Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Ảnh Võ Thạnh Văn

Yên Kỳ Sinh.
Tăng nhân hay Đạo Sĩ


NINH HẠ
Yên Kỳ Sinh đến Yên Tử tu luyện lúc nào?
Có nhiều người vẫn còn không đồng ý về việc Yên Kỳ Sinh là một sư tăng hay là một đạo sĩ. Cho rằng Dược Am, Thung Am dấu tích Am thuốc và Am luyện thuốc ở trên ngọn Tử tiêu, chẳng qua cũng chỉ là sản phẩm tưởng tượng, không là bằng chứng cụ thể để xác quyết ông là đạo sĩ. Lại nữa Yên Kỳ Sinh tu đạo ở Phổ Đà Sơn, chuyện trò thâu ngày thâu đêm với Tần Thủy Hoàng, ai cấm ông đến Yên Tử để thiền định và giác ngộ Phật tánh.

Bằng chứng? Hiện nay trong vùng có chùa Yên Kỳ để thờ ông. Chùa để thờ Phật, tăng, tổ, đâu có thờ đạo sĩ. Xin trả lời. Đừng nói chuyện cả mấy ngàn năm về trước, bây giờ mời về Việt Nam. Một ngôi chùa to nhất từ xưa đến nay, đang xây cất với nhiều tai tiếng bất bình đến phẫn nộ ở Bình Dương, thờ ông Hồ Chí Minh cùng với Phật. Chùa Tây Phương, không xa Hà Nội, nơi có những tượng gỗ La Hán tuyệt đẹp với nghệ thuật điêu khắc thần kỳ, khách thăm cũng dị ứng khó chịu thấy hình Hồ Chí Minh lạc lõng trên bàn thờ tổ, rất khó coi. Rất nhiều chùa trong nước hiện nay thờ ông Hồ. Ông Hồ là tăng hay tổ?
Yên Kỳ Sinh không thể là một tu sĩ Phật giáo. Rõ ràng ông sống vào đời Tần hay thọ lắm cũng đến đầu thời Tiền Hán. Phật giáo lúc đó chưa có mặt tại Trung quốc. Nhà Tần và các vua đầu nhà Hán rất tôn sùng Lão giáo và Đạo Giáo. Phật giáo đến Trung Quốc vào khoảng thời Hán Đế, đầu tây lịch (6 BC). Đến đời Minh Đế (67 BC) hai tăng nhân Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đã cỡi ngựa trắng, theo Đường Tơ Lụa, từ Ấn Độ mang kinh sách đến Trung Quốc. Việc này ứng với giấc mộng của Minh Đế, nên vua cho dựng chùa Bạch Mã để tạ ơn và thờ Phật. Chùa đó đến nay vẫn còn. Lại nữa. Từ Phật cho đến tổ, khi đã chứng ngộ thì trở lại thế gian để giáo hóa quần chúng. Ít có ai đạt đạo rồi phiêu diêu hưởng nhàn tiên cảnh bặt tăm như đạo sĩ.
Yên Kỳ Sinh có tới tu ở ngọn Tử Tiêu thì ông đến đây vào khoảng thế kỷ thứ ba trước tây lịch. Đó là lúc Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc mang quân đánh chiếm Bách Việt vì hám ngọc ngà châu báu. Đặc biệt là ngọc trai và ngọc cơ, loại ngọc không tròn. Nước Tàu thời đó còn ở miền Bắc Trung hoa bây giờ, dọc theo sông Hoàng Hà. Bờ biển thấp lầy lại lạnh nên không có trai ngọc như các nước ở vùng biển ấm phía nam như Việt Nam, Nhật. Sau này Thái thú Tô Định cũng bắt dân xuống biển mò ngọc, dân ta thù oán theo hai Bà Trưng nổi lên đánh giết. Bách Việt nay là Chiết Giang, Quảng Đông, Quảng Tây và một phần miền Bắc nước ta (Nước Âu Lạc thời An Dương Vương). Đồ Thư sau đó bị nghĩa quân nước ta giết chết.
Khi Tần Thủy Hoàng mất, con nối ngôi, là Nhị Thế Hoàng Đế. Triệu Đà dẫn quân đến nước ta. Cùng với đoàn quân xâm lược, có thêm nửa triệu dân Tàu bị lưu đày. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, người Trung quốc rầm rộ đến địa bàn nước ta với mưu đồ Hán hóa như họ đã thành công với Hung Nô, rợ Hồ ở phương Bắc. Nhờ đó, Trung quốc mới có được lãnh thổ bao la và hơn một tỉ dân cư như bây giờ. Trước đó và mãi lâu về sau, miền đất phương Nam và cư dân ở đây họ xem như “Man di” mọi rợ, núi non cách trở, ít có người mạo hiểm tới.
Triệu Đà đóng quân ở Tiên Du, Bắc Giang. Vùng núi Yên Tử bây giờ. Nếu An Kỳ Sinh có mặt trong đợt di dân này thì ở ngay đúng vùng Yên Tử. Nhân lúc nhà Tần bị diệt, Triệu Đà tự phong là Nam Việt Vương. Sau đó, Đà đánh bại An Dương Vương của Âu Lạc. (Truyền thuyết chuyện tình bi lụy Mỵ Châu -Trọng Thủy, thành Cổ Loa, thần Kim Quy và nỏ thần). Nước ta bị Bắc thuộc lần thứ nhất. Triều đại này kéo dài qua đến đời nhà Hán. Đây cũng là thời gian quan dân người Hán với nhiều lý do khác nhau đến nước ta. (Trong đó có Yên Kỳ Sinh?)
Yên Kỳ Sinh chắc chắn là người không những giỏi về thuốc mà còn rất giỏi phong thủy. Khi đến nước ta thấy ngọn Tử Tiêu thì biết ngay đây là linh địa. Bởi thế cũng có truyền thuyết, ông đem theo xương cốt của cha đến chôn ở đây, nhưng bị sét đánh bật mồ. (Thổ địa Việt Nam không cấp hộ khẩu cho người Hán!) Không chỉ riêng Yên Kỳ sinh, ta còn đọc thấy trong Bắc thành địa dư chí lục. “Núi Yên Tử… Long mạch chi tả bổ xuống các núi ơ Hải dương…”. Lại nữa, Lý Tư Thông trong Hải Nhạc Danh Sơn Đồ đời Tống (1049-1053), cho núi này là “một trong bốn đất phúc của Giao Châu… Trên núi (Tiên) có chùa Hoa Yên, gọi Tử tiêu, lại có khe Giải Oan, tên Long hàm, khéo léo thanh vắng, thật là nơi bồng đảo của thiên nhiên…”. Lý Tư Thông ghi lại.
Tân kỳ chóp núi nêu vài nụ 
Yểu điệu hình khe trổ một ngành 
Tiên cởi loan qua ngôi cảnh tịnh
Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh.
(Ban Sử Liệu VĐH Huế dịch)
Tóm lại. Yên Kỳ Sinh đến Yên Tử vào khoảng thế kỷ thứ ba trước tây lịch. Ông không trường thọ để đến trễ hơn. Ngay cả Lão Tử (Họ Lí tên Nhỉ), tổ sư của Lão giáo, theo truyền thuyết cũng chỉ thọ 150 tuổi (điều này tin được, hiện nay có người thọ cũng xấp xỉ tuổi này).
Yên Tử của Việt Nam thật sự là một linh địa. Đạo Sĩ và Tăng tổ tu ở đó nhiều người đắc đạo. Có một điều lý thú cả hai đạo sĩ cuối đời đều về đất Phật. Lão Tử cuối đời cũng tuyệt tích, có truyền thuyết cho rằng ông về Tây phương, đất Phật.
Bàn thêm.
Sách sử của ta đều chép Tần Thủy Hoàng hám châu báu mà xua quân đánh chiếm Bách Việt. Điều này khó chấp nhận được. Một hoàng đế thao lược, tóm thâu thiên hạ như Tần Thủy Hoàng, bên cạnh lại có thêm những quân sư pháp gia lừng lẫy như Hàn Phi, Lý Tư, không lẽ xua gần một triệu quân và thứ dân sang nước ta chỉ vì… hám ngọc. Hành động chiếm nước ta nhất định trong kế hoạch bành trướng lãnh thổ về phía nam đến tận vùng Đông Nam Á. Mở đường biển giao thương mua bán với Ân Độ, Ba Tư, La Mã, Hy Lạp, để trao đổi tơ lụa rất nổi tiếng của họ.
Vào thời bấy giờ, vì miền Bắc Trung quốc địa thế núi non hiểm trở, sa mạc mênh mông nắng cháy lại thêm các dân tộc Hồ khống chế nên chưa có Con Đường Tơ Lụa để nối kết với vùng Trung Á, Tây Á và vùng bờ đông Địa trung Hải. Con đường mà ngài Huyền Trang với hành trình Tây Du thần thoại hóa đã sang Ấn Độ để thỉnh kinh, dưới đời Đường. Con đường đã đưa Trung quốc tiếp cận các nền văn minh và văn hóa đa dạng khác ở miền tây vực. Con đường đã đưa Phật giáo, Thiên chúa giáo và cả Hồi giáo đến Trung Hoa. Sau cùng là con đường đã làm giàu cho các triều đại Trung Quốc. Con đường trọng yếu lịch sử, giao lưu đông tây được thế giới đặt tên là “Con Đường Tơ Lụa” (Tơ trù chi lữ. The Silk Road), được thành hình dưới thời Hán Vũ Đế, với sự đóng góp khai phá của Trương Khiêm (164-114 BC), nhà thám hiểm lừng danh và công lao hàng đầu trong lịch sử Trung Quốc.
Thiền Sư Hiện Quang. ?-1221
Vầng trăng thoáng mây che
Sau An Kỳ Sinh với nhiều truyền thuyết thần kỳ mập mờ hư ảo, một thiền sư Việt Nam mà cuộc đời cũng nhiều gian nan, hàm oan trắc trở, đã đến ẩn dật ở đây, tu hành, lập chùa Vân Yên và trở thành vị khai sơn của phái thiền Yên Tử.
Tên của sư trong Thiền Uyển Tập Anh thì ghi là Huyền Quang, những nơi khác thì ghi là Hiện Quang. Để tránh nhầm với Huyền Quang, tổ thứ ba Trúc Lâm Yên Tử sau này, nên ở đây gọi là Hiện Quang để phân biệt.
Sư Hiện Quang tên tục là Lê Thuần, quê ở Thăng Long. Mồ côi từ nhỏ, nên sinh năm nào không ai biết rõ. Thời ấu thơ của sư là những năm tháng gian khổ, đói rét và bơ vơ. Năm 11 tuổi, sư hết sức may mắn cả đời lẫn đạo khi được Thiền sư Thường Chiếu, là tổ thế hệ thứ 12 của thiền phái Vô Ngôn Thông, đang tu ở chùa Lục tổ (Đình Bản, Từ Sơn, Bắc Việt) đem về nuôi và nhận làm đệ tử. Vô Ngôn Thông, (759-826), người Trung Quốc quê ở Quảng Châu đến truyền pháp tại nước ta lập nên thiền phái lấy tên người. Ngài trầm hậu. Ít nói mà biết mọi chuyện. Im lặng mà rõ mọi việc. Người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông hay Bất Ngữ Thông.
Theo Thiền Tuyển Tập Anh. “Sư học vấn thông tuệ, một ngày học hàng vạn chữ, không đầy mười năm gồm thông tam học” (Tam học: Giới, Định, Tuệ). Có điều, kinh tạng thì thông suốt, nhưng cốt lõi của thiền môn, tuy cận kề với thầy thì rất ít chú tâm. Sư đã bỏ mất cơ duyên, khi kịp nhận ra thì Thiền sư Thường Chiếu đã mất. Sư lại phải khởi đầu hành trình tìm thầy học đạo. Tự trách. “Ta đây ví như con nhà giàu, lúc cha mẹ còn sống ăn chơi lêu lổng, đến khi cha mẹ chết thì mờ mịt ngu muội, không biết châu báu trong nhà nằm ở đâu, đến nỗi cuối cùng thành nghèo thiếu”.
Một sự việc xẩy ra đã làm thay đổi cuộc đời tu hành của sư. Theo sử sách còn ghi, sư là người có dung mạo đẹp đẽ lại ăn nói dịu dàng. Đạo hạnh của ngài được nhiều người ngưỡng mộ. Trong đó có cả vua và hoàng tộc. Đây âu cũng là nghiệp chướng. Công chúa Hoa Dương, con vua Lý Anh Tôn, thường hay đến cúng dường cho sư. Từ đó mà những lời đồn đãi hàm hồ vô căn cứ, phỉ báng bôi xấu, thổi phồng lan tràn.
Con người, ngàn năm trước hay vạn năm về sau vẫn thế. Vẫn tin vào lời đồn xấu, đồn nhảm. Nhất là đối tượng là người nổi tiếng, nổi danh, người được yêu kính. Nói tốt cho ai thì như gió thoảng qua tai. Nói xấu về ai thì chỉ một thoáng là loan truyền khắp xứ. Khi đã tin như thế rồi thì dù cho có ai trưng bằng cớ hay cải chính cũng chẳng đổi thay. Đố kỵ, ganh ghét là cội rễ. Phải chăng vì thế Tuân Tử từ xưa đã đúng khi cho rằng “Nhân chi sơ tính bản ác. Con người vốn tính ác”. Đối nghịch với “Nhân chi sơ tính bản thiện. Tính người vốn lành” của Khổng Tử và Mạnh Tử.
Trước sự việc đang xẩy ra, để cầu giác ngộ, sư bỏ chùa, lìa xa xóm làng thị tứ, đi vào tu trong vùng núi Uyên Trừng, Nghệ An. Trước khi đi vào nơi tịnh thất, lời của sư dầu đã hơn tám trăm năm qua, tưởng chừng như không phải nói cho riêng ngài, mà là chân lý đúng cho cả những hành giả đang bị hủy nhục hôm nay. “Phàm người được thế tục ngưỡng mộ tất không tránh khỏi bị hủy nhục. Nay ta là như thế sao? Và, con đường Bồ tát thì rộng lớn, còn Phập pháp thì vô lượng, kẻ sĩ giữ đạo trung dung còn nhiều khi phải buồn tẻ khóc thầm. Nếu như không dõng mãnh tự xét, dùng sự nhẫn nhục làm giáp trụ, lấy việc tinh tấn làm khí giới, thì làm sao tránh được ma quân, phá được phiền não, cầu được giác ngộ vô thượng.”
Kể từ đó sư không nhận lương thực cúng dường, mặc áo lá chân trần, sống chay tịnh thanh đạm cùng thú rừng thuần thục. Vua Lý Huệ Tôn rất cảm phục đời sống đạo hạnh thanh cao của sư, nhiều lần sai sứ giả đem lễ vật đến thỉnh sư về triều. Biết được nghiệp chướng trùng trùng nếu vướng vào sẽ khó đường giác ngộ, sư lánh mặt và nhắn tâu với vua. “Bần đạo sinh trên đất vua, ăn lộc vua, ở trong núi thờ Phật trải nhiều năm, mà công đức chưa thành, rất lấy làm thẹn. Nay nếu về thăm vua thì không những không có ích gì cho việc trị an, mà lại bị chúng sinh bài báng…”
Mây một lần đã qua, thoáng che trăng sáng, rồi cũng tan nhanh theo gió núi. Trăng lại vằng vặc soi. Chỉ một lần thôi, sư đã biết, đã lánh được oan khiên trần tục, tiếp nối đường tu.
Mùa xuân năm Tân Tỵ (1221). Sư tọa thiền trên phiến đá, truyền cho đệ tử Đạo Viên một bài thơ ngắn hai mươi chữ (Gọi là Kệ) gói trọn chân lý đạt ngộ. Rồi an nhiên thị tịch. Có nơi cho rằng sư mất an táng trong hang núi, không biết ở đâu. Nhưng sử sách ghi, cuối đời ngài lập chùa Vân Yên ẩn thân tu hành, truyền thừa cho tăng chúng, lập thiền phái tại Yên Tử. Như vậy ngài mất tại Yên Tử là điều đáng tin.
Bàn thêm.
1. Ai lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử?
Trong tác phẩm nghiên cứu về Trần Nhân Tông, Giáo sư Lê mạnh Thát ghi rằng. “Thông Thiền, lược dẫn Thiền phái đồ coi là người thành lập nên tông môn Trúc Lâm Yên Tử.” Nhưng, cũng trong cùng sách đã dẫn, một đoạn khác lại dựa vào Đại Nam Thiền Uyển Kế Đăng Lược Lục của An Thiền thì lại ghi 23 thiền sư liên tục trụ trì sơn môn Yên Tử, Hiện Quang là tổ thứ nhất, Trần Nhân Tông là tổ thứ sáu. Sau đó là Pháp Loa và Huyền Quang.
Cần làm sáng tỏ một vài điểm
  • Thông Thiền là đệ tử kế truyền Thiền Sư Thường Chiếu, thiền phái Vô Ngôn Thông. Hiện Quang vào tu ở núi Yên Tử, là sư sau cùng của phái này. Như vậy Hiện Quang mới là người tổng hợp ba dòng thiền Tì Ni Da Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo đường để hình thành Thiền Phái Yên Tử thay thế ba dòng thiền kia đã cùng suy tàn vào cuối thế kỷ 13. 
  • Vua Trần Nhân Tông, hiệu Trúc Lâm Đầu Đà là vị tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử. Pháp hiệu Trúc Lâm lại trùng với Trúc Lâm Quốc sư là tôn xưng của vua Trần Thái Tông cho Đạo Viên,tổ thứ hai của Yên Tử (Cũng là Viên chứng hay Phù Vân Quốc sư). Cho nên rất dễ nhầm lẫn. Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông mới là người được suy tôn làm Sơ tổ thiền phái mới mang tên của ngài với chủ trương nhập thế “Cư trần lạc đạo”. Như vậy Thông Thiền đã không phải là người sáng lập thiền phái Yên Tử, lại càng không thể là người sáng lập dòng Trúc Lâm Yên Tử được.
2. Vụ việc Công chúa Hoa Dương nằm trong mưu đồ chính trị cướp ngôi nhà Lý.
Sư Hiện Quang bị bôi nhọ vì cho rằng có tư tình với công chúa Hoa Dương không phải là chuyện nhỏ trong phạm vi cung đình. Nó được thổi phồng lan truyền có kế hoạch đến nỗi sử sách còn chép lại “Tiếng đời phỉ báng nổi lên như ong”.
Nhìn lại sự việc trong bối cảnh bi thảm những năm tại vị của vua Lý Huệ Tông để hiểu được vấn đề. Lý Huệ Tông có vợ là Trần Thị Dung, em gái họ của Trần Thủ Độ. Hai người tư thông, năm hết quyền hành trong triều và tiến hành âm mưu đoạt ngôi nhà Lý. Sư Hiện Quang là người có uy tín và ảnh hưởng trong giới hoàng tộc. Từ đại chúng, công chúa cho đến vua đều ngưỡng mộ. Đặc biệt là Lý Huệ Tông. Trong ý đồ chính trị, Trần Thủ Độ chắc hẳn muốn loại trừ Hiện Quang. Giết đi thì không được vì sợ phản ứng của dân chúng rất sùng đạo và quan trọng hơn là vì thế lực của giới tăng chúng. Hay nhất là triệt hạ uy tín của sư bằng thủ đoạn vu khống dựng chuyện Hiện quang và Hoa Dương. Một mũi tên bắn hai chim. Triệt hạ uy tín chỗ dựa tinh thần của vua, đồng thời kéo dân chúng về mình lên án đạo đức của công chúa, nói chung là bêu xấu dòng họ của vua nhà Lý.
Muốn hạ nhục một nhà sư không gì dễ hơn là loan truyền về quan hệ tình ái hay vợ con không rõ ràng. Thấy việc xưa mà ngẫm chuyện trước mắt. Ngàn năm sau không khác. Nhưng sự thật, cũng như ánh trăng và tia nắng, không thể phủ che.

Trần Thái Tông. 1225-1258

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét