- Thi sĩ -thiền sĩ Huyền Quang
- NINH HẠ
Đọc tiểu sử các thiền sư, riêng Huyền Quang sao gần gũi và thân tình. Trước mắt như thấy một thiền sư già chậm, chống gậy trúc với nụ cười chân chỉ thật thà. Một hình ảnh rất siêu thoát mà lại cũng rất dễ thương. Thú vị khi đọc thơ của sư. Quả thật “Khí chất núi rừng khói ráng thể hiện trong văn từ”.
Thiền sư Mãn Giác đời Lý nổi tiếng với bài thơ thiền mà bao nhiều người thuộc, ít nhất là hai câu cuối. “Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một nhành mai” (Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai). Thật ra Mãn Giác, một thiền sư đọc bài kệ này khi lâm bệnh trước khi mất để truyền pháp cho đệ tử. Sư Mãn Giác không làm một bài thơ, không là thi sĩ. Nhưng bài kệ có cả thiền vị và thi vị nên được yêu thích như một bài thơ thiền tuyệt hay. Vậy thì Thiền sư và thi sĩ trong phút giây xuất thần sáng tạo, tuy mức độ có khác, chừng mực nào đó có điểm tương cận chăng? (Đây là nói thi sĩ thứ thiệt. sáng tạo thơ chứ không phải làm thơ bằng cách ghép chữ ép vần cho đủ bài).
Thiền sư Huyền Quang thì ngược lại, sư làm thơ như là một thi sĩ, nhưng nhiều bài lại mang thiền tính của một bài kệ. Cho nên gọi Huyền Quang (hay Tuệ Sĩ bây giờ) là thi sĩ -thiền sư hay thiền sư -thi sĩ đều được. Sư làm rất nhiều thơ, nhất là giai đoạn tu trên Yên Tử. Những bài trích đăng sau đây do Nhất Hạnh dịch.
| AM YÊN TỬ
Am cao trên đỉnh lạnh
Cửa mở mây từng không Long Động trời đã tỏ Hồ Khuê nước còn băng Văn chương không kế sách Gậy chống thân gầy còm Hầu hết chim rừng Trúc Là bạn của nhàn tăng | YÊN TỬ SƠN AM CƯ
Am bức thanh tiêu lãnh
Môn khai vân thượng tằng Dĩ can Long động nhật Do xích Hồ khuê băng Phù suy hữu sấu đằng Trúc Lâm đa trúc điểu Quá bán bạn nhàn tăng |
| NGỦ TRƯA
Mưa tạnh khe núi tĩnh
Ngủ mát dưới rừng phong Nhìn lại cõi nhân thế Mắt mở vẫn say nồng | NGỌ THỤY
Vũ quá khê sơn tịnh
Phong lâm nhất mộng lương Phản quan trần thế giới Khai nhãn túy mang mang |
| HỎA LÒ
Củi hết, lò còn vương khói nhẹ
Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo Thiên hạ cười ta, cứ mặc tình | ĐỊA LÔ TỨC SỰ
Ôi dư cốt đột tuyệt phần hương
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương Thủ bả suy thương hòa thái thác Đồ giao nhân tiếu lão tăng mang |
Thơ về hoa cúc của Thiền sư Huyền Quang phải được kể là một trong những bài thơ hay của thi ca Việt Nam. Nhiều ý thơ và hình ảnh được tìm thấy trong thơ bây giờ. Thơ dài nên chỉ trích đoạn.
HOA CÚC
Buông thân buông thế, thảy đều buông
Thiền tọa giờ lâu lạnh thấm giường
Trong núi năm tàn không có lịch
Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương
Năm năm nở đúng tiết Thu qua
Gió dịu trăng trong ý mặn mà
Cười kẻ không hay hoa huyền diệu
Khi về, mái tóc giắt đầy hoa
Người ở trên lầu hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm, khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa là một
Giữa vùng hương sắc lộ hình dung…
CÚC HOA
Vương thân vương thế dĩ đô vương
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật
Cúc hoa khai xứ tức Trùng dương
Niên niên hòa lộ hướng thu khai
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ
Mãn đầu tùy đáo tháp quy lai
Hoa tại trung đình nhân tại lâu
Phấn hương độc tọa tự vong ưu
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu
…
Kết
Yên Tử chỉ đến một ngày mà suy tư vương vấn mãi đến nhiều tháng sau. Lật trang sử xưa, lồng lộng đất nước huy hoàng ngày tháng cũ. Nhìn cảnh điều tàn hoang phế hay lố lăng diêm dúa của chùa lăng, tôn miếu, không phải ở đây mà cả nhiều nơi đã đi qua trên miền bắc, khó ngăn được luyến tiếc bùi ngùi hồn thu thảo.
Yên Tử là dấu tích của hai triều đại Lý Trần.
Lý,Trần, với những vị vua Phật Tử, dựa trên Bi Trí Dũng của Phật Giáo cùng với Nhân Trí Dũng của Nho Giáo, xây dựng những triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc. Giáo sư Trần Quốc Vượng trong tác phẩm “Trong Cõi”, (được phổ biến rất hạn chế ở hải ngoại và bị cấm ở trong nước), cho rằng. “Các vua đầu triều Lý hay Trần là những vua thân dân, gần gũi và thông cảm với dân chúng”. Thêm nữa. “Thời Lý Trần, đường lối tư tưởng chung của vua chúa triều đình là dung hợp, điều hòa và dung hòa Tam Giáo, Phật Nho Đạo”
Hầu hết các vua hai triều là những minh quân, làm cho tổ quốc hùng mạnh, phát triển rực rỡ về cả văn hóa, nghệ thuật, pháp chế, pháp luật. Nhân dân no ấm hạnh phúc. Và quý nhất là xã hội ổn định, hòa hợp. Thời gian thịnh trị kéo dài mấy trăm năm. Không phải một sớm một chiều. Cũng theo Giáo sư Trần Quốc Vượng. “Sang thời Lê rồi thời Nguyễn, triều đình vua chúa trở nên độc tài hơn về mặt tư tưởng, (dưới chế độ cộng sản thì lại quá tệ), chỉ muốn độc tôn Nho học, lấy Nho học làm tư tưởng chính thống. Thì quả thật từ đấy trong nước hiện ra cảnh lưỡng phân văn hóa, hiện ra hai trào lưu tư tưởng; tư tưởng khai phóng (Tam Giáo),và tư tưởng bế quan (Tống Nho).”
Bên cạnh sự nghiệp đó, cũng có nhiều điều tiêu cực mà các người viết sử, Nho gia, đặc biệt là Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Ngô Thì Sĩ, Ngô thì Nhậm, Ngô Sĩ Liên…có lời phê phán rất nghiêm khắc.
Nhiều phán xét có luận cứ và rất đúng. Tuy nhiên nếu cho rằng vì quá lạm dụng Phật giáo mà suy vong thì cần xét lại. Các triều đại, hay nói chung mọi việc, hễ có bắt đầu thì có chấm dứt. Đây là lý vô thường trong quan niệm Phật giáo. Và Lão Tử với “Luật phản phục” cũng cho rằng, trong vũ trụ vật gì phát đến cực điểm thì phản lại, Có tăng tất có tổn. Trăng tròn lại khuyết. Xuân tàn, Hạ đến, Thu lại, Đông qua. Tần Thủy Hoàng lấy pháp trị dân, độc ác vô nhân, cũng chỉ tồn tại hơn mười năm. Hàng ngàn triều đại Đông Tây kim cổ, có triều đại nào bất diệt với thời gian!
Chiến tranh đã qua đi hơn ba mươi năm. Đất nước không còn phân cách lãnh thổ mà lòng người Việt từ trong nước cho đến khắp nơi còn quá nhiều ngăn cách và hận thù. Gạt qua lớp bụi mù ảo tưởng phồn hoa thành thị, chốn làng quê đến nay muôn thuở vẫn nghèo, vẫn thiếu hụt trăm bề. Quê nhà quanh năm thiên tai khốn đốn mà “nhân tai” lại quá ê chề. Giang sơn gấm vóc đang bị giặc Tàu lấn chiếm. Ải Nam quan địa đầu tổ quốc đã bị cắt dâng. Trường sa, Hoàng sa bị cưỡng đoạt. Biển đông ranh giới Hoa Việt cũng không còn. Toàn dân ức nghẹn!
Đứng trên đỉnh cao Yên Tử trong sương chiều mây núi lãng đãng, nghe vang vọng. “Trần Nhân Tông. Tổ quốc cần ngài.”
Tham khảo và Trích dẫn
–Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục
Viện Sử Học dịch. Hà Nội 1998
-Đại Việt Sử Lược.
Khuyết danh Nguyễn Gia Tường dịch. Tp HCM 1993
-Việt Sử Tiêu Án.
Ngô Thời Sĩ Văn Hóa Á Châu dịch. Sài Gòn 1960
-Sử Trung Quốc.
Nguyễn Hiến Lê. Tp HCM 2006
-Sử Ký Tư Mã Thiên
Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi dịch. Sài Gòn 1968
-Việt Nam Phật Giáo Sử Lược.
Thích Mật Thể Nhà XB Tôn giáo tái bản 2004
-Việt Nam Phật Giáo Sử Luận.
Nguyễn Lang. Văn Học Hà Nội 1979
-Vua Trần Nhân Tông. Cuộc đời, tác phẩm, sự nghiệp.
Lê Mạnh Thác. Học viện PGVN -Kỷ Mão
-Thiền Uyển Tập Anh.
Kim Son. Lê Mạnh Thác dịch. VĐH Vạn Hạnh 1976
-An Nam Chí Lược.
Lê Tắc. Viện ĐH Huế dịch và XB 1961
-Đại Việt Sử Ký Tiền Biên.
Ngô Thời Nhậm Viện NC Hán Nôm. KHXH Hà Nội 1997
-Trong Cõi.
Trần Quốc Vượng Trăm Hoa. Hoa kỳ 1999
-Con Đường Tơ Lụa.
Xa Mộ Kỳ. Nguyễn Phổ dịch. NXB Trẻ 1999
-Trang Mạng:
-Thiền Tông Việt Nam.
-Thư Viện Hoa Sen
Advertisements

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét