Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Ảnh Võ Thạnh Văn

  • Mặc áo Bụt ở với ma
  • NINH HẠ

Sử thần Ngô Thời Sĩ nhận xét về Huyền Quang. “Cuộc đời của sư đạm bạc giản dị đơn sơ”. Khi trú trì ờ chùa Hoa Yên kế tục Pháp Loa, hàng nghìn tăng ni theo học. Ngoài việc in kinh, lập chùa, sư nổi tiếng nhân đức vì việc làm bố thí. Từ thượng quan đến cùng đinh dân dã đều ngưỡng mộ đạo hạnh của sư. Không ai nghi ngờ. Trừ một: Trần Anh Tông.

Nếu những việc khác trong sự nghiệp trị nước, vua được cho là sáng (minh) nên được liệt vào hàng minh quân. Nhưng trong nhiều việc làm khác, đặc biệt cho cung phi vào núi dụ dỗ để thử Huyền Quang lúc sư đã 60 tuổi thì rõ ràng ông có hành động ấu trĩ nông nổi của một u (tối) quân. Một dạng thức bệnh tâm lý.
Về nhà Trần, các nhà sử học cho rằng, một trong những điều rất hay là chế độ vua cha nhường ngôi cho con, lui về làm thượng hoàng. Như vậy vua trẻ có thời gian thực tập công việc trị nước dưới sự cố vấn, giám sát và giáo dục nghiêm khắc của vua cha. Nếu không có việc này thì có lẽ nhà Trần đã nhiều phen mất ngôi. Một trong những ví dụ là trường hợp Trần Anh Tông.
Lúc đã lên ngôi, là vua lãnh đạo nước, Trần Anh Tông vẫn còn nhiều thói hư và việc làm bất xứng.
Việc thứ nhất. Đêm đêm cùng đám hầu cận, vua lẻn khỏi cung điện đi chơi la cà cho tới sáng. Có hôm bị côn đồ ném đá lũng đầu chảy máu. Nhờ đám lính hô lên “Nhà vua đấy!”, côn đồ bỏ chạy. Thoát nạn, vua mang đầu máu về cung. Thượng hoàng thấy hỏi… lắc đầu chặt lưỡi.
Việc thứ hai. Thượng Hoàng ở phủ Thiên Trường về cung để “kiểm tra bất thần”, không thấy vua con ra nghênh đón. Chờ đến bữa cơm dọn ra, vua cũng biệt tăm. Hỏi ra mới biết vua uống rượu quá say ngủ mê mệt, đánh thức cũng không tỉnh lại được. Thượng hoàng giận lắm quay về đã muốn phế bỏ, cho lệnh các quan hôm sau đến “trình diện”. Khi tỉnh rượu nghe nói, vua bủn rủn tay chân, không kịp đem theo quân hầu, vừa đi vừa chạy đến lạy cha xin tạ tội. Trên đường đi, bối rối suy nghĩ chưa biết phải ăn nói giải thích làm sao với thượng hoàng thì gặp học sinh thất nghiệp Đoàn Nhử Hài đang đi lất phất. Vua nói qua chuyện mình. Nhử Hài phóng bút viết lời trần tình. Vua cho đi theo và đẩy đi trước đến quỳ gối đội đầu dâng sớ. Thượng hoàng không tiếp. Trời bỗng mưa to gió lớn, Nhử Hài đánh nước lỳ, tiếp tục quỳ.
Thượng Hoàng vốn là Phật sống, động lòng phải tiếp đọc. Đọc tờ biểu xong hết giận. Gọi vua vào quở trách và hỏi tác giả của bài văn. Vua thành thật khai báo. Thượng hoàng biết Nhử Hài là kẻ có tài, từ đó trọng dụng. Vua thoát tội bị phế truất. Phong ngay cho vị cứu tinh non choẹt mới 20 tuổi, miệng còn hơi sữa, làm Ngự Sử Trung Tán và từ đó trở thành một cận thần thân tín và đảm nhận nhiều trọng trách, rạng rỡ lưu danh. Vua ăn năn và thề bỏ rượu. (Miệng còn hôi sữa là chữ do các quan trong triều nhạo báng Nhử Hài. Lấy theo câu, Khẩu tồn nhũ xứ, mà vua Hán Cao Tổ chê Bá Trực, tướng của Ngụy là trẻ con)
Việc thứ ba. Tổ tiên nhà Trần vốn là người Phúc kiến Trung quốc, sang Việt Nam chuyên nghề đánh cá. Vì thế có cổ tục xâm mình. Tục này xưa thì rất phổ biến trong nhân gian sau này không còn, chỉ còn lưu truyền trong dòng dõi hoàng tộc nhà Trần. Tất cả vua kế nghiệp đều xâm hình rồng trên bắp đùi. Hôm Thượng Hoàng đến để chứng kiến việc này thì vua Trần Anh Tông né đi chỗ khác. Thượng Hoàng biết ý lờ luôn. (Hay Thượng hoàng đã muốn dẹp từ lâu mà chưa có cớ). Kể từ đó tục này được bãi bỏ.
Chính sử sau này ca tụng vua Trần Anh Tôn đã có một hành động cách mạng cải cách hủ tục. Nhưng nên coi lại. Vua vốn ham đi chơi đêm bên ngoài nên giấu giếm tông tích cho dễ bề trác táng. Có lần đã bị ném đá bể đầu may chúng biết là vua nếu không thì đã vỡ sọ. Bằng lòng cho xâm hình rồng trên bắp đùi thì chốn ăn chơi khi trần truồng làm thế nào che dấu tông tích mình là vua. Vì thế Trần Anh Tông phải né cũng là điều dễ hiểu.
Việc thứ tư. Trần Anh Tông dự phần trong việc làm cho Phật giáo thời cuối Trần đi lệch con đường chính đạo để nhuốm nhiều yếu tố mê tín dị đoan. Anh Tông cho phép đạo sĩ Tồn Đạo từ Trung Quốc đến lưu trú và hành nghề phù thuật. Phù thủy, phù chú, cầu đảo… bắt đầu từ đây.
Lại nữa. Một tăng sĩ Lạt Ma Giáo người Hồ (Tây tạng?) tên là Du Chi Bà Lam với nhiều phép thuật đã đến và phổ biến bùa chú huyền bí mê tín. Áp dụng lệch lạc mật tông. Ông được vua Trần Anh Tông ưu đãi. Ở lại Thăng Long và chết tại đây. Tại sao ông được nâng đỡ như vậy? Đơn giản. Vua thấy con gái của ông thầy Tây tạng này là Da La Thanh đẹp nên sung vào hậu cung!
Việc tệ nhất. Sai cung nữ thị Bích vào chùa trong núi sâu Yên Tử dụ dỗ ngài Huyền Quang.
Trần Anh Tông là một vị vua giỏi. Nhưng từ thuở trẻ đã ham mê tửu (sau này đã bỏ) nhưng ham mê sắc dục thì đến chết chắc cũng không chừa. Thấy một Huyền Quang, lúc trẻ có tài có chức trọng, lại một mực khước từ xa lánh mọi quyến rũ của nữ giới, kể cả công chúa, vào chùa đi tu. Khó tin được. Chẳng qua là chưa gặp người gặp cảnh. Huyền Quang hay Anh Tông đều là chúng sinh như nhau. Phải đánh đổ thần tượng để cho mình không còn mặc cảm Bụt và ma.
Trần Anh Tông ban cho Huyền Quang vàng có dấu ấn. Sai thị Bích vào chùa tu để quyến rũ sư cụ Huyền Quang lúc này đã 60 tuổi (quá tội lỗi) để lấy vàng này đem về. Thị Bích thấy ngài đạo hạnh trang nghiêm tôn kính không thi hành mưu kế được. Về tay không thì đắc tội với vua. Thị Bích khóc lóc kể lể gia cảnh lâm nguy. Cha là tri huyện thâu thuế bị cướp nếu không bù lại sẽ bị hành tội. Nghe lời bàn của tăng ni, sư đem cho vàng. Thị Bích đem về khoe với vua đã thành công mỹ nhân kế. Nhưng Anh Tông sau giây phút nông nỗi đã hối hận. Khi mọi việc sáng tỏ, vua mở hội mời sư về làm lễ và tạ tội.
Thiền sư Hiện quang trước đây vì bị nghi oan phải vào núi tu. Huyền Quang đang tu trong núi, vua và thị Bích mưu đem oan tới, Sư chạy đi đâu?
Sư chưa hề biện bạch, như lời thơ của sư viết. “Tay cầm dùi mõ tay nâng sáo. Thiên hạ cười ta cứ mặc tình. Thủ bả suy thương hòa thái thác. Đồ gia nhân tiếu lão tăng mang”. Nhưng mãi gần năm trăm sau, năm Tân Mùi (1751), dưới triều Lê, chánh tiến sĩ đốc trấn Ngô Thì Sĩ, nhà trí thức, người viết và phân tích sử sắc bén, đã soạn lời giải thay cho sư mang tựa đề “Huyền Quang hành giải”. Xin trích một vài luận cứ ngắn.
“Việc làm ra mà mọi người giống nhau, nếu có người khác liền nghi. Còn lời nói ra mà mọi người không giống nhau, nếu có người chủ trì thì tin”.
“Nay tôi sống cách xa sư không biết mấy trăm năm. Nghĩ đến việc giải quyết những nghi ngờ do miệng ngoa truyền của thế tục há không thể đem gia phổ, thi ca của sư để làm công án ư?”. “Khí chất núi rừng khói ráng thể hiện trong ngôn từ. Con người đạm bạc giản dị đơn sơ, tưởng cũng có thể thấy được. Thì đâu có cái chuyện nói năng không gốc gác như thế tục ngoa truyền?” “Sự việc của sư đã rõ ràng, thì chuyện mâm tỏi thành đồ chay trở nên vớ vẩn. Nhà vắng đem ra mà xét lại, thì có thể nói rằng: vua Trần nhiều lần sai thử sư mà sư không thể phạm…”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét