếu hai hào ứng mà thể giống nhau (cùng dương hoặc cùng âm cả) thì có khi kỵ nhau chứ không giúp
nhau. Trong trường hợp quẻ Thuần Càn nảy, cả hai đều dương (cương), nên sự va chạm tiêu cực sẽ xảy ra. Kẻ thần hạ: Nội Quái (người dân: dưới) biến mà đấng quân thượng: Ngoại Quái (người cầm quyền: trên) không chịu biến thì đương nhiên sự va chạm phải xảy ra thôi. Nội Quái, là gốc, sẽ thắng ngọn Ngoại Quái, để tiến tới trùng quẻ Thái đúng
theo tinh thần của Dịch, không lâu thì mau thôi. Tuy nhiên những va chạm tiêu cực sẽ xảy ra rất đáng tiếc.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét