BÀI
THỨ II: NÓI VỀ HAI CHỮ TANG THƯƠNG.
Thái Quốc Mưu
Sau khi làm xong bài thơ CHÓ và NGƯỜI. Tôi email cho người bạn thơ
(xin miễn nêu tên) ở Cali. đọc chơi! Bài thơ như sau:
Lũ chó tranh ăn ở giữa đường
Đứng nhìn, nghe, thấy quá thê lương
Vì mồi cấu xé quên nòi giống
Tham lợi giựt giành bỏ máu xương
Há mỏm cắn nhau gây bát nháo
Cất đầu đọ sức dựng tang thương
Bầy đàn bôi mặt quay lưng đấu
Chó cũng như người lắm nhiễu nhương.
Atlanta, USA, Feb 01, 2016
Thái Quốc Mưu
Lâu sau, người bạn ấy phone hỏi tôi:
- “Bát nháo” là tính từ, sao anh dùng “tang
thương” mà đối lại? “Tang là dâu, thương là Biển” hai chữ đều là danh từ mà
anh!
Tôi đáp:
- Tang là dâu, Thương là Biển, khi hai chữ
dùng riêng thì nó là TỰ (chữ, một tiếng), nên thuộc về danh từ. Nhưng khi ta
kết hợp hai chữ “tang + thương” lại thành “tang thương” thì ở đây nó đã cấu tạo
thành TỪ (ngôn ngữ), khi đã cấu tạo thành TỪ (ngôn ngữ) thì nó chuyển thành tính
từ kép. Bát nháo đối bằng Tang thương rất chính xác đó anh!
Ông bạn tôi vẫn nhất định giữ ý của mình:
- Tang là dâu, Thương là Biển thì không
đối với Bát Nháo được!
Tôi làm thinh, “chịu thua”. Chúng tôi cùng
cúp phone. Chừng năm, bảy phút sau, anh ấy gọi lại:
- Thái Quốc Mưu ơi! Đúng rồi! Tang Thương
có hai nghĩa như anh nói.
Tôi lại hỏi:
- Như vậy anh có hiểu hai chữ tang tương
nghĩa là gì không? – Anh ấy đáp:
- Nghĩa là tiều tụy, đau khổ tận cùng.
Đúng không?
Tôi cười đáp:
- Anh không nói, nhưng tôi biết chắc chắn anh
vừa lật Tự Điển ra xem. Đúng không nè? – Anh ấy cười khì.
Tôi tiếp:
- Tôi xin khuyên anh đừng tin vào Tự Điển
một cách máy móc. Đôi khi các nhà ngôn ngữ học viết Tự Điển cũng sai tuốt luốt
đó anh! Hai chữ tiều tụy để chỉ thể xác ốm o, còm cõi của con người. Chứ chẳng
liên quan gì đến hai chữ tang thương. Trong khi tang thương nói về hoàn cảnh trong
cuộc sống của con người.
- Vậy nó nghĩa là gì hả anh?
- Đúng nghĩa là: Tận cùng của thảm cảnh.
Hoặc, tận cùng của đau khổ, tận cùng của thê thảm, tận cùng nghèo khó, tận
cùng,…
Anh bạn tôi cười, tếu:
- Còn tận cùng của tận cùng nữa. Hahaha!
Tôi ngắt tiếng cười của anh ấy:
- Nghiêm chỉnh một chút đi cha! Nghe nói
đây nè! Anh có biết vì sao biển lớn gọi là Dương, biển nhỏ gần thềm lục địa gọi
là Hải. Thế thì, tại sao người ta không nói TANG DƯƠNG hay TANG HẢI mà NÓI TANG
THƯƠNG? Trong khi chữ THƯƠNG giải nghĩa là Biển, mà có Biển nào mang chữ THƯƠNG
đâu?
Bạn tôi, có lẽ đang vò đầu, tiếp theo tôi
nghe anh chậc lưỡi:
- Chậc! cái nầy coi bộ khó hiểu nha! Thôi
“ông thầy” giải thích luôn đi!
- Nghe nè ông bạn! THƯƠNG có nghĩa là NGOÀI
KHƠI của đại dương. Nơi đó có sóng to bảo lớn, có thể nhận chìm tất cả tàu
thuyền; tương tự như nỗi đau khổ tận cùng cũng có thể “nhận chìm” cả đời người.
Do đó, người ta mới ghép tang với thương để nói về sự tận cùng của thảm cảnh
nào đó.
- Nếu THƯƠNG là ngoài khơi của đại dương,
sao người ta dịch là biển mà không dịch Tang là Dâu, còn Thương là “ngoài khơi
đại dương?”
- Trời! Trời! Ông bạn tôi làm mấy xị đế rồi
mà “đầu óc sáng suốt” dữ vậy ta? Nghe nha, khi Tự (dấu nặng) kết thành Từ (dấu
huyền) để cấu tạo thành ngôn ngữ. Ngôn ngữ sau khi chắt lọc kết hợp nhau tạo ra
thành ngữ, phương ngữ, ca dao… thì người ta chọn cách nào cho không rườm rà và
đơn giản nhất, dễ nhớ nhất, đồng thời còn liên đới với nhau. Thương là ngoài
khơi của đại dương, đó là giải thích theo chữ nghĩa. Thực tế, Thương là BIỂN
TRONG BIỂN, không có biển thì làm sao có BIỂN (ngoài) KHƠI của đại dương cha
nội?
Còn điều nầy nữa, có nhiều Hán văn không
thể sử dụng nghĩa chính của Tự (dấu sắc), mà chỉ dùng sau khi nó được kết hợp
với một chữ khác để cấu tạo thành Từ (dấu huyền) mà ý nghĩa sau khi kết hợp nó hoàn
toàn khác với nghĩa gốc. Thí dụ: Can Đảm nghĩa đen là GAN, MẬT (cả hai chữ đều
là danh từ). Tuy nhiên, trong văn học chẳng thấy ai nói hay viết “thằng đó gan
mật” mà chỉ nói hay viết: “Thằng đó cam đảm”. Và, khi Can (gan) kết hợp với Đảm
(mật) thành Can Đảm, thì hai chữ Can Đảm ở đây được cấu tạo thành tính từ để
chỉ tinh thần dũng cảm, hay khí phách hiên ngang của con người.
***
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét