Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Ảnh Võ Thạnh Văn

Thiền Sư Hiện Quang. ?-1221
Vầng trăng thoáng mây che
NINH HẠ


Sau An Kỳ Sinh với nhiều truyền thuyết thần kỳ mập mờ hư ảo, một thiền sư Việt Nam mà cuộc đời cũng nhiều gian nan, hàm oan trắc trở, đã đến ẩn dật ở đây, tu hành, lập chùa Vân Yên và trở thành vị khai sơn của phái thiền Yên Tử.
Tên của sư trong Thiền Uyển Tập Anh thì ghi là Huyền Quang, những nơi khác thì ghi là Hiện Quang. Để tránh nhầm với Huyền Quang, tổ thứ ba Trúc Lâm Yên Tử sau này, nên ở đây gọi là Hiện Quang để phân biệt.

Sư Hiện Quang tên tục là Lê Thuần, quê ở Thăng Long. Mồ côi từ nhỏ, nên sinh năm nào không ai biết rõ. Thời ấu thơ của sư là những năm tháng gian khổ, đói rét và bơ vơ. Năm 11 tuổi, sư hết sức may mắn cả đời lẫn đạo khi được Thiền sư Thường Chiếu, là tổ thế hệ thứ 12 của thiền phái Vô Ngôn Thông, đang tu ở chùa Lục tổ (Đình Bản, Từ Sơn, Bắc Việt) đem về nuôi và nhận làm đệ tử. Vô Ngôn Thông, (759-826), người Trung Quốc quê ở Quảng Châu đến truyền pháp tại nước ta lập nên thiền phái lấy tên người. Ngài trầm hậu. Ít nói mà biết mọi chuyện. Im lặng mà rõ mọi việc. Người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông hay Bất Ngữ Thông.
Theo Thiền Tuyển Tập Anh. “Sư học vấn thông tuệ, một ngày học hàng vạn chữ, không đầy mười năm gồm thông tam học” (Tam học: Giới, Định, Tuệ). Có điều, kinh tạng thì thông suốt, nhưng cốt lõi của thiền môn, tuy cận kề với thầy thì rất ít chú tâm. Sư đã bỏ mất cơ duyên, khi kịp nhận ra thì Thiền sư Thường Chiếu đã mất. Sư lại phải khởi đầu hành trình tìm thầy học đạo. Tự trách. “Ta đây ví như con nhà giàu, lúc cha mẹ còn sống ăn chơi lêu lổng, đến khi cha mẹ chết thì mờ mịt ngu muội, không biết châu báu trong nhà nằm ở đâu, đến nỗi cuối cùng thành nghèo thiếu”.
Một sự việc xẩy ra đã làm thay đổi cuộc đời tu hành của sư. Theo sử sách còn ghi, sư là người có dung mạo đẹp đẽ lại ăn nói dịu dàng. Đạo hạnh của ngài được nhiều người ngưỡng mộ. Trong đó có cả vua và hoàng tộc. Đây âu cũng là nghiệp chướng. Công chúa Hoa Dương, con vua Lý Anh Tôn, thường hay đến cúng dường cho sư. Từ đó mà những lời đồn đãi hàm hồ vô căn cứ, phỉ báng bôi xấu, thổi phồng lan tràn.
Con người, ngàn năm trước hay vạn năm về sau vẫn thế. Vẫn tin vào lời đồn xấu, đồn nhảm. Nhất là đối tượng là người nổi tiếng, nổi danh, người được yêu kính. Nói tốt cho ai thì như gió thoảng qua tai. Nói xấu về ai thì chỉ một thoáng là loan truyền khắp xứ. Khi đã tin như thế rồi thì dù cho có ai trưng bằng cớ hay cải chính cũng chẳng đổi thay. Đố kỵ, ganh ghét là cội rễ. Phải chăng vì thế Tuân Tử từ xưa đã đúng khi cho rằng “Nhân chi sơ tính bản ác. Con người vốn tính ác”. Đối nghịch với “Nhân chi sơ tính bản thiện. Tính người vốn lành” của Khổng Tử và Mạnh Tử.
Trước sự việc đang xẩy ra, để cầu giác ngộ, sư bỏ chùa, lìa xa xóm làng thị tứ, đi vào tu trong vùng núi Uyên Trừng, Nghệ An. Trước khi đi vào nơi tịnh thất, lời của sư dầu đã hơn tám trăm năm qua, tưởng chừng như không phải nói cho riêng ngài, mà là chân lý đúng cho cả những hành giả đang bị hủy nhục hôm nay. “Phàm người được thế tục ngưỡng mộ tất không tránh khỏi bị hủy nhục. Nay ta là như thế sao? Và, con đường Bồ tát thì rộng lớn, còn Phập pháp thì vô lượng, kẻ sĩ giữ đạo trung dung còn nhiều khi phải buồn tẻ khóc thầm. Nếu như không dõng mãnh tự xét, dùng sự nhẫn nhục làm giáp trụ, lấy việc tinh tấn làm khí giới, thì làm sao tránh được ma quân, phá được phiền não, cầu được giác ngộ vô thượng.”
Kể từ đó sư không nhận lương thực cúng dường, mặc áo lá chân trần, sống chay tịnh thanh đạm cùng thú rừng thuần thục. Vua Lý Huệ Tôn rất cảm phục đời sống đạo hạnh thanh cao của sư, nhiều lần sai sứ giả đem lễ vật đến thỉnh sư về triều. Biết được nghiệp chướng trùng trùng nếu vướng vào sẽ khó đường giác ngộ, sư lánh mặt và nhắn tâu với vua. “Bần đạo sinh trên đất vua, ăn lộc vua, ở trong núi thờ Phật trải nhiều năm, mà công đức chưa thành, rất lấy làm thẹn. Nay nếu về thăm vua thì không những không có ích gì cho việc trị an, mà lại bị chúng sinh bài báng…”
Mây một lần đã qua, thoáng che trăng sáng, rồi cũng tan nhanh theo gió núi. Trăng lại vằng vặc soi. Chỉ một lần thôi, sư đã biết, đã lánh được oan khiên trần tục, tiếp nối đường tu.
Mùa xuân năm Tân Tỵ (1221). Sư tọa thiền trên phiến đá, truyền cho đệ tử Đạo Viên một bài thơ ngắn hai mươi chữ (Gọi là Kệ) gói trọn chân lý đạt ngộ. Rồi an nhiên thị tịch. Có nơi cho rằng sư mất an táng trong hang núi, không biết ở đâu. Nhưng sử sách ghi, cuối đời ngài lập chùa Vân Yên ẩn thân tu hành, truyền thừa cho tăng chúng, lập thiền phái tại Yên Tử. Như vậy ngài mất tại Yên Tử là điều đáng tin.
Bàn thêm.
1. Ai lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử?
Trong tác phẩm nghiên cứu về Trần Nhân Tông, Giáo sư Lê mạnh Thát ghi rằng. “Thông Thiền, lược dẫn Thiền phái đồ coi là người thành lập nên tông môn Trúc Lâm Yên Tử.” Nhưng, cũng trong cùng sách đã dẫn, một đoạn khác lại dựa vào Đại Nam Thiền Uyển Kế Đăng Lược Lục của An Thiền thì lại ghi 23 thiền sư liên tục trụ trì sơn môn Yên Tử, Hiện Quang là tổ thứ nhất, Trần Nhân Tông là tổ thứ sáu. Sau đó là Pháp Loa và Huyền Quang.
Cần làm sáng tỏ một vài điểm
  • Thông Thiền là đệ tử kế truyền Thiền Sư Thường Chiếu, thiền phái Vô Ngôn Thông. Hiện Quang vào tu ở núi Yên Tử, là sư sau cùng của phái này. Như vậy Hiện Quang mới là người tổng hợp ba dòng thiền Tì Ni Da Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo đường để hình thành Thiền Phái Yên Tử thay thế ba dòng thiền kia đã cùng suy tàn vào cuối thế kỷ 13. 
  • Vua Trần Nhân Tông, hiệu Trúc Lâm Đầu Đà là vị tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử. Pháp hiệu Trúc Lâm lại trùng với Trúc Lâm Quốc sư là tôn xưng của vua Trần Thái Tông cho Đạo Viên,tổ thứ hai của Yên Tử (Cũng là Viên chứng hay Phù Vân Quốc sư). Cho nên rất dễ nhầm lẫn. Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông mới là người được suy tôn làm Sơ tổ thiền phái mới mang tên của ngài với chủ trương nhập thế “Cư trần lạc đạo”. Như vậy Thông Thiền đã không phải là người sáng lập thiền phái Yên Tử, lại càng không thể là người sáng lập dòng Trúc Lâm Yên Tử được.
2. Vụ việc Công chúa Hoa Dương nằm trong mưu đồ chính trị cướp ngôi nhà Lý.
Sư Hiện Quang bị bôi nhọ vì cho rằng có tư tình với công chúa Hoa Dương không phải là chuyện nhỏ trong phạm vi cung đình. Nó được thổi phồng lan truyền có kế hoạch đến nỗi sử sách còn chép lại “Tiếng đời phỉ báng nổi lên như ong”.
Nhìn lại sự việc trong bối cảnh bi thảm những năm tại vị của vua Lý Huệ Tông để hiểu được vấn đề. Lý Huệ Tông có vợ là Trần Thị Dung, em gái họ của Trần Thủ Độ. Hai người tư thông, năm hết quyền hành trong triều và tiến hành âm mưu đoạt ngôi nhà Lý. Sư Hiện Quang là người có uy tín và ảnh hưởng trong giới hoàng tộc. Từ đại chúng, công chúa cho đến vua đều ngưỡng mộ. Đặc biệt là Lý Huệ Tông. Trong ý đồ chính trị, Trần Thủ Độ chắc hẳn muốn loại trừ Hiện Quang. Giết đi thì không được vì sợ phản ứng của dân chúng rất sùng đạo và quan trọng hơn là vì thế lực của giới tăng chúng. Hay nhất là triệt hạ uy tín của sư bằng thủ đoạn vu khống dựng chuyện Hiện quang và Hoa Dương. Một mũi tên bắn hai chim. Triệt hạ uy tín chỗ dựa tinh thần của vua, đồng thời kéo dân chúng về mình lên án đạo đức của công chúa, nói chung là bêu xấu dòng họ của vua nhà Lý.
Muốn hạ nhục một nhà sư không gì dễ hơn là loan truyền về quan hệ tình ái hay vợ con không rõ ràng. Thấy việc xưa mà ngẫm chuyện trước mắt. Ngàn năm sau không khác. Nhưng sự thật, cũng như ánh trăng và tia nắng, không thể phủ che.
Trần Thái Tông. 1225-1258
Ngai vàng hay sơn môn
Sau Thiền sư Hiện Quang một vị vua của nhà Trần đã đến núi. Và, lúc đó Yên Tử có thể đã trở thành cung điện triều đình. Đó là vua Trần Thái Tông, vua đầu tiên của nhà Trần và là ông nội của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, Điều Ngự Giác Hoàng sau này.
Hãy ôn lại một đoạn sử. (Chú thích trong ngoặc là của người viết)
Năm 1208, Vua Lý Cao Tông cùng hoàng gia trốn khỏi kinh thành chạy giặc Quách Bốc. Thái Tử Sam chạy đến nương náu nhà Trần Lý. Thấy con gái của chủ nhà Trần Thị Dung xinh đẹp quá nên cưới ngay làm vợ. Gia đình họ Trần chuyên nghề chài lưới giàu có, mộ quân dẹp loạn hộ tống vua về Thăng Long. (Ơn này sẽ trả bằng ngai vàng và sinh mạng!). Về kinh một năm thì vua mất. Thái tử Sam lên ngôi, đó là vua Lý Huệ Tông, Trần thị Dung được phong hoàng hậu. Từ đó anh em họ Trần nắm hết quyền hành trong triều.
Sau cùng, quyền lực khống chế vua và quần thần thâu gọn trong tay người anh họ Trần Thủ Độ. Ông cũng là nhân tình của vợ vua. Sau cùng giết vua rồi lấy luôn hoàng hậu. Không biết chữ, nhưng ông rất thông minh lại giỏi võ và âm mưu thâm độc tàn ác thì trong lịch sử nước ta không ai sánh được.
Lý Huệ Tông không có con trai (lại thêm một tai họa), có hai người con gái cùng hoàng hậu Trần Thị Dung. Công chúa Thuận Thiên gả cho Trần Liễu, con trưởng của Trần Thừa (Ông này là anh ruột của hoàng hậu. Như vậy là anh em cô cậu ruột lấy nhau.) Người con gái thứ hai là Chiêu Thánh, được Lý Huệ Tông yêu thương hết mực nên lập làm thái tử. ((Không có con trai nối dõi đã là nguy, lại còn bỏ con trưởng lập con thứ). Năm 1224, Lý Huệ Tông mang bệnh cuồng, (Bệnh thật vì căn thẳng thần kinh hay giả điên như Tôn Tẫn để thoát chết), bị ép buộc nhường ngôi cho Chiêu Thánh vào tu ở chùa Chân giáo. Từ đấy quyền hành định đoạt trong tay bà Trần Thái hậu và ông anh Trần Thủ Độ.
Dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng lấy con thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh mới 8 tuổi làm chồng. (Ông anh ruột của Trần Thái Hậu cho hai con trai lấy hai con gái của em ruột.) Sau đó đúng theo dự mưu của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông.
Theo Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, tuy đã cướp được ngôi vua, Trần Thủ Độ đã từ lâu muốn giết Lý Huệ Tông mà chưa thực hiện được. Thường ngày thấy vua ngồi xổm nhỏ cỏ trước cửa chùa, Trần Thủ Độ nói câu để đời. “Nhổ cỏ thì nhổ hết rễ”. Vua trả lời. “Ta hiểu ý ngươi rồi”. Thêm nữa. Vua Huệ Tông, trong bộ áo nhà sư, thường lê đôi giày cỏ, chống gậy tre thất thểu ra chơi chợ Đông, dân chúng tranh nhau chạy đến xem, có người thương khóc. Thủ Độ sợ lòng người nhớ vua cũ sinh biến loạn ép vua treo cổ tự tử. Xong chính thức lấy vợ vua.
Về việc này sử thần Ngô Thì Sĩ có lời bàn. “Thủ Độ lập tâm nham hiểm phải chịu tiếng ác giết vua, khiến cho nhà Trần chịu tai họa báo ứng. Vua Thái Tông là con rể đã cướp được ngôi lại còn giết cha vợ. (Sau này) Quý Ly cũng là con rể cướp ngôi Trần, lại còn là cha vợ giết con rể. Sự hưng vong như giấc mộng; việc báo ứng như vòng tròn. Ăn ở bất nghĩa có ích gì đâu.” Và. “Nàng Thiên cực kia vốn là đàn bà góa của nhà Lý (Vợ vua), cũng từng là em của Trần Thủ Độ ở triều vua Huệ Tông. Con lợn nái sao đến nỗi mất thể diện, con cáo đực sao lại dám vô lễ, mà lấy ngày thầy tăng chùa Chân Giáo lên cõi Nát bàn làm ngày kiến gia hoàng hậu hạ giá, tuy đã đổi gọi là công chúa, nhưng vì trong họ còn là anh em gần, thật là làm trái lẽ rối loạn đạo thường, thực không bằng loài cầm thú…”
Chưa hết. Thủ Độ đã giết vua Huệ Tông, tôn thất nhà Lý nhiều người ấm ức thất vọng. Nhằm lúc họ làm lễ tế tiên tổ ở thôn Thái Đường xã Hoa Lâm, Thủ Độ cho người ngầm đào hố sâu, dựng nhà lên trên, giật máy cho nhà đổ, chôn sống hết tôn thất nhà Lý. (Tưởng hết, nhưng còn!) “Trong số con cháu còn sót lại, đặc biệt có hậu duệ của Hoàng tử Lý Long Tường, hiện đang sinh sống tại Hàn quốc. Nguyên vào năm 1226, sau khi nhà Trần lật đổ nhà Lý, Hoàng tử Lý Long Tường, con thứ hai của vua Lý Anh Tông, (tức là anh của công chúa Hoa Dương đã nhắc đến trong phần sư Hiện Quang), em vua Lý Cao Tông, cùng thuộc hạ vượt biển chạy trốn, bị bão đánh dạt vào lãnh thổ Cao Ly (Đại Hàn). Tại đây Hoàng tử có công giúp nước Cao Ly chiến thắng quân Nguyên Mông vào năm 1253. Vua Cao Ly ưu đãi phong tước Hoa sơn tướng quân. Hiện nay hậu duệ của Hoàng tử gồm chừng 200 gia đình đang sinh sống tại Seoul và Youdo-dong”. (asvnonline). Gần đây ông Lý Xương Căn, cháu đời 26 của Hoàng tử đã về Việt nam thăm tổ tiên. (Và xuất hiện trên video Thúy Nga)
Chuyện còn dài. Vua Trần Thái Tông được vợ, được ngôi. Nhưng, chờ mãi mà Lý Chiêu Thánh không có con. Lúc đó Lý thị (Tức Công chúa Thuận Thiên, chị ruột của vợ mình) là vợ của ông anh ruột Trần Liễu (Cha của Trần Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn) đã có mang được ba tháng. Thủ Độ (Trăm sự do ông này) cùng Thiên Cực công chúa (Vợ vua Huệ Tông giáng chức xuống làm công chúa Thiên Cực) bày mưu riêng nhà vua là nên nhận liều để có lợi về sau, vì thế mới đem Lý thị vào ở trong cung. Trần Liễu tức giận tụ tập người nổi loạn.
Nhà vua áy náy không yên lòng, đêm lẻn lên núi Yên Tử vào chùa của Phù Vân Quốc Sư (Tên gọi này không đúng. Đây là Thiền Sư Đạo Viên được vua tôn xưng Trúc Lâm Quốc Sư). Ngày hôm sau, Thủ Độ đem bầy tôi đến đón xa giá về kinh. Vua từ chối nhất định đi tu. Thủ Độ ra bảo với mọi người. “Xa giá vua ở đâu, tức là triều đình ở đấy”. Nói rồi, liền cấm mốc chăng dây chia thành hàng ngũ trong núi, phỏng theo kích thước cung điện ở kinh thành, bắt thợ xây dựng. Quốc sư Phù Vân hoảng quá nài nỉ nhà vua. “Bệ hạ nên sớm quay loan giá về kinh thành, không nên để họ làm hại đến núi rừng của đệ tử này”. Vua không nghe. Phù Vân nói. “Trong núi vốn không có Phật. Phật chỉ ở trong tâm. Nếu thánh thượng hiểu được tâm. thì đứng đâu là Phật ở đó”. Vua chợt ngộ ra. Bây giờ nhà vua mới trở về kinh. (Khâm Định Việt Sử).
Bàn thêm.
  • Sử gia và nhiều người đúng, khi cho rằng Trần Thủ Độ đã làm một cuộc đảo chánh không đổ máu. Thắt cổ vua và chôn sông tôn thất nhà Lý thì đâu có đổ giọt máu nào!
  • Vua Trần Thái Tông dưới mắt sử gia Ngô Thì Sĩ. “Vua là người khoan nhân đại độ có lượng đế vương, điển chương chế độ rõ ràng đáng được nêu lên. Song sự xếp đặt công việc đất nước đều do Trần Thủ Độ làm (Vậy người đáng khen là Trần Thủ Độ). Đạo tam cương không giữ đúng, trong chốn phòng the còn nhiều điều hổ thẹn.” 
  • Vua Thái Tông càng về sau, ngay cả sau khi Trần Thủ Độ mất, trở thành vua giỏi. Thông hiểu Phật pháp, vừa trị nước vừa lo tu. Là tác giả của hai tác phẩm Phật học giá trị. “Thiền tôn chỉ nam”, chỉ v

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét