Lý Tả Xa (李左车).
Trích Sử Ký Tư Mã Thiên
– Phần Hoài Âm Hầu: “
THÁI QUỐC MƯU
Lý tả Xa người Bách Nhân, là cháu nội Lý Mục là tướng Triệu; cha là Bạc, làm Trung đại phu chiêm
sự đời Tần. Tả Xa làm việc cho Triệu vương Hiết, được phong Quảng Vũ Quân, tức
là thành cũ Quảng Vũ đời Minh. Ông là mưu sĩ nước Triệu cuối đời Tần, từng
khuyên tướng Hán là Hàn Tín chiêu dụ thay vì phát binh tiến đánh 2 nước Yên,
Tề, kết quả thành công.
Tháng 10 năm 204 TCN, bọn tướng Hán là Hàn Tín, Trương Nhĩ đưa mấy vạn
quân vượt núi Thái Hành, đông tiến đánh Triệu, lúc nầy đang phụ thuộc nước Sở.
Tả Xa theo Thành An quân Trần Dư tập trung binh lực ở cửa Tỉnh Hình, chiếm giữ
địa hình có lợi, chuẩn bị cùng Hàn Tín quyết chiến. Ông nghĩ, quân Hán đi xa
thiếu lương, sĩ tốt đói mệt, vả lại Tỉnh Hình đường sá chật hẹp, ngựa xe không
dùng được, nghiêm thủ thì khó lòng thất bại; tự xin nắm 3 vạn quân, theo đường
nhỏ cắt đứt đường vận lương của quân Hán. Trần Dư không nghe, kiên quyết đón
đánh quân Hán.
Hàn Tín bày "trận Bối thủy" dọc theo bờ đông sông Bí, đánh
cho quân Triệu đại bại. Tín treo thưởng ngàn vàng cho ai bắt được Tả Xa. Không
lâu sau, có người trói ông đưa đến trước trướng.
Hàn Tín lập tức cởi trói cho ông, mời ngồi quay mặt về hướng đông, Hàn
Tín ngồi quay mặt về hướng Tây, bái làm thầy.
Hàn Tín hỏi Quảng Vũ Quân (Lý Tả Xa):
- “Kẻ hèn nầy muốn bắc đánh Yên, đông dẹp Tề, làm thế nào thì thành
công?”
Quảng Vũ Quân, tạ rằng:
- “Tôi nghe tướng thua trận, không thể kể chuyện dũng cảm; đại phu mất
nước, không thể toan mưu giữ gìn. Nay tôi là tên tù thất bại mất nước, sao có
quyền bàn đến việc lớn!?”
Tín nói:
- “Kẻ hèn nầy nghe nói, Bách Lý Hề ở nước Ngu thì nước Ngu bị mất, ở
nước Tần thì nước Tần xưng bá, không phải Bách Lý Hề ở Ngu thì ngu, ở Tần thì
khôn, ấy là do được dùng hay không! Nếu như Thành An Quân nghe theo kế của túc
hạ, thì Tín nầy đã bị bắt rồi.”
Nói xong, cố nài rằng:
- “Kẻ hèn nầy dốc lòng theo kế, xin túc hạ chớ từ khước từ thành ý”.
Quảng Vũ Quân nói:
- “Tôi nghe kẻ khôn nghĩ ngàn việc, ắt có một việc sai; kẻ ngu nghĩ
ngàn việc, ắt có một việc đúng. Nên mới có câu “lời của kẻ rồ, thánh nhân cũng
xét đến”. (Nguyên văn: 千虑一得 (Hán Việt:
Thiên lự nhất đắc. Tạm dịch: ngàn nghĩ được một). Nguyên văn: “智者千虑, 必有一失; 愚者千虑, 必有一得” (Hán
Việt: trí giả thiên lự, tất hữu nhất thất; ngu giả thiên lự, tất hữu nhất
đắc. Tạm dịch: kẻ khôn nghĩ ngàn
việc, ắt có một việc sai; kẻ ngu nghĩ ngàn việc, ắt có một việc đúng).
Chỉ e kế của tôi chưa chắc đã dùng được, chỉ xin tỏ lòng ngu trung. Ôi!
Thành An Quân có kế bách chiến bách thắng, trhế mà một sớm, một chiều lại thất
bại, quân bại dưới thành Khao, thân chết gần sông Bí. Nay tướng quân vượt Tây
Hà, cầm tù Ngụy Vương (Ngụy Báo), bắt Hạ Duyệt ở Át Dữ, một trận lấy Tỉnh Hình,
không đầy một buổi sáng phá 20 vạn quân Triệu, giết Thành An Quân. Tiếng nổi
trong nước, oai vang thiên hạ, nông phu không ai không nghỉ cấy buông cày, mặc
áo đẹp, ăn món ngon, nghiêng tai để đợi mệnh.
Như thế, là sở trường của tướng quân vậy. Nhưng mà giờ đây sĩ nhọc, tốt
mỏi, kỳ thật khó dùng.
Nay tướng quân muốn cất quân vất vả, đình đốn dưới thành nước Yên, muốn
đánh thì sợ lâu ngày không nhổ được, tính rõ thì thế yếu, lâu ngày thì hết
lương, mà nếu Yên không phục, Tề ắt giữ biên giới chống lại. Yên – Tề giằng co
không hạ được, thì quyền vị của Lưu (Bang) – Hạng (Vũ) chưa phân rõ. Như thế
ấy, tức là sở đoản của tướng quân vậy.
Tôi ngu, trộm cho rằng làm thế là sai. Bởi kẻ giỏi dùng binh không lấy
đoản đánh trường, mà lấy trường đánh đoản.”
Hàn Tín nói:
- “Vậy Tín nầy nên làm thế nào?”
Quảng Vũ Quân đáp rằng:
- “Đương lúc nầy xin bày kế cho tướng quân, chẳng bằng xếp giáp dừng
binh, vỗ về những đứa con mất cha của nước Triệu; trong vòng trăm dặm, đem bò
rượu đến đãi hết ngày, đem thết sĩ phu và khao binh sĩ; đề phòng nước Yên ở mặt
Bắc, rồi sau đó sai biện sĩ đem thư bộc lộ sở trường của ở Yên, Yên ắt chẳng
dám không nghe theo. Yên đã theo, thì sai sứ giả truyền lời sang nước Tề ở phía
đông, Tề ắt thuận thời mà theo; dẫu có kẻ khôn, cũng không thể bày kế cho Tề.
Như thế, thì thiên hạ có thể lấy được. Việc binh vốn có phép trước hư (đánh
tiếng) rồi sau thật (dùng binh) vậy.”
Hàn Tín nói:
- “Chí phải." Tín nầy xin theo sách lược của ông”. Rồi sai sứ đi
Yên, Yên thuận thời mà hàng.)
(ngưng trích).
Các tướng đem thủ cấp các tướng Triệu và tù binh đến nộp đâu đấy và
chúc mừng, nhân dịp hỏi Hàn Tín:
- “Binh pháp nói, “khi dàn binh phải chọn, bên phải và sau lưng thì có núi
gò, trước mặt bên trái thì có sông đầm, nay tướng quân lại sai bọn chúng tôi
quay lưng ra sông mà bày trận, nói rằng phá xong quân Triệu sẽ ăn cơm. Bọn
chúng tôi không phục nhưng kết quả lại thắng, không biết đó là thuật gì?”
Hàn Tín cười đáp:
- “Điều đó có ở trong binh pháp, chỉ có điều các ngươi không xét đến mà
thôi. Chẳng phải binh pháp có nói: “Hãm vào đất chết thì sau đó mới sống, dắt
vào chỗ mất thì sau đó mới còn” hay sao? Vả chăng không phải ta đã có những
tướng sĩ đã từng được huấn luyện sao? Đây cũng như người ta nói là buộc những
người ngoài chợ phải đi đánh giặc. Trong tình thế đó, nếu không đặt họ vào nơi
đất chết thì họ không thể nào chiến đấu. Ta đặt họ vào đất chết khiến cho người
nào cũng vì mình mà chiến đấu thì sao chẳng thành công? Nếu như ta để cho họ
vào nơi đất sống thì họ đều bỏ chạy, ta còn làm sao dùng họ được nữa?”
Theo kế của Lý Tả Xa, Hàn Tín cho quân nghỉ ngơi, bình định nước Triệu,
rồi sai người mang một bức thư sang nước Yên dụ Yên vương Tang Đồ. Tang Đồ sợ
thế quân Hán bèn xin theo.
Hàn Tín sai sứ báo với Hán, nhân tiện xin lập Trương Nhĩ làm Triệu
Vương để cai trị và vỗ về nước này. Vua Hán ưng thuận, bèn lập Trương Nhĩ làm
Triệu Vương.
***
Hạng Vũ mấy lần sai kỵ binh vượt qua sông Hoàng Hà đánh Triệu. Triệu
Vương Nhĩ và Hàn Tín
đi đi lại lại để cứu Triệu, nhân lúc đi lại bình định các thành ấp ở
Triệu, đem binh đến giúp Hán Vương.
Hạng vương đang bận vào việc vây Hán Vương ở Huỳnh Dương, nên không thể
dồn đại quân đánh Triệu. Hán Vương bị quân Sở vậy ngặt, phải trốn ra về phía
Nam, đến giữa miền Uyển và Diệp, chạy vào Thành Cao. Hạng Vũ lại bao vây rất
gấp.
Tháng sáu năm 204 TCN, Hán Vương ra khỏi Thành Cao, chạy về hướng đông,
vượt qua sông Hoàng Hà, chỉ có một mình Hạ Hầu Anh cùng đi. Hán Vương theo quân
của Trương Nhĩ đến Tu Vũ. Đến nơi, Hán Vương nghỉ ở ngoài quán trọ. Sáng sớm,
Hán Vương tự xưng là sứ thần nhà Hán, phi ngựa vào trong thành Triệu. Trương
Nhĩ, Hàn Tín chưa dậy, Hán Vương vào trong phòng ngủ, cướp ấn tín và binh phù,
dùng cờ mao để triệu tập các tướng, thay đổi chức vị các tướng.
Khi Hàn Tín và Trương Nhĩ thức dậy, mới biết là Hán Vương đã đến. Hán
Vương sau khi đoạt quân của hai người liền ra lệnh cho Trương Nhĩ giữ lấy đất
Triệu, phong Hàn Tín làm tướng quốc, thu quân đội của Triệu chưa phái đến Huỳnh
Dương để đánh Tề.
Hàn Tín đem quân sang Đông, chưa vượt qua bến sông Bình Nguyên thì nghe
tin sứ thần của Hán Vương là Lịch Tự Cơ đã thuyết phục được nước Tề đầu hàng.
Hàn Tín muốn dừng lại. Người biện sĩ đất Phạm Dương là Khoái Triệt bàn với Hàn
Tín:
- “Tướng quân nhận chiếu đánh nước Tề, nay Hán Vương chỉ sai một người
ly gián mà khiến nước Tề đầu hàng, nhưng đã có chiếu chỉ bảo tướng quân dừng
lại đâu? Tại sao tướng quân lại không đi? Vả chăng Lịch Sinh là một kẻ sĩ kính
cẩn chỉ múa ba tấc lưỡi mà hạ được hơn bảy mươi thành của nước Tề, tướng quân
cầm mấy vạn quân hơn một năm mới hạ được hơn năm mươi thành của Triệu. Làm tướng
quân bao năm mà công không bằng một anh nhà nho hay sao?”
Hàn Tín cho là phải, theo kế của Khoái Triệt, mang quân vượt qua sông
Hà.
Nước Tề đã nghe lời Lịch Sinh nên giữ Lịch Sinh ở lại uống rượu, triệt
bỏ các quân đội để phòng ngự quân Hán. Hàn Tín nhân đó đánh úp quân Tề ở Lịch
Hạ, đi đến Lâm Tri. Vua Tề là Điền Quảng cho rằng Lịch Sinh lừa mình nên nấu
Lịch Sinh và trốn đến đất Cao Mật, sai sứ đến nước Sở để cầu cứu. Sau khi đã
bình định Lâm Tri, Hàn Tín đi về hướng Đông, đuổi Quảng đến phía Tây đất Cao
Mật.
Hạng Vương nghe cầu cứu của Tề, bèn sai Long Thư làm tướng, phao là hai
mươi vạn quân, đem quân đến cứu Tề. Vua Tề là Điền Quảng cùng Long Thư dồn quân
để đánh nhau với Hàn Tín.
Long Thư bày trận hai bên sông Tuy Thủy. Hàn Tín đang đêm sai người đan
hơn một vạn cái vỏ đổ đầy đất chặn lấy thượng lưu dòng sông rồi đem quân qua
nửa chừng đánh Long Thư, giả vờ thua, quay lưng bỏ chạy về. Long Thư quả nhiên
mừng rỡ nói:
- “Ta biết Hàn Tín nhát gan mà!”
Bèn dẫn quân đuổi theo, qua sông. Lúc đó Hàn Tín cho người phá các vỏ
đựng đất, nước sông chảy cuồn cuộn, ào ào như thát đổ, đại quân của Long Thư qua
quá nửa sông không qua tiếp được, cũng chẳng quay lại được. Hàn Tín mới thúc
quân đánh gấp, giết được Long Thư. Bộ phận quân của Long Thư phía đông dòng sông
(tức phía bên kia bờ) bỏ chạy tán loạn.
Vua Tề là Điền Quảng chạy trốn. Hàn Tín liền đuổi theo đến đất Thành
Dương, bắt bỏ tù tất cả lính Tề.
Năm 203 TCN, Hàn Tín bình định nước Tề, sai người báo với Lưu Bang:
- “Nước Tề là nước gian dối, hay gây biến, tráo trở. Biên giới phía Nam
là nước Sở, nếu không lập giả vương để giữ thì không thể bình định được. Xin
cho tôi làm giả vương.”
Lúc bấy giờ quân Sở đang vây Hán Vương rất gấp ở thành Huỳnh Dương. Sứ
giả của Hàn Tín đến, Hán Vương mở phong thư ra, cả giận mắng:
- “Ta đang nguy khốn ở đây, sớm chiều trông nó đến giúp thế mà nó lại
muốn tự lập làm vương à?”
Các mưu sĩ Trương Lương, Trần Bình giẫm vào chân Hán Vương, nhân đấy
ghé vào tai Hán Vương nói:
- “Nhà Hán hiện nay bất lợi, có thể cấm không cho Tín làm vương được
không? Chi bằng nhân đấy mà lập, đối xử với ông ta cho tử tế, khiến ông ta vì
mình mà giữ. Nếu không sẽ sinh biến.”
Hán vương nghe theo, liền sai Trương Lương đi lập Hàn Tín làm Tề Vương,
trưng dụng binh của ông đến đánh Sở.
Nghe tin Long Thư chết, Hạng Vương lo lắng sai Vũ Thiệp, người Vu Thai
đến nói với Tề Vương Tín (Hàn Tín), hãy phản Hán để chia ba thiên hạ nhưng ông
từ tạ rằng:
- “Tôi thờ Hạng Vương, quan chẳng qua là lang trung, địa vị chẳng qua
là cầm kích đứng hầu ở điện, lời nói ra không được nghe, mưu kế đưa ra không
được dùng, cho nên tôi bỏ Sở mà theo Hán. Hán Vương trao cho tôi ấn thượng
tướng quân, giao cho tôi mấy vạn binh, cởi áo của mình để cho tôi được dùng.
Cho nên tôi mới được như thế này. Phàm người ta hết sức tin cậy mình thành thực
như thế mà mình phản lại là điều chẳng lành. Tôi dù chết cũng không thay lòng
đổi dạ. Nhờ ông thưa lại với Hạng Vương rằng Tín nầy từ chối.”
Sau khi Vũ Thiệp đi rồi, người nước Tề là Khoái Triệt biết rằng thiên
hạ ai thắng ai bại là ở Hàn Tín, cũng ra sức thuyết phục ông cắt đất Tề, Yên,
Triệu để chia ba thiên hạ, tạo thế chân vạc. Nhưng ông nói với Khoái Triệt
rằng:
- “Vua Hán đối đãi tôi rất hậu, lấy xe của mình để cho tôi đi, lấy áo
của mình để cho tôi mặc, lấy cơm của mình để cho tôi ăn. Tôi nghe nói “đi xe
người ta thì lo điều lo của người ta, mặc áo của người ta thì mang điều lo nghĩ
của người ta, ăn cơm người ta thì chết cho công việc của người ta”. Tôi lẽ nào
lại chạy theo lợi mà quên nghĩa?
Khoái Triệt cố phân tích mọi lẽ để thuyết phục, ông nói thêm mấy lần
nữa cũng không lay chuyển nổi vì Hàn Tín không nỡ phản lại Nhà Hán. Ông lại tự
cho rằng mình lập được nhiều chiến công, vua Hán dẫu sao cũng không lấy mất
nước Tề của mình, nên ông bèn từ tạ Khoái Triệt. Khoái Triệt nói không được,
bèn giả điên, làm người thầy cúng.
Sau hoà ước Hồng Câu, năm 202 TCN, Hán vương theo kế của Trương Lương,
bội ước mang quân đánh úp Hạng Vương, nhưng vẫn bị Hạng Vương quay lại đánh cho
đại bại ở Cố Lăng. Lưu Bang lo sợ, bèn theo kế của Trương Lương, triệu Hàn Tín
cùng Bành Việt mang quân về giúp, hứa sẽ phong cho nhiều đất.
Hàn Tín cùng Bành Việt nghe theo, đem binh họp nhau với Hán vương ở Cai
Hạ. Hạng Vương thấy quân Hán ngày càng đông, biết không thắng được, bèn hạ lệnh
quay về phía đông rút về Bành Thành. Hàn Tín đem quân tập kích quân Sở giữa
đường, Hạng Vương tức giận đem quân quay lại. Hàn Tín giả rút lui, trên đường
đã đặt sẵn quân mai phục khắp các mặt. Hạng Vương không biết là bẫy, đi đến đâu
cũng bị quân Hán đổ ra tập kích, không sao thoát được, cuối cùng thì phải rút
vào Cai Hạ. Mấy mươi vạn quân Hán siết chặt vòng vây, quân Sở bị vây kín mười
mặt.
Theo kế Trương Lương, Lưu Bang cho quân Hán bốn phía cùng ca bài ca
nước Sở (tứ diện Sở ca). Quân Sở nghe tiếng hát, nghĩ là Sở bị Hán chiếm rồi,
bèn đào ngũ trốn đi hết. Ái thiếp của Hạng Vương là Ngu Cơ tự sát, Hạng Vương
cùng 800 thân binh phá vây, đến bờ Ô Giang thì chỉ còn 26 người. Có người đình
trưởng chờ ở bờ sông muốn đưa Hạng Vương qua sông về Giang Đông nhưng Hạng
Vương từ chối rồi cùng 26 kỵ binh bỏ ngựa tử chiến. Hạng Vương một mình giết
mấy trăm người, chịu mười mấy vết thương, cuối cùng đâm cổ tự sát. Tây Sở diệt
vong.
Sau khi Hạng Vũ đã bị phá, Lưu Bang lập tức đoạt lấy quân của Tề Vương Tín
(Hàn Tín) lần thứ hai (lần trước ở thành Tu Vũ).
Hàn Tín vừa lập được công xong lập tức bị tước binh quyền. Tới tháng
giêng năm 202 TCN, Lưu Bang dời Tề Vương Tín làm Sở Vương, đóng đô ở Hạ Bì. Lưu
Bang lên ngôi hoàng đế, lập ra vương triều Đại Hán, tức là Hán Cao Tổ. Nhà Hán
trị vì 400 năm.
Năm ấy, mọi chuyện đã ổn định. Hàn Tín
về quê thăm lại bà Phiếu Mẫu, người mà trước đây đã cưu mang Hàn Tín thuở còn
hàn vi, từng cho cơm Hàn Tín trong cơn đói khát.
Hàn Tín bèn xây nhà, tặng châu báu,
tạo vườn tượt, cung cấp ruộng đất, người hầu và nguyện chăm sóc Phiếu Mẫu đến
cuối đời.
Hàn Tín truyền gọi tên hàng thịt ngày
trước bắt mình lòn trôn giữa chợ đến ban truyền:
- Nhờ trước kia nhà ngươi bắt ta lòn
trôn giữa chợ, mà hôm nay ta trở thành Đại Tướng. Ta rất cám ơn ngươi. Bây giờ
ta ban cho nhà ngươi chức Huyện Lệnh (Quận trưởng) ở đây.
Tên hàng thịt lúc đầu nghe Hàn Tín gọi
đến run như cầy sấy, đến khi nghe Tín ban cho chức Huyện Lệnh như mở cờ trong
bụng, liền dập đầu lạy tạ và nhận lịnh lên đường.
Quán Anh thấy vậy can:
- Một kẻ ngu dốt chuyên làm nghề thịt heo.
Nó biết gì, sao Đại Tướng lại bổ nhiệm làm quan?
Hàn Tín cười, đáp:
- Chỉ trong một thời gian nữa, Tướng
Quân sẽ biết ý định của ta.
Vốn kẻ ngu dốt, học hành không qua chữ Nhất (一) gặp thời bỗng nhiên được phe phái nâng lên làm quan, có uy quyền, ăn trên ngồi trước, bỗng lộc ngày ngày… Tân Huyện lệnh (tên hàng thịt) rất hách dịch, tha hồ giở thói tham lam, hiếp đáp bốc lột đất đai, tài sản dân lành.
Người có học hành, đạo đức làm quan
thường có liêm sỉ, biết nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Còn bọ ngu dốt như tên đồ tể
được làm huyện lệnh chi hại dân, hại nước mà thôi.
Mấy tháng sau, Hàn Tín đến huyền đường
do tên hàng thịt làm huyện lệnh thanh tra sổ sách, phát hiện hắn ta vơ vét của
dân từ bãi cứt khô đến ngoại viện do chánh quyền trung ương rót xuống cứu trợ
thiên tai, bão lụt cho dân, hắn ta đều đớp hết cho vào túi riêng.
Chiếu theo phép nước, Hàn Tín ra lịnh
xử tử, tịch thâu tất cả tài sản của tên huyện lệnh ngu dốt hàng thịt kia sung
vào công quỹ
Trên đường về Quán Anh sực hiểu ra,
bật cười sang sảng. Hàn Tín ngạc nhiên hỏi:
- Sao Tướng Quân lại cười?
Quán Anh, đáp:
- Tôi cười vì khâm phục sự… trả thù
hết sức tuyệt diệu của Nguyên Soái.
Hàn Tín vờ không hiểu:
- Tướng Quân nói ta trả thù? Vậy ta
trả thù ai?
Quán Anh nói:
- Suốt cuộc đời vào chinh ra chiến,
lẫy lừng cùng trận mạc, Ngài thừa hiểu rằng, bọn bất tài vô tướng khi chúng có
chức có quyền bao giờ cũng có lòng tham vô độ. Với một gã bán thịt, kẻ mà trước
đây bắt Ngài lòn trôn giữa chợ, khi Ngài làm Đại Tướng, muốn giết nó lúc nào
không được? Nhưng giết nó lúc đó, người đời sẽ thấy Ngài chú tâm trả thù cá
nhân, nên Ngài ban cho nó chức huyện lệnh, để người người nhìn vào cứ tưởng đó
là tấm lòng vị tha, đức độ, bao dung của Ngài. Nhưng thực ra, Ngài biết những
kẻ ngu dốt như tên hàng thịt kia khi có chức có quyền sẽ lộ rõ chân tướng tham
lam của công, cướp bốc tài sản, đất đai dân nghèo, lúc đó Ngài nhân danh pháp
luật trị tội nó. Giết nó mà được danh chánh ngôn thuận. Chẳng ai dám nghĩ Ngài
giết nó để trả thù riêng.
Hàn Tín cười to, nói:
- “Ôi, sanh ta ra là cha mẹ, hiểu ta
là Quán Anh. Ta rất khâm phục cái trí của Tướng Quân!”
Quán Anh chấp tay xá ba xá đáp lễ, rối
nói:
- Cái trí của kẻ nầy chỉ là cái trí
của giống chim sâu, chim sẻ. Cái trí của Nguyên Soái là cái trí của giống Đại
Bàng, của chim Hồng chim Hộc. Quán Anh nào dám sánh? Nào dám nhận lời khen của
Ngài! Có điều không bóng tối nào được ánh quang rọi đến mà không sáng. Tiểu
nhân được như ngày hôm nay chẳng qua là nhờ được đứng dưới vầng nhật nguyệt mà
thôi!
***
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét