ĐỌC MƯU THẦN CỦA TƯỚNG XƯA,
ĐỂ
THẤY ĐƯỢC CHƯỚC QUỶ CỦA BỌN GIẶC TÀU NGÀY NAY.
Thai Quốc Mưu
Hàn Tín (韓信) 229 – 196 TCN), sanh tại Hoài Âm, nước Sở, nên khi thành danh được
phong Hoài Âm Hầu (淮陰候), ông là một danh tướng bách chiến bách thắng, thiên hạ vô địch. Trong
Cao Tổ Bản Kỷ, Lưu Bang phải thừa
nhận, “Nắm trong tay trăm vạn quân đã đánh là thắng, tiến công là nhất định
chiếm lĩnh thì ta không bằng Hoài Âm Hầu.”
Theo Tây Hán Chí. Hàn Tín
thuở nhỏ mất Cha từ bé, nhà nghèo phải làm nghề câu cá, nuôi Mẹ.
Khi mẹ mất, Hàn Tín bán cả nhà cửa, để xây mộ cho Mẹ trên vùng núi đẹp
đẽ. Vì thế phải xách kiếm đi lang thang.
Có tên đồ tể thấy Hàn Tín gầy gò yếu đuối nhưng lại vác kiếm trông như
võ tướng, hắn muốn làm nhục Tín buộc Tín một là dùng kiếm đánh nhau với gã, hai
là lòn dưới trôn nó. Hàn Tín chấp nhận chui qua háng, mọi người thấy Hàn Tín chịu
bị nhục đều chê cười.
Những khi không câu được cá, Tín không có gì ăn, thường đi xin cơm của
bà lão giặt lụa và hứa hẹn sau này làm nên sự nghiệp sẽ trả ơn ngàn vàng. Bà
lão giặt lụa trách:
- “Cậu là thanh niên trai tráng
mà không lo nổi miếng ăn thì làm sao làm nên sự nghiệp, tôi thấy cậu tội nghiệp
nên giúp, chứ nào có mong cậu đáp đền chi!”
Mọi người nghe thấy đều cho ông là người thấp kém, hèn hạ.
Năm 209 TCN, Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, Hàn Tín ra bờ sông Vị
Thủy cầm kiếm xin tham gia nghĩa quân. Ông đã được Hạng Lương là thế tộc nước
Sở cho gia nhập nghĩa quân. Tuy nhiên, Hạng Lương và cháu là Hạng Vũ xem thường
Hàn Tín thân phận thấp hèn, chỉ cho làm quân cầm kích đứng hầu. Nhiều lần Hàn
Tín bày mưu cho Hạng Vũ, nhưng Hạng Vũ không dùng.
Nhà Tần sụp đổ, Hạng Vũ đứng đầu chư hầu, phân phong cho các tướng và
vua chư hầu. Lưu Bang bị Hạng Vũ tranh công vào Quan Trung, đẩy Lưu Bang vào
đất Thục xa xôi hiểm trở, rồi phong cho Bang làm Hán Vương.
Vào đất Thục, Hàn Tín tự mình tiến cử với Hạ Hầu Anh, lúc đó Hạ hầu Anh
chịu trách nhiệm về việc chiêu hiền đãi sĩ.
Hạ Hầu Anh bèn nói chuyện với Hàn Tín, rất hài lòng, sau đó tâu với Lưu
Bang. Lưu Bang cho ông làm độ úy, coi về thóc.
Hàn Tín thường nói chuyện với tướng quốc của Lưu Bang là Tiêu Hà. Hàn
Tín có nói với Tiêu Hà 1 câu rất nổi tiếng về người làm tướng như sau:
- “Bẩm Thừa Tướng, đạo làm tướng
trước nhất phải có NĂM TÀI" và tránh MƯỜI LỖI. Năm tài là: Trí, Nhân, Tín,
Dũng, Trung. Trí thì biết cẩn thận; Nhân thì biết thương người, Tín thì không
sai hẹn; Dũng thì không ai dám phạm; Trung thì không ở hai lòng.
Còn mười điều lỗi: Một là cậy vào
cái dũng khinh thân mình; Hai là gặp việc gấp thì nóng nảy, thiếu cẩn thận; Ba
là gặp lợi thì ham; Bốn là vì lòng nhân không dám giết kẻ phạm tội ác; Năm là ỷ
lại vào sức mình không biết lo xa; Sáu là tin người mà không phòng; Bảy là
không chịu thu thập ý kiến người khác; Tám là việc đáng làm gấp mà do dự; Chín
là thiên vị, thiếu công bằng; Mười là lười biếng, chỉ muốn sai người. Nếu có đủ
NĂM TÀI và tránh được MƯỜI LỖI ấy, tất là tướng giỏi.”
Tiêu Hà nghe xong rất phục tài ông và hứa tiến cử với Hán Vương.
Đường từ Hàm Dương vào Thục xa xôi, hiểm trở, Lưu Bang cùng các tướng
di chuyển trong thời gian khá lâu.
Khi Hán Vương đến đất Nam Trịnh, trên đường đi, các tướng thấy cõi Thục
độc địa bỏ trốn đến mấy chục người. Hàn Tín xem chừng Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh đã
mấy lần tâu với Lưu Bang nhưng Lưu Bang không dùng mình, nên cũng bỏ trốn. Tiêu
Hà nghe tin Hàn Tín bỏ trốn liền thân hành theo tìm, không kịp báo cho Hán
vương biết.
Lưu Bang coi Tiêu Hà như cánh tay phải, lúc đó đứng ngồi không yên. Mãi
hai hôm sau Tiêu Hà mới về, giãi bày hết với Hán vương và ra sức tiến cử Hàn
Tín:
- “Các tướng đều dễ kiếm thôi, còn như Tín là kẻ quốc sĩ, có một không
hai. Nhà vua nếu cứ muốn làm vương mãi ở Hán Trung, thì chẳng cần Tín làm gì
chứ nếu muốn tranh lấy thiên hạ thì ngoài Tín ra chẳng có thể bàn công việc với
ai.”
Lưu Bang dù chưa thật tin nhưng vì sự khẩn khoản của Tiêu Hà mà phong
cho Hàn Tín làm đại tướng. Khi Hán vương làm trai giới, lập đàn để phong ông,
cả ba quân đều kinh ngạc, không nghĩ rằng người như ông lại được lên làm đại
tướng.
Hàn Tín lên đàn nhận phong xong, bèn phân tích cho Hán vương về những
thế mạnh, yếu của Hạng Vũ và phương sách đánh bại Sở. Hán vương bắt đầu nhận ra
tài năng của ông. Về sau mới biết Tín là người được Trương Lương tiến cử nên
Lưu Bang lại càng xem trọng.
Từ đó Hàn Tín, Trương Lương, Tiêu Hà được Lưu Bang xem là Tam Kiệt của
mình.
Để che mắt các nước Tam Tần, ngay khi vào Thục, Trương Lương cho đốt
đường sạn đạo (con đường nối vùng đất Thục với Tần) khiến không nước nào chú ý
đến Lưu Bang.
Tháng tám năm 206 TCN, Hàn Tín được phong làm đại tướng, bắt đầu ra
quân bình định Tam Tần, do các vua chư hầu Chương Hàm (Ung vương), Tư Mã Hân
(Tắc vương) và Đổng Ế (Địch vương) án ngữ làm phiên giậu cho Sơn Đông để cản
đường Lưu Bang.
Hàn Tín sai người giả vờ đi sửa đường sạn đạo, vốn mất rất nhiều công
sức thời gian, khiến Tam Tần yên trí rằng quân Hán còn lâu mới ra được cửa ải.
Trong khi Hàn Tín dẫn đại quân đi theo đường Trần Thương đi qua huyện
Cố Đạo đánh úp Ung
Vương Chương Hàm. Chương Hàm đón đánh quân Hán ở Trần Thương. Hàn Tín
giả thua chạy, sau đó dùng kế hỏa công mai phục đốt Chương Hàm. Ung vương bị
thua chạy, lại dừng quân đánh đất Hạo Trĩ, bị thua nữa, bỏ chạy đến Phế Khâu.
Hán vương đuổi theo, bình định đất đai của Ung vương, đi về đông đến Hàm Dương,
lại cho một cánh quân riêng vây Ung vương ở Phế Khâu, còn sai các tướng bình
định các vùng Lũng Tây, Bắc Địa, Thượng Quận.
Hàn Tín sau đó đánh Phế Khâu, thấy thành kiên cố dễ thủ khó công. Sau
khi đi thị sát, ông nói với Tào Tham:
- “Dưới chân thành, con sông Bạch Thủy chảy vòng quanh từ Tây Bắc sang
Ðông Nam, làn nước rất mạnh. Nếu ta dùng bịch đựng cát đắp ngang dòng sông, cho
nước dâng lên, tràn vào thành, quân địch ắt phải vào bụng cá hết.”
Tào Tham theo kế, đem một ngàn quân xuống phía nam Phế Khâu lệnh cho
binh sĩ ngày đêm thay phiên nhau dùng lá cọ, lá dừa nước đan bịch. Xong, cho cát
vào bịch đem chắn dòng sông, rồi dẫn nước chảy thẳng vào thành Phế Khâu. Chương
Hàm thất đảm hồn kinh phải bỏ Phế Khâu chạy về Đào Lâm.
Năm 207 TCN, Hàn Tín lại điều quân đánh Tắc Vương Hân, Địch Vương Ế. Bị
đánh bất ngờ, Tư Mã Hân và Đổng Ế đầu hàng. Hàn Tín kéo về đông, Hà Nam Vương
Thân Dương cũng đầu hàng theo. Hán Vương muốn đánh ngay Hàm Dương, Hàn Tín chủ
trương diệt Chương Hàm trước, được Hán Vương đồng ý.
Hàn Tín đem quân đánh Đào Lâm, Chương Hàm tự sát. Hàm Dương nghe tin
liền đầu hàng. Đến đây thì Tam Tần bị diệt, đất Quan Trung rơi vào tay Hán
Vương.
Trong khi đó, Hạng Vũ sau khi giết Hàn Vương Thành, cho người thân tín
của mình là Trịnh Xương làm Hàn Vương. Hàn Vương không chịu đầu hàng Hán. Hàn
Tín mang đại quân đánh bại Trịnh Xương.
Chiếm Hàn Thành, Lưu Bang lập người tông thất nước Hàn, đang làm thái úy,
cũng tên là Hàn Tín làm Hàn Vương, gọi là Hàn Vương Tín.
Tây Ngụy Vương Báo bèn hàng Hán, cùng hợp binh với Hán đánh Ân. Ân Vương
Tư Mã Ngang bị bắt sống.
Hàn Tín ở lại giữ Quan Trung, Hán Vương cùng các tướng tiếp tục đông
tiến, dụ thêm nước Triệu hội quân đánh Sở.
Lúc đó Tây Sở Bá vương Hạng Vũ đang sa lầy chiến tranh ở nước Tề, chưa
diệt được Điền Quảng và Điền Hoành, Hán Vương gom quân chư hầu 56 vạn rầm rộ
tiến vào chiếm cứ kinh đô Sở là Bành Thành. Hạng Vương (Hạng Vũ) mang 3 vạn
tinh binh trở về đánh tan tành quân Hán ở Bành Thành. Quân Hán tan tác rút
binh.
Một loạt các chư hầu như Tư Mã Hân, Đổng Ế, Triệu Yết thấy Sở thắng Hán
lại theo Sở. Cả Điền Hoành nước Tề cũng giảng hoà với Sở. Thế quân Sở mạnh lên,
Hạng Vũ mang quân tây tiến đánh Hán.
Hán Vương thu binh về Huỳnh Dương. Hàn Tín đến tâu với Hán Vương:
- “Tôi ở Hàm Dương đã chế ra được vài trăm cỗ xe để dự bị đánh Sở, loại
chiến xa nầy, có tác dụng rất mạnh trong trận chiến thuộc bình nguyên. Huỳnh
Dương cách đây ba mươi dặm, có một khu đất bằng có thể áp dụng chiến xa được.
Hán Vương nghe nói liền sai thợ ngày đêm theo mẫu xe của Hàn Tín mà chế
tạo thêm được hơn 3.000 chiếc dự bị đánh Sở.
Hạng Vương đem quân đến, Hàn Tín gửi thư cho Hạng Vũ, đại để viết:
“Nguyên soái nhà Ðại Hán Hàn
Tín trao thư Tây Sở Bá Vương khán hạ.
Tín vẫn có sung vào chức Chấp
kích lang của Sở, song, trước kia cùng với Bá vương lập vua Hoài vương, quay
mặt về Bắc xưng thần, đồng triều chấp sự, thì Tín là tôi của vua Nghĩa Ðế chứ
không phải là tôi của Sở, lẽ ấy đã rõ ràng. Chẳng ngờ Ðại vương (Hạng Vũ) lại
giết vua Nghĩa Ðế, chuyên chế chư hầu, thiên hạ oán vọng, còn Tín cũng lấy làm
đau lòng. Những muốn vung gươm giết đứa đại nghịch, trả thù cho vua, nhưng xét
thấy tài hèn sức yếu chưa làm nổi chuyện đó, đành phải sang đầu Hán để bá cáo
tội ác Đại Vương cho thiên hạ biết. Vừa rồi, Tín đóng quân tại Hàm Dương, không
đi đánh Sở, thất cơ một chút đến nỗi quân thua. Nay Tín thống lãnh hùng binh, áo
trắng cờ tang, thi vũ tại Huỳnh Dương trước rửa hờn cho vua Nghĩa Ðế, sau vì
Hán vương tuyết sĩ, thì phen này Đại Vương (Hạng Vũ) khó mà toàn mạng.
Tín báo trước cho Ðại vương giữ
mình.”
Hạng Vương xem xong tức lắm, quát:
- “Thằng lòn trôn khốn nạn đó đã dám dùng lời vô lễ với ta. Phen này,
ta thề không bắt được đứa phản phúc quyết không trở về.”
Hôm sau Hạng Vương đem quân ra đánh với Hàn Tín, Hàn Tín giả thua bỏ chạy,
đến sông Kinh Sách qua cầu xong quay mặt lại chờ Hạng Vương. Hạng Vương đuổi
theo, vừa qua khỏi cầu thì Hàn Tín sai quân phá cầu, rồi sai đem chiến xa ra
làm tường lũy, bắn tên tua tủa vào quân Sở. Quân Sở không thoát được đều bị
giết hết, Hạng Vương dẫn theo Quý Bố phá vây mà chạy. Hai nước Hán, Sở lại lâm
vào thế giằng co.
Tháng sáu năm 205 TCN, Ngụy Vương Báo (Ngụy Báo) lấy cớ xin nghỉ để về
thăm cha bị bệnh. Về đến nước, Ngụy Vương liền cắt đường giao thông ở Hà Quan,
phản lại Hán, giao hiếu với Sở.
Hán vương sai Lịch Tự Cơ thuyết phục Báo, nhưng Ngụy Báo không nghe.
Tháng tám năm 205 TCN, Lưu Bang phong Hàn Tín làm tả thừa tướng để đánh
Ngụy. Ngụy Báo
đem nhiều binh đến Bồ Bản chặn cửa sông Lâm Tấn. Hàn Tín dàn thêm nghi
binh, bày thuyền bè như muốn vượt qua sông Lâm Tấn; nhưng trái lại dùng phục
binh đi đường đất Hạ Dương, lấy thùng gỗ để cho quân vượt qua sông, đánh úp cựu
đô của Ngụy là An Ấp.
Ngụy Vương Báo cả kinh, đem binh quan về đánh trả nhưng đã muộn. Hàn
Tín đánh chiếm đất Ngụy, bắt Ngụy Báo, bình định đất Ngụy, lập thành quận Hà
Đông.
Hàn Tín trợn mắt hỏi Nguỵ Báo (魏 豹):
- Nhà ngươi khi ở Hán làm chức Nguyên Soái không tròn nhiệm vụ, để quân
thất trận nơi Truy Thủy. Lẽ ra, Chúa Thượng chiếu luật trừng phạt, nhưng lại để
cho nhà người được về nước, giữ y vương vị, ân đức ấy nhà ngươi không cố sức
báo đền, lại nghe lời thầy tướng mà phản phúc. Nay ta bắt ngươi, đáng ra phải
chém đầu, song nghĩ nhà ngươi là vua của một nước…
Tới đây, Hàn Tín bỗng dưng truyền Tào Tham và Quán Anh mở trói cho Nguỵ
Báo, ân cần mời ngồi, đoạn hạ giọng:
- Nhà ngươi là vua của nước Tây Nguỵ, ta hỏi ngươi câu nầy…
Ngụy Báo cúi mặt, nói:
- Nguyên Soái cứ hỏi.
Hàn Tín biết chữ Ngụy (魏) là HỌ của Ngụy Báo (cũng như NGỤY là tên
của nước NGỤY) nhưng lại đồng âm với chữ Ngụy (偽) có nghĩa là gian dối, trộm cắp, loạn thần
(như ngụy triều), nhưng muốn thử tinh thần Ngụy Báo, Tín bèn mỉm cười, hỏi:
- Nhà ngươi là vua của nước Tây Ngụy. Thế, ngươi có biết chữ Ngụy nghĩa
là gì không?
Ngụy Báo đáp nhanh:
- Tôi nghĩ, theo ý tướng quân chữ Ngụy (偽) có
nghĩa là… gian trá, trộm cắp, loạn thần. Nhưng tôi biết ngoài ra, còn có…
Hàn Tín cướp lời, hỏi tiếp:
- Giả trá, nghĩa là không thật, tức là không có chính nghĩa. Thế sao
người không đổi bằng một cái tên khác?
Ngụy Báo ngẩng cao đầu, giọng sang sảng trả lời:
- Ngụy (魏) của tôi là Quốc Hiệu là của tổ tiên truyền lại, nên
không thể thay đổi.
Hàn Tín giả lơ, lại nói:
- Chính vì cái … giả là không thật cho nên ngươi mới thua trận.
Rồi Hàn Tín hạ giọng, đặt điều kiện:
- Thôi được, ta sẽ tha cho ngươi về Tây Ngụy tiếp tục làm vua với một
điều kiện, ngươi phải đổi lại Quốc Hiệu không còn là… Ngụy nữa. Ngươi nghĩ thế
nào?
Nguỵ Báo nghiêm sắc mặt, nói:
- Nếu như Nguyên Soái vì đức hiếu sinh mà tha mạng cho Báo nầy, thì tôi
nguyện kết cỏ ngậm vành. Còn như Nguyên Soái tha cho tôi mà kèm theo điều kiện,
thì tôi thà chịu chết. Bởi, không có gì hèn hạ và thấp kém cho bằng, khi ban ơn
cho người, lại kèm theo điều nầy, điều nọ…
Hàn Tín cả cười, nói:
- Chữ Nguỵ có đẹp đẽ chi đâu, sao ngươi lại khăng khăng giữ lấy để nhận
cái chết?
Ngụy Báo nhìn vào mặt Hàn Tín, thẳng thắn đáp:
- Tôi không thể làm trái ý tổ tiên. Tôi vẫn biết, kẻ chiến bại không
bao giờ được bước qua Khải Hoàn Môn. Còn kẻ chiến thắng muốn vẽ rắn thêm chân,
nói vượn, nói hươu làm sao mà chẳng được? Duy có điều…
Hàn Tín đưa mắt dò xét:
- Điều gì?
Một thoáng nghĩ ngợi, Ngụy Báo, nói:
- Tôi biết khi nói ra điều nầy, Nguyên Soái sẽ không bằng lòng. Nhưng
dẫu chết tôi cũng nói.
Hàn Tín giục:
- Ngươi cứ nói. Ta nghe đây!
Nguỵ Báo hăm hở:
- Kẻ chiến thắng chưa chắc đã có thực tài hay có chánh nghĩa. Đó chẳng
qua do thời thế phải thế mà thôi! Như nguyên Soái trước kia bị người đời miệt
khinh là kẻ lòn trôn giữa chợ, ai nấy cũng nhìn Ngài bằng ánh mắt… là kẻ lòn
trôn. Nhưng bây giờ. có ai dám bảo Ngài là… kẻ lòn trôn nữa không? Chắc chắn là
không! Vả lại, nếu Ngụy Báo nầy chỉ vì tham sanh úy tử, vì cái danh lợi phù du
mà phản bội tổ tiên, phản bội đất nước mình thì Báo nầy há chẳng phải giống như
loài giun dế sao? Nếu Ngài ban cho cái chết thì Báo nầy vui lòng chấp nhận. Còn
nếu Ngài xui Báo là điều phi nghĩa thì Ngụy Báo nầy tuyệt đối không thể và sẵn
sàng chấp nhận rơi đầu.
Hàn Tín nghe qua vỗ án, bật cười khoái chí, khom mình vòng tay trước
Ngụy Báo, lời cung kính:
- Khí khái! Khí khái! Ha! Ha! Ha.a…a.a! Kể ra, Ngụy vương Báo rõ là
người đầy khí khái! Nếu ta giết một người đầy bản lĩnh, giàu khí khái như ông, tất
sẽ bị người đời nguyền rủa. coi ta như bọn thất phu! Đời đời chẳng những miệt
khinh mà còn nguyền rủa một cách tệ hại! Vậy ta xin tha Người về nước. Xin đừng
cảm ơn hạ tướng nầy mà hãy tiếp tục làm một vị vua sáng suốt để muôn dân được
nhờ ân đức.
Tào Tham nghe thấy, liền vội can:
- Nguyên Soái tự ý tha cho Nguỵ Báo sẽ bị mang tội với Hán Vương!
Hàn Tín khẳng khái:
- Hán Vương là đấng anh minh, tất phải biết câu: “Tướng quân tại ngoại…”.
Ngươi chớ có nói nhiều. Ngươi lập tức truyền lệnh ta hãy cấp người hầu, xe ngựa
và lương thực cho Ngụy Vương lên đường về Tây Ngụy. Đồng thời ngươi thay ta đưa
tiễn Ngụy Vương mươi dặm đường.
Tào Tham vâng mệnh ra đi. Quán Anh thấy vậy ra chiều nghĩ ngợi, đợi
Ngụy Báo đi rồi mới hỏi Hàn Tín:
- Tôi biết Nguyên Soái là người trí dũng, nên tôi chưa thể đoán ra việc
Nguyên Soái tha cho Ngụy Báo.
Hàn Tín trầm ngâm một lúc lâu, nói:
- Ta đánh tráo hai chữ Ngụy để thử tinh thần Ngụy Báo, nhưng ông ta nói
chí phải. Ngụy chỉ là cái tên gọi. Vì vậy, không thể lấy đó làm thước đo trí
tuệ của vua quan, cũng như trình độ dân trí của họ. Tướng quân hãy mau truyền
lịnh ta. Tất cả các tướng sĩ, không được vì chiến thắng mà sinh lòng kiêu ngạo,
bởi đó hành động hạ đẳng của bọn kiêu binh! Đừng có nghĩ, “TA” là kẻ chiến
thắng thì cái gì của mình hay, cũng đúng, rồi đưa cái “TA” lên trên thiên hạ. Đời
chỉ có “TA” ngu thôi, còn trăm họ luôn sáng suốt!
Đã là kẻ thắng cuộc, nếu ta không hơn kẻ chiến bại tất cả mọi mặt, thì
ít ra cũng có mặt ta hơn. Đó là điều khó khăn nhất! Nếu là kẻ thắng cuộc thì ta
phải làm được điều gì cho quân dân phe chiến bại thấy rằng, họ thua ta là xứng
đáng, là vì họ thiếu chánh nghĩa. Có như vậy, thì chiến thắng kia mới thực sự
vinh quang. Còn nếu như ta chiến thắng họ rồi tỏ ra ươn hèn, ngu si trước kẻ
thù chung của dân tộc, của đất nước và, không có chính nghĩa bằng kẻ chiến bại,
thì liệu cái chiến thắng đó có vinh quang, có được sử sách ghi chép chiến công?
Hay sau nầy, qua sách sử cháu con bọn ta sẽ bị cả dân tộc nầy nguyền rủa ông
cha chúng là những kẻ vì lợi ích riêng tư mà bán rẻ cả dân tộc, bán rẻ cả tổ
quốc?
Trước khi vâng lịnh lui ra, Quán Anh vòng tay thi lễ, cung kính nói:
- Lời Nguyên Soái chí phải! Đúng là châu báu cũng không sánh bằng. Trong
tâm trí của kẻ thua trận và nhân dân của họ không tâm phục khẩu phục thì sự
chiến thắng đó chẳng có gì vinh dự cả! Và, còn làm cho kẻ chiến bại họ xem sự
chiến thắng đó giống như… lũ chó đói trên đồng hoang vớ phải… c… ứt!
Hàn Tín đưa tay vỗ vỗ vào vai Quán Anh, giọng thân tình nói:
- Không ngờ… tướng quân Quán Anh là người hiểu thấu ruột gan Tín nầy.
Ha! Ha..a..a.a!
Sau đó, Hán Vương lại sai Hàn Tín đi đánh nước Đại.
Tháng chín nhuận, năm 205 TCN, Hàn Tín phá quân Đại, bắt được thừa
tướng Hạ Duyệt, người được Đại vương Trần Dư ủy quyền cai quản đất Ứ Dự của
nước Đại. Lúc đó chiến sự giữa Hán và Sở đang rất gay go, Hán Vương bị Sở Bá
vương tấn công mạnh mẽ. Hán Vương nghe tin Hàn Tín diệt liền hai nước, liền truyền
thu tinh binh của ông đem đến Huỳnh Dương để chống Sở.
Hàn Tín và Trương Nhĩ mộ quân mới, được mấy vạn người, đi về phía Đông
xuống Tỉnh Hình để đánh Triệu. Vua Triệu và Trần Dư nghe tin quân Hán sắp đánh
úp, bèn tụ tập quân đội ở Tỉnh Hình, phao là hai mươi vạn. Tướng Triệu là Lý Tả
Xa bày mưu cho Trần Dư nên cố thủ và chẹn đường vận lương của quân Hán nhưng
Trần Dư không nghe theo.
Hàn Tín sai người sang thám thính, biết mưu của Lý Tả Xa không được
dùng, bèn đem quân thẳng xuống. Chưa đến cửa Tỉnh Hình, cách ba mươi dặm, dừng
lại cắm trại. Nửa đêm truyền lệnh xuất phát. Chọn hai nghìn kỵ binh trang bị
nhẹ, mỗi người cầm một lá cờ đỏ đi theo đường tắt lén lút sang theo dõi quân
Triệu.
Xong, Hàn Tín truyền lệnh cho đoàn kỵ binh:
- “Triệu thấy ta chạy, thế nào cũng bỏ trống thành mà đuổi ra. Các
ngươi tiến ngay vào trong thành, nhổ cờ của Triệu dựng cờ đỏ của Hán.
Sau đó ông sai các tùy tướng truyền bảo cho binh sĩ ăn cơm lót lòng
thôi, và nói:
- “Hôm nay phá quân Triệu xong sẽ họp nhau ăn tiệc.”
Các tướng nghe lệnh nhưng vẫn nghi hoặc không ai tin.
Sau đó Hàn Tín nói với tướng sĩ:
- “Quân Triệu đã giữ địa thế tiện lợi trước để xây đồn lũy, chúng lại
chưa thấy cờ trống, chúng chưa thấy quân ta nên chưa chịu tiến lên đánh đội
tiên phong vì chúng sợ đến nơi đường hẹp, hiểm trở ta phản công thì khó quay
lại.
Rồi Hàn Tín sai một vạn người đi trước bày trận quay lưng ra sông. Đó
là phép tối kỵ trong binh pháp vì theo binh pháp, phải dựa vào núi và nhìn ra
sông, nếu tựa vào sông sẽ bị kẻ địch đánh dồn tới hết đường chạy, đó là chỗ
chết. Vì thế quân Triệu ở xa nhìn thấy, khinh chê nói cười nghiêng ngửa.
Lúc bình minh, Hàn Tín truyền dựng cờ đại tướng, đánh trống lên, kéo
quân ra cửa Tỉnh Hình. Quân Triệu mở cửa lũy, đánh nhau to một hồi lâu. Bấy giờ
Hàn Tín, Trương Nhĩ lệnh cho vờ bỏ cờ trống chạy đến đạo quân gần sông. Đạo quân
gần sông rẽ ra, đón lấy họ, rồi lại chiến đấu dữ dội.
Quả nhiên quân Triệu bỏ thành ra tranh lấy cờ trống của Hán, đuổi theo quân
Hàn Tín, Trương
Nhĩ.
Khi quân Hàn Tín, Trương Nhĩ đã nhập vào đạo quân ở gần sông thì quân
đội đều liều chết chiến đấu không thể nào địch quân đánh bại được. Hai nghìn
quân kỵ mà Tín đã cho đi từ trước chờ đến khi quân Triệu bỏ lũy trống để đuổi
theo để lấy cờ trống của Hán, liền phi ngựa nhanh vào trong thành, nhổ tất cả
cờ xí của Triệu để dựng hai nghìn lá cờ đỏ của Hán.
Quân Triệu đã không thắng, không bắt được Hàn Tín và các tướng Hán,
muốn quay trở về đồn, nhưng trong thành toàn là cờ đỏ của Hán thì cả sợ, cho
rằng quân Hán đã bắt được tướng của Triệu Vương rồi. Quân sĩ hỗn loạn bỏ chạy.
Tướng Triệu chém những kẻ bỏ chạy cũng không ngăn được. Quân Hán hai bên áp
lại, phá tan quân Triệu, chém Trần Dư trên sông Chi Thủy, bắt sống Triệu Vương
Yết.
Hàn Tín ra lệnh cho quân đội không được giết Lý Tả Xa, ai bắt sống được
ông ta thì thưởng ngàn vàng. Có người trói Tả Xa nộp dưới cờ, Tín bèn cởi trói
cho ông ta và cho ngồi quay mặt về hướng Đông, còn mình ngồi quay mặt về hướng
Tây, bái làm thầy… (xin xem phần trích
dẫn dưới đây)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét