LAIQUANGNAM
Laiquangnam giới thiệu thơ tiền nhân
LONG THÀNH CẦM GIẢ CA
Nguyễn Du
GIỚI THIỆU
Năm 2015 là năm UNESCO thuộc Liên Hiệp Quốc kỷ niệm 250 năm ngày sinh của thi hào Nguyễn Du (SN 1765), một danh nhân văn hoá thế giới.
Long Thành Cầm Giả Ca là bài thơ
chữ Hán hay nhất trong số 250 bài thơ chữ Hán của tiên sinh. Đó là những giòng nhật ký được tiên sinh giữ rất kín kẻ. Trong một xã hội trả thù vượt tính người như thời Gia Long lên ngôi, lần đầu tiên xảy ra trong lịch sử của dân tộc Việt, một vương triều mang luật của kẻ thống trị áp đặt lên dân bị trị đó là luật nhà Thanh lên đất nước của chính dân Đại Việt của mình. Nhà
Thanh đô hộ dân tộc Hán Tàu trên dưới 400 năm. Điều dó cho thấy sự khắc nghiệt của bộ luật
này.
Luật khiến ai cũng sợ. Do đó bài Long Thành Cầm Giả Ca tuy chứa nhiều dữ
kiện giúp ta giải mã về thái độ tình cảm của tiên sinh với các chế độ đương thời từ thời Lê, Tây Sơn rồi Nguyễn Ánh. Rằng trái tim ông thuộc vào ai nhưng
lại được tiên sinh Nguyễn Du giữ rất kín kẻ?. Các thế hệ đàn anh tôi thời VNCH họ đã làm việc giải mã này và được Talawas đăng lại toàn văn số Văn đặc biệt về Nguyễn Du.
Bài Long Thành Cầm Giả Ca được nhiều tác giả trong số Văn ấy đã được đem ra làm luận cứ. Tuy nhiên trước đây không có
một ai làm sáng tỏ bản văn quan trọng này nên nhiều luận cứ dựa vào nó tôi cho là quá yếu ớt và hời hợt. Một thiếu sót thật đáng tiếc. Nay với chút kiến thức văn học rất hạn chế của mình vì văn học vốn không phải là sở trường của mình, nhưng trộm nghĩ mình như một sĩ quan “delot” cứ ghi dấu “địch quân“ trước đã, phần còn lại của chiến trường là việc của các vị chỉ huy, các phi công
ném bom, của pháo thủ và của lực lượng bộ binh xung trận giải quyết dứt điểm. Chúng ta có lẽ cũng cần làm làm quen với việc tự phân công ra
hiểu phần nhỏ và tự giải quyết nó trong một vấn đề về văn học lớn hơn. Làm được bước nào hay bước nấy. Loạt bài viết dưới đây được xem như là quà tặng cho các “chú em
tôi” thuộc thế hệ 1,5 tại Hải
ngoại. Hy vọng rằng các chú em 1,5 của chúng ta sẽ đở chút nhọc nhằn khi lật lại hồ sơ Nguyễn Du và giải quyết dứt điểm. Cũng nhân đây, Tôi xin bày
tỏ lòng tri ân tấm lòng của hai vị, một là, chị Lê Đăng Khánh và hai là, anh Trần Kiêm Đoàn cả hai đều đã “ nổ đom đóm mắt” đọc lại và cho lời động viên cùng nhận xét tốt về việc làm này của mình.
Loạt bài Long Thành Cầm Giả Ca, Nguyễn Du này gồm 4 phần:
Phần 1 - Hiệu khảo bản văn Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du
Phần 2 - Bản chữ Hán đã hiệu khảo và bản dịch thơ của laiquangnam và thân hữu.
Phần 3 - Những điều chưa biết về nội dung bản văn. Trong đó có phần giải mã về nội dung của “Khúc Cung Phụng”
Phần 4 - Các bản dịch đáng chú ý
theo các trường phái khác nhau.
Mong rằng với loạt bài này Bạn Hiền sẽ tìm được câu trả lời được một phần nào các câu hỏi sau đây, câu hỏi mà lớp đàn anh chúng tôi đã đặt vấn đề trong văn học.
1- Tai sao Nguyễn Du trong đời mình không
có một câu phê phán Tây sơn?
2- Nỗi buồn phiền sâu lắng của ông là gì ?
3- Tại sao ông chán nản trong khi đã chịu ra làm quan với tân triều Gia long?
4- Tại sao Nguyễn Du lại dồn nỗ lực của mình cho việc viết thi ca bằng chữ nôm vào đoạn cuối đời sau khi đi sứ Trung quốc về?
5- Tại sao ông lại chọn nhân vật Vương Thúy Kiều làm nhân vật trung tâm cho tác
phẩm thơ dài hơi của mình sau danh tác này của tiên sinh?
6- Nguyễn Du khéo léo ra
sao, kể từ khi lập ý đồ và phác họa nó qua dàn
bài bằng văn xuôi qua lời người dẫn truyện đến việc thể hiện thành công một bài thơ tuyệt tác . Nguyễn Du thừa biết sự trả thù cực kỳ man rợ của tân triều Nguyễn Gia Long khi mang
luật Thanh (luật người Thanh đô hộ người Tàu Hán ) ra áp dụng cho chính đồng bào mình người Việt của mình và ông đã kín đáo tự bảo vệ được mình bằng thủ pháp nào?
Phần I
HIỆU KHẢO BẢN VĂN LONG THÀNH CẦM GIẢ CA
CỦA NGUYỄN DU
Nguyễn Du không chỉ có Đoạn Trường Tân Thanh
(Kiều). Dòng thơ chữ Hán của ông cũng là
một tài sản vô giá về văn chương. Trong số 250 bài thơ bằng chữ Hán của ông để lại cho đời sau, bài Long Thành Cầm Giả Ca là một bài hay nhất, bí ẩn nhất và tam sao thất bổn nhất. Ngày nào mà ta còn học sử còn nhớ đến kinh đô cũ là Thăng Long (rồng bay), Long (龍) là con Rồng thì ngày đó chúng ta còn nhắc lại bài thơ này.
Hiện tại việc truy cập internet dễ dàng và nay chữ Hán đã trở nên tử ngữ bởi chữ quốc
ngữ tiến lẹ quá, thế nên một lần nữa có sự tam sao thất bổn trên các văn bản đánh máy không sao tránh được khi ta copy &
paste bản văn này từ internet về .
Ngoài ra chưa kể bản chữ Hán được ghi có tuy cùng âm nhưng dị nghĩa, vài từ khác hẳn với từ trong bản quốc âm đi kèm theo trên cùng một trang viết. Đâu có gì phải buồn, bởi mọi người
đều xem việc mang bỏ lên mạng là chuyện “ăn cơm nhà bao đồng chuyện thiên hạ”, họ làm được như thế đã là một điều quá quý, đã có tấm lòng tử tế với thế hệ sau
rồi.
Một bản văn cổ như bản văn Long Thành Cầm Giả Ca này mà không có bản chữ Hán đi kèm đôi khi khiến bạn đọc cảm thấy khó chịu(1). Ví dụ từ kỷ thì, kì thì. Cùng là “kỷ, kì thì” cả trong cùng nguyên
tác nhưng hoàn toàn khác nhau về nghĩa. Có nhiều từ Việt ngữ xưa
khi nghe ta hình dung được, nhưng cũng có từ nay nó đã trở thành tử ngữ, lý do ta không có điểm tựa, hay vì từ này nay không còn được dùng hằng ngày nên ta thấy thiêu thiếu, kỳ kỳ. Ví dụ: nói sơ phong (gió thoảng có người biết nhưng nói lương phong (gió nồm hay lại nồm) thì không mấy ai hay. Tuỳ ngữ cảnh, lương phong hay hơn sơ
phong nhiều lắm nếu như ta biết rõ nghĩa của nó.
Tại sao lại có sự tam sao thất bổn như thế?
Có bốn lý do sau :
1-Một là, Bối cảnh chính trị và chính sách
trả thù tàn bạo của Gia Long khi Gia Long mang luật ThanhTriều ( luật đô hộ dân bị trị ) để cai trị
chính dân tộc mình.
2-Hai là,
Nguyễn Du viết thơ chữ Hán như là trang nhật ký nên sự sao chép bằng tay tác phẩm thi ca của tiên sinh có lẽ phải ở trong vòng bí mật.
3-Ba là, Việt Nam thời ấy giấy mực đều
phải nhập từ China, kể cả việc khắc bản thế nên sách vở do người Việt sáng tác đều khó phổ biến rộng rãi.
4-Bốn là, Chữ Tàu là thứ chữ mà người Việt vay mượn, học chữ nào thì đọc được chữ ấy, thế nên có nhiều chữ mà trình độ người sao chép hạn chế nên họ đọc không ra, dẫn đến hiện tượng đoán mò. Vả lại đọc một văn bản
chữ Tàu qua bản chữ “thảo”/ viết láu (tháu) hay chập nét viết chấm phẩy nhất là các chữ nhiều nét gói trong một không gian nhất định nên rất khó đoán là chữ gì.
Đã có 15 vấn đề xuất hiện khi khảo sát bài thơ chỉ gồm có 50 câu toàn văn bản. Laiquangnam nay
làm công việc là tìm chữ nào mà mình
cho cho đúng nhất trong câu ấy khi có nhiều bản văn cùng nội dung của thi hào Nguyễn Du hiện diện. Tuy
việc này nó không
là phải công việc to tát xứng tầm của một người làm công việc “hiệu khảo”, hiệu khảo là sửa lại cho đúng một bản văn, nhưng việc
này tôi thấy là cần thiết bởi vì trong lòng
người Việt nhiều người thuộc đôi câu Kiều của Nguyễn Du.
Laiquangnam dựa trên nguyên tắc sau để làm công việc hiệu khảo. “Từ nào đúng nhất trong các từ đó? Tại sao lại cho nó là đúng ? laiquangnam đưa ra lập luận để bảo vệ ý kiến mình và tuyệt đối không thay từ mới đã có do lớp đàn anh đã khổ công sưu tầm và sắp xếp. laiquangnam chỉ chọn
từ đã có sẵn mà thôi.” Việc này chỉ nhằm làm cho các
thi nhân có ý định muốn dịch văn bản này có được một văn bản đáng tin cậy trước khi bắt tay
dịch, hay khi thầy cô giáo cần giảng cho học sinh, sinh viên của mình hiểu ý một bản dịch sẽ có được một tư liệu khả dĩ
tin cậy để khai triển rộng ra.
Laiquangnam cho rằng các tác giả sau đây là người có thẩm quyền nhất về văn
bản Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du, đó là các vị:
1-Đào Duy Anh (ĐDA), Thơ Chữ Hán, Nguyễn Du, nhà xuất bản Văn học,
Hanoi, 1988, bài Long
Thành Cầm Giả Ca xuất hiện tại các trang từ 189 đến 195.
2-Nguyễn Thạch Giang (NTG)- Trương Chính, Nguyễn Du, Cuộc đời và Tác Phẩm nxb VHTT, Hanoi,
2001. Trương Chính là người đã cùng với Lê Thước dịch và công bố thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1965.
Cũng cần biết Lê Thước là người bắt tay sưu tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1924 một cách có hệ thống. Nguyễn Thạch
Giang là PGS Hán
Nôm. Rất tiếc là sách này lại không có bản văn chữ Hán trong
sách.
3-Quách Tấn (QT), Tố Như Thi trích dịch, nxb An Tiêm (in lần thứ nhất), Saigon, trang
232-235. Nay bạn có thể tìm trên
trang web “hoasontrang”.
4-Lãng Nhân
(LN), Hán văn tinh tuý, nxb NAM CHI TÙNG THƯ, năm 1965, Saigon. Do không có
sách gốc, tôi xử dụng bản văn của Ông Lê Văn Đặng công bố tại trang www.viethoc.org. Tại đây có bản dịch xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19 của
cụ Học Canh, ông là người đầu tiên dịch Cầm giả dẫn (một tên khác của bài Long Thành Cầm Giả ca). Có lẽ dạo ấy giới ca trù Hanoi đã hát suốt bài Tì Bà Hành qua bản nôm của Phan huy Thực không chừng,việc này khiến ông bực? Là một tấm lòng rất đáng tri ân. Cụ Lãng Nhân sinh năm 1907 –mất 2008 tại Anh quốc có lẽ sưu tập được văn bản này tại nhà cụ Học Canh? Cần để ý bản văn của cụ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc rất quý giá và xuất sắc .
Sau khi đọc bốn bản “nguyên tác?” Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du từ các sách đã được công bố của quý ông bên trên, gom lại chỉ có hai nội dung mà thôi; một là, ba văn bản giống nhau đó là các bản của Đào Duy Anh (ĐDA), Nguyễn Thạch Giang
(NTG)- Trương Chính và của Quách Tấn(QT), hai là bản văn của Lãng Nhân
(LN). Bản văn của LN có nhiều câu xuất sắc hơn bản của ĐDA hay
QT nhiều, tuy rằng bản văn của ông ít được người biết hơn.
Vì sao việc này không được làm sớm hơn? Vì sao? Vì phải có một bản văn gốc hay thì bản dịch sang thơ Quốc Âm mới hay được (4*). Bản
dịch nôm hay thì
“trẻ mới yêu thích” và
trân trọng văn học văn tài của tiền nhân ta. Nếu có bản dịch tốt thì lời bình sẽ nhiều và nhiều vấn đề sẽ sáng ra nhất là chỉ còn vài mươi ngày nữa là ta qua năm 2015, là năm LHQ kỷ niệm 250 năm ngày sinh, (đồng thời cũng là 200 năm ngày mất) của danh nhân văn hoá thế giới :Thi Hào Nguyễn Du của dân tộc Việt Nam. Long Thành Cầm Giả Ca là một bản văn đã được sáng tác với 50 giòng thơ qua một thứ chữ vay mượn
rất hạn chế từ kẻ thù Tàu Hán mà đã hay như thế huống gì khi “Tiền nhân ta” được đùa nghịch, vẫy vùng trong “đai dương bao la“ của ngôn ngữ Việt với thứ chữ quốc ngữ tuyệt hảo như ta thấy từ sau 1930. (5*)
Tôi không hiểu, lớp đàn anh của tôi trong giới văn học sử nhiều
người đã dựa vào bài này để truy tìm tình cảm riêng tư, nhân
sinh quan cùng là quan điểm chính trị của ông về ba triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn Gia Long nhưng “tôi linh tính,“ có khi họ cũng còn lờ mờ ” cỡi ngựa xem hoa”; hay là họ kê vào cho có? Đôi khi “ai đó” trong giới văn học sử cũng
không nhận ra tính đa dạng ẩn tàng trong một bài văn Long
Thành Cầm Giả Ca nên lầm tưởng bài ca chỉ nhắc về một người phụ nữ với tình trạng vật đổi sao dời khiến lòng “nhân” của tiền nhân ta Nguyễn Du lay động,
trong khi bản văn của tiên sinh là một trang nhật ký với nhiều nước mắt của một kẻ
sĩ ưu tư về vận nước cho ta biết nhiều hơn thế. Đáng tiếc!
Trong việc hiệu khảo có các từ sai lệch rất nặng
tỉ như giữa lương phong và sơ phong, giữa câu “Xuân phong yểm ánh đào hoa diện” (LN) với câu “Hồng trang yểm ái đào hoa diện”(ĐDA), hay thiếu
từ “nhứt đán” như câu
43 “Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong” (ĐDA) so với câu “Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong” (LN). Còn đa phần nhẹ hơn không thay đổi nhiều về ngữ cảnh ví dụ kỷ thời, thử thời, tiện thị, tận thị…. Sau khi
đọc tôi định lại từ sai lệch ấy, laiquangnam xin được chia sẻ với những ai yêu Nguyễn Du của mình.
Bài Long
Thành Cầm Giả Ca, nguyên tác có 50 câu. Các câu mang số thứ tự sau 7, 9, 10, 13,
14, 18, 20, 26, 34, 36, 40, 43, 45 là có sự lệch từ cần hiệu khảo, bởi
cho dù chỉ một độ lệch rất nhỏ cũng có thể làm câu thơ mất một phần nào đó độ lung linh của nó khi mà ta giảng xuôi cho học trò mình qua Việt ngữ ngày nay. Các Bản dịch sang thơ Quốc
Âm sẽ bị hạn chế từ và thi luật nên đành hy sinh các từ “công cụ“ (6*) ấy. Nhưng
trong các bản văn dịch xuôi của bốn tác giả trên thì
laiquangnam không thấy mấy ai để ý để giúp các “ thi nhân tài hoa “cảm để rồi từ đó họ sẽ chuyển bản văn gốc của tiền nhân ta thành một bản dịch với chất
giọng quốc âm xuất sắc hơn những Bản dịch sang thơ Quốc Âm trước , đó là điều mà chúng ta đang chờ mong. Ngày nào mà trên xứ ta bản văn này át bản văn Tì Bà Hành của Bạch cư Dị là ngày đó giới “yêu thơ của Nguyễn Du có thể tự xoa tay gác kiếm được rồi.
Dĩ nhiên việc này của laiquangnam là vô nghĩa nếu sau này ta tìm được văn bản chính tay Nguyễn Du viết.
I- Bắt tay khởi sự
1- Có hai tiêu đề, chọn tiêu đề nào? Cầm Giả Dẫn và Long Thành Cầm Giả Ca. Tại sao lại
có sự tam sao thất bổn như thế?
Tiêu đề Cầm Giả Dẫn, xuất hiện trong sách của LN , kèm theo bản dịch của Học Canh
là người sống vào cuối thế kỷ thứ 19. Tại sao lại mất chữ Long Thành?
Năm 1803,
trên dưới một năm Gia Long cầm quyền và củng cố được ngai vàng, ông lập tức ban lệnh đổi
Thăng long (龍) Rồng sang Thăng Long (隆) Thịnh. Mục đích gì phải đổi tên một cố đô? Gia Long có vẻ sợ nhân sĩ Bắc Hà và trấn áp họ. Đổi để biết ai
khiếp sợ, ai là kẻ còn có ý muốn chống lại vương quyền của ông.
Nguyễn Du chức gì trong thời điểm đó?
Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc, (quan văn, bộ Lễ
). Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ.
Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ( chấm đỗ
cử nhân ) ở Hải Dương, Cai bạ dinh Quảng Bình (chức vụ hành chính, rành luật lệ đương triều ).
Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc, viết
tập Bắc Hành Tạp Lục.
Nguyễn Du cố tình nhắc Long Thành, Long là (龍) Rồng trong bài này là
thái độ của một Kẻ Sĩ. Người sao chép lại tiêu đề bài thơ đã giản lược đi thành ra “Cầm Giả Dẫn” có lẽ vì sợ nhà cầm quyền nên đã bỏ hai từ Long Thành đi trước nó chăng?
Long Thành
là hai từ vô cùng quan
trọng với tâm tư Nguyễn Du.
Một là thành Thăng Long (rồng bay) rất yêu quý đối với ông bởi suốt khoảng đời ấu
thơ cho đến lúc trưởng thành ông đã sống tại nơi đây. “Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại Thăng
Long. Tổ tiên ông là
Nguyễn Xí là đại công thần khai quốc nhà Lê, do đó sáu bảy thế hệ viễn tổ trước ông đã từng đỗ đạt làm quan. Nguyễn Du thuộc về một
gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm
(1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng),
tước Xuân Quận Công dưới triều Lê sống vinh quang tại đây” ( theo vi-wikipedia). Mãi đến năm 1796_1797 , nghĩa là lúc ông trên 30 tuổi ông mới rời nơi đây để về lại Tiên điền. Ông là người con của Thăng
Long (rồng bay).
Hai là, tiêu đề “Long Thành Cầm Giả Ca” bởi nó quá quen thuộc, là một thương hiệu quá phổ biến từ trước 45,
nói gì ngày
nay ai cũng biết tên này mà không mấy ai biết “Cầm giả
dẫn”.
Thế nên tiêu đề phải là “Long Thành Cầm Giả Ca”, Bài ca về người nữ danh cầm
(hay Cầm) tại kinh thành Thăng Long.
2- Tại câu © 7- 余(X )少年曾一見
7-Dư tại (在) thiếu niên tằng nhất kiến.(LN),
tạm dịch nghĩa như sau, Thuở thiếu thời từng một
lần được chứng kiến tại đây.
7-Dư ức (憶 ) thiểu niên tằng nhất kiến (ĐDA)
(100%)
tạm dịch nghĩa như sau: Trong ký ức còn sót lại thuở nhỏ đã một lần chứng kiến.
Từ “ức” hay hơn, mang chất thơ hơn. Vả lại ức là từ khá thân quen với người Việt như ký ức .
7-Dư ức (憶 ) thiểu niên tằng nhất kiến (ĐDA) => Thiếu thời nay sực nhớ ra
3- Tại câu © 9-(X ) 時 三 七 正 芳 年
9-“Thử thì (此 ) tam thất chính phương
niên” (LN )
Thử thì đang ở 21 tuổi .
9-“Kỳ (其) thì tam thất chính phương
niên” (ĐDA)
Tạm dịch nghĩa như sau “ước chừng khoảng độ 21. “ Điều này phù hợp với câu (2) Nguyên tác , 獨善絃琴 bất ký danh tự, chẳng chịu nói tên thì làm sao biết chính xác tuổi. (chọn 80%)
9-“Kỳ (其) thì tam thất chính phương
niên”(ĐDA) => Ai ngày ấy ước chừng hăm mốt
4- Tại câu © 10-(X ) (X ) 掩 映 桃 花 面
10-“Xuân
phong (春風 ) yểm ánh đào hoa diện” (LN) chọn 100%
Tạm dịch nghĩa như sau “ Xuân phong yểm ánh,” Sắc vẻ tuổi xuân sắc tăng sắc hồng của
mặt hoa đào vốn đã đỏ. Sắc xuân sức sống trẻ. Câu mạnh mẽ có sức sống hơn. Rất có ý khi mà tác giả vốn đã có cảm tình với người đánh đàn. Chọn 100%
Tôi cho rằng có sự “đánh lừa“ rất khéo và cố ý của tác giả khi viết lời tiểu
dẫn đã dùng một thứ ngôn ngữ thật trần trụi so với lời thơ. Lời thơ thì ngôn từ chọn lọc, ngôn ngữ rất thơ.
Xuân phong (春風 ) yểm ánh đào hoa diện là câu thơ đẹp.
9-“Kỳ (其) thì tam thất chính phương
niên” (ĐDA)
10-“Xuân
phong (春風 ) yểm ánh đào hoa diện (LN)
=> Ai ngày ấy ước chừng hăm mốt,
Sắc xuân nồng ran tóc mặt hoa.( dịch hai câu 9,10)
“Hồng trang (紅妝 ) yểm ái đào hoa diện “(NTG) ((ĐDA)
Hồng trang hoặc quần áo màu hồng, hoặc phấn hồng
trên má, như
trong tiểu dẫn.
Cách điểm trang màu hồng làm tăng vẻ đáng yêu trên mặt hoa đào.
5- Tại câu © 13 緩 如 ( X) 涼 風 度 松 林
Câu 13 và
câu 14 liên quan đến khúc Cung phụng
Ta cần dừng lại đây một chút.
Các tác giả thường dùng thủ thuật mô tả một “nốt” nhạc, một đoạn nhạc bằng cách so sánh và đối chiếu với một âm đã có sẵn trong thiên nhiên, tả tiếng đàn trong Tì Bà Hành và trong Đoạn Trường Tân Thanh (
Kiều ) dùng thủ thuật này.
Trong như tiếng hạc bay qua ( Kiều) 481
Đục như nước suối mới xa nửa vời ( Kiều) 482
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,( Kiều) 483
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa ( Kiều) 484
Tấu khúc “Cung phụng khúc” là khúc nhạc hay nhất trần
gian mà tác giả đã xác quyết rằng mình từng được nghe:
6-Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh => Đệ
nhất thanh trong cõiNgườiTa
13-Hoãn như lương (涼) phong độ tùng lâm(LN)
Lương là gió
mát do có hơi nước. Gió mát do có hơi nước là gió biển đông, hướng gió là hướng đông nam thổi vào nước ta. Lương phong
chính là ngọn gió nồm. Ngọn gió mà mọi người đều mong đến với mình trong tiết hè nóng bức. Đây là câu nằm trong ngữ cảnh của
Khúc Cung Phụng, tiểu khúc “Hoãn như”.
Người được chút khoan
thai, nhàn nhã không gì sướng hơn cho họ là khi trời đang nóng mà trời “lại nồm”, gió thổi qua rung ngàn thông trên bãi cát tạo thành những âm thanh reo
vui dễ chịu.(7*)
Thế nên hoãn như là một tiểu khúc chứ không như trong Đoạn Trường Tân Thanh (Kiều) là một tiếng đàn. Đã là tiểu khúc thì cần thời gian dài để đàn cho hết một khúc.
13-Hoãn như
lương (涼) phong độ tùng lâm”(LN) chọn 100 %
=> Khúc Khoan!,”_ lại Nồm đàn thông nhạc”
13-Hoãn như sơ (初) phong độ tùng lâm (ĐDA)
Sơ phong, cơn
gió nhẹ cũng được. So ra không sao bằng được khi trời lại nồm. Rõ ràng “lại nồm” lương phong
thời lượng dài hơn cơn
gió thoảng sơ phong. (z*1)
6- Tại câu © 14- 清 如 (X ) 鶴 鳴 在 陰
14-Thanh như
chích (隻) hạc minh tại âm. (LN )
Chích là chiếc, là cái, là
con, chích hạc là cái hạc, con hạc.
Trong như tiếng hạc bay qua có thể tương thích với câu này “Thanh như chích (隻) hạc minh tại âm.”
Nhưng, Tấu khúc “Cung phụng khúc” là khúc
nhạc hay nhất trần gian mà tác giả đã xác quyết rằng mình từng được nghe: 6-Tự
thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh=> 6-Đệ nhất thanh trong cõiNgườiTa. Vì vậy đây phải là một tiểu khúc mà “hai con hạc” thể hiện.
14-Thanh như song (双) hạc minh tại âm. (ĐDA).
Song là hai.
Tại sao phải là hai con hạc. Hạc là loài chim
thiên di. Trống (Chồng) đâu mái (vợ) đó. Hạc là loài sống chung thuỷ nhất
trong các loài sinh
vật. Chung thuỷ là điều ước muốn của mọi cặp tình nhân thực sự yêu nhau kể cả con người.
Thanh như song (双) hạc là ước lệ của Tình yêu. Lý Thương Ẩn trong một bài thơ của mình, ông rất yêu vợ , khi vợ lâm chung ông không có mặt tại chỗ ,ông buồn phiền và than rằng ,phải chi ông và vợ ông được như đôi uyên ương
(tức song hạc ) cùng bay đi bay về với nhau khi trời thu đến.
Tình như thế là tuyệt đẹp.(8*)
Nên tại đây ta hiểu là một khúc tình, thay vì là một âm thanh mô
phỏng như trong Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều ) “trong nhu tiếng hạc bay qua” ( Kiều) mà là
14-Thanh như
song (双) hạc minh tại âm. (ĐDA)
=>
14-Khúc tình ru!, “_ song hạc vờn mây.’
Rõ ràng
“song hạc" tâm tình thời lượng dài hơn gấp bôi một tiếng kêu của một con hạc lạc loài .
7- Tại câu © 18-(X )
是 中 和 大 內 音
18-Tận thị (盡 ) Trung Hòa Ðại Nội âm (LN)
Tận thị, đúng rồi, bắt tận tay, tận mặt, chính xác không trật đi đâu được. Chọn, 70%.
Tận thị (盡 ) Trung Hòa
Ðại Nội âm (LN)
=>Khúc đàn đại nội Trung Hòa là đây!
Tiện thị: tiện đây nói luôn,
ngữ cảnh không quả quyết như tận thị .
8- Tại câu © 20-徹 夜 追 歡 不 知 (X )
20-Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu (曉) (LN)
曉 hiểu là buổi sáng, bất tri hiểu là chẳng hay trời đã sáng, say mê quên thời gian, chọn 55%
20-Triệt dạ truy hoan bất tri bão (飽 ) (NTG)(ĐDA)
飽 bão là no, bất tri bão= chưa đã, còn thòm thèm.
Do câu 19, từ cuối là đảo, câu 20 là
bão. Lấy âm khi ngâm,
đảo (cuối câu 19) =>
bão (cuối câu 20). Tuy
nhiên người ngâm sẽ dùng thời gian ngừng, ngắt, thì âm hiểu cũng dễ nghe và dễ ngâm .*
Câu này nằm trong ngữ cảnh 4 câu 19, 20, 21, 22 thể hiện tính cách của người Tướng sĩ người
Đàng Trong,
Quảng Nam-Bình Định. Cách chơi này
và tính cách này khiến họ đánh quân Tàu xâm lược với một khí thế mà chưa từng bao giờ dân Việt đạt được khí thế “ phấn khích, hết mình, chơi chết bỏ, đánh chết bỏ “ như thế, sớm
hơn kế hoạch dự định.
“Nê thổ (15) kim tiền thù thảo thảo”
=> Tiền là phấn thổ!, hồi hồi phà ra !
19-Tây sơn
chư thần mãn toạ tận khuynh đảo
20-Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu (LN)
21-Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
22-Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
==>
19- Quan Tây Sơn ngất ngây tận sáng
20- Hút hồn theo, tâm trạng đầy vơi (câu 20)
21-Tháo khăn
đầu, tả hữu bồi
22- Tiền là phấn thổ!, hồi hồi phà ra !
9- Tại câu © 23-豪 華 意 氣 凌 (X ) 侯
23-Hào hoa ý
khí lăng công (公) hầu (LN)
Công hầu là điển từ, nhắc nhớ bài Tì Bà Hành của Bạch cư Dị
Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu
Ngũ lăng là nói về 5 tước hầu. Ngũ lăng là nơi có 5 lăng mộ của người mang tước
“công hầu ” thời Hán. Họ không mang tước “Vương”. Tôi không tin
Nguyễn Du nhầm lẫn. Ngũ Lăng niên thiếu là đám thiếu niên con ông cháu cha cấp cao.
Nguyễn Du có ý khi nhắc đến khách tham dự của Bạch Cư Dị nay
bị khớp bởi sự hào hoa của viên chức Tây Sơn. Điển từ Nguyễn Du dùng Tì Bà Hành như là một “văn bản dựa” vì nó là văn bản cổ, nhiều người đã biết. Đó là thủ thuật nén ý mà người làm thơ sau thì dùng điển từ của người đi trước đã có tiếng tăm. Đó là một thủ thuật của Đường thi.
Chọn 100%
Điển từ ngũ lăng nhắc nhớ thơ Bạch cư Dị:
Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu (Bạch cư
Dị )
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số
==>
Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn (PHV)
Sang thơ
Nguyễn Du trong Long Thành Cầm Giả Ca thì
"Ngũ
lăng niên thiếu bất túc đạo" (Long Thành Cầm Giả Ca )
23-Hào hoa ý khí lăng công hầu .
24-Ngũ lăng niên thiếu bất túc đạo
==>
23-Hào hoa quá!,_Công hầu phải chịu,
24- Đám Ngũ Lăng niên thiếu?,_ nín kha
Với từ “Ngũ lăng” giúp Nguyễn Du đã mở rộng ý thơ của mình ra khá xa. Bạn có thấy ý tưởng độc đáo khi Nguyễn Du dùng lại từ Ngũ Lăng của Tì Bà Hành. “Cùng là khán giả“ Ngũ Lăng” mà khi bọn họ ngồi nghe Tì Bà Hành thì còn hiểu đôi chút, còn rục rịch, còn ném khăn gấm, thẻ tiền tưởng
thưởng, nhưng khi ngồi nghe “ Khúc Cung Phụng “ trong Long Thành Cầm Giả Ca thì đám khán giả Ngũ Lăng này lại ngồi “ xếp xương”.
Tại sao? Có ba lý do;
một là, Khúc Cung
Phụng khó nghe quá,
nó là khúc nhạc có tầm cao chỉ dành cho người có ưu tư về tình yêu tổ quốc. Khúc Cung Phụng là niềm vui, là nỗi buồn, nói xa gần về chuyện nước
non, chuyện hết sức to tát chỉ dành cho Kẻ Sĩ, nó không dành cho người bình thường chỉ nghĩ đến
chuyện vụn vặt trong cuộc sống hàng ngày; hai là, tài năng người đánh đàn giỏi quá, lôi cuốn quá, ba là Quan tướng Tây Sơn lịch lãm quá. Câu 22-Nê thổ (15)kim tiền thù thảo thảo ==> tiền
là phấn thổ hồi hồi phà ra !. “Nê thổ kim tiền” có nghĩa là ‘tiền là phấn thổ”, đó là nửa câu ngạn ngữ, “tiền là phấn thổ nghĩa tự thiên kim”, tiền là phấn là bụi đất chỉ có “Nghĩa tình “ mới đáng quý mà thôi. Nguyễn Du là người rất tài hoa khi xử lý ngạn ngữ và ca dao Việt ngữ trong các danh tác
của mình. Đó là một thái độ của một Kẻ Sĩ học rộng không đội Hán, Vọng Hán, Khớp Hán bao giờ. 9*.
23-Hào hoa ý khí lăng vương (王 ) hầu (ĐDA)
Không phù hợp với ngữ cảnh ngũ lăng niên thiếu .
10- Tại câu © 26-(X ) (X ) 長 安 無 賈 寶
26-Hoạt tố (活) (做 ) Trường An vô giá bảo ((ĐDA)
Hoạt tố là tố chất sống. Tố chất Trường
An là tố chất sống của người tại kinh thành. Hoạt tố Trường An vô giá bảo, tạm dịch nghĩa
như sau Tố chất linh hoạt của người tại kinh thành Trường An là vô giá.
Như đã nói
Nguyễn Du là người yêu Thăng
Long (rồng bay) . Với ông Thăng Long ( rồng bay ) là nhất, thế nên ông hoàn toàn hãnh diện về “Hoạt tố của con người Trường An” trong ông. Bạn đọc lại phần đầu
tiểu sử và tâm tư ông
gắn bó với Thăng Long thành. Bạn đọc ngữ cảnh 2 câu 25, 26.
25-Tinh tương
tam thập lục cung xuân .
26-Hoạt tố Trường an vô giá bảo .
Tinh là chắt lọc ra. Chắc lọc lại Tam
Cung Lục Viện, mỹ nữ của quốc gia, thì người đang đánh đàn kia, người đang mang hoạt tố,
tố chất sống mạnh mẽ kia của người Tràng An kia là vô giá.
=>
25-Nghe chừng băm sáu cung
xuân,
26-Đúc nên
quốc bảo Trường An một người.
“Hoạt tố của con người Trường An”! Là niệm hãnh diện của người Kinh Bắc..
Chính vì vậy mà Gia Long lệnh đổi Long (龍) là con Rồng thành Long (隆) là Thịnh,
Thế nên câu
26-Hoán thủ (換 ) (取 ) Trường an vô giá bảo (LN)
Hoán thủ là hoán đổi, đổi lấy. Thủ 取là chọn lấy. Câu không mấy hay. Loại bỏ từ này trong câu.
11- Tại câu © 34-顏 (X ) 醜 神 枯 形 略 小
34-Nhan xú (醜) thần khô hình lược tiểu (LN)
醜=xú =xấu quá, xấu tệ. Việt ngữ có từ xú uế.
Chữ này người đàn ông dùng cho một người phụ nữ nào đấy thật là ác mồm ác miệng, cho dù từ XÚ có xuất hiện trong phần
tiểu dẫn của Nguyễn Du.
Có hai tình huống khi người đàn ông dùng từ xú.
1. Xú xuất hiện lần thứ nhất, khi người đàn ông nhìn người phụ nữ và bật miệng một cách vô thức. Nguyễn Du đã nhắc trong tiểu dẫn,
tuy nhiên khi đặt bút viết thành thơ thì
từ này không còn
xuất hiện nữa, xú được chuyển thành sấu ngôn ngữ hàm ý chia sẻ và cảm thông. Lòng người đà thay đổi. Có thể Nguyễn Du đã cố tình dùng từ này trong phần tiểu dẫn chăng? .
2. Xú không phải là ngôn ngữ thơ của người xưa
trong ngữ cảnh này. Đối với người phụ nữ bình thường tiên sinh vốn đã tử tế huống gì nay đối với người đánh đàn mà ông vốn đã có nhiều kỷ niệm này. Từ Xú bị lược bỏ trong câu.
34-Nhan sấu (瘦 ) thần khô hình lược tiểu (ĐDA)
瘦 sấu =gầy, tiều tuỵ. Nhan sấu=nhan
sắc tiều tuỵ.
Ngôn ngữ thi ca, từ “sấu” đúng với tình cảm của ông.
34-“ Nhan sấu thần khô hình lược tiểu “
=> 34_Mặt gầy, da héo tóc đà sang đông!.
12- Tại câu © 36- 誰 知 (X ) 便 是 當 年 城 中 第 一調
36-Thùy tri
tiện (便) thị đương niên thành trung đệ nhứt điệu (LN)
誰知便是當年城中第一調 (LN)
Tiện (便) trong Việt ngữ, ví dụ: tiện thể, được dịp tiện
thị, phải nói rằng ….
“Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu” =>
Tiện đây, ai có biết cho rằng cô là người tài tình nhất trong thành vào thời ấy không ?
Diệu là khéo léo,
tài tình, Tựu, Việt ngữ có thành tựu, tựu là làm nên.
36-Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu
誰知就是當時城中第一妙 (ĐDA) .
Tựu (就) thị =Đã được là như thế, như thể, ví dụ: tựu thể, thành tựu.
Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu (22) .
==> Tạm dịch nghĩa như sau “Ai có biết rằng cô đã là người “tài tình” nhất trong thành như thế vào thời ấy.”
Trong trường hợp này hai từ đều được. Tuy nhiên chữ tựu thị từ nhẹ và thanh hơn tiện thị.
36-“Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu”
=> Đệ nhất nhân!, sắc nước một thời,
13- Tại câu © 40-監 湖 ( X) (X ) 曾 見 之
40-Giám hồ tịch (席 ) trung (中) tằng kiến chi (ĐDA)
席 tịch là chiếc chiếu, tịch trung
là giữa (trong ) vuông chiếu. Vuông chiếu được trải ra cho khách tham dự ngồi vào đó, ngoài ra nó còn hàm nghĩa là một chiếu tiệc, buổi tiệc. Ký ức nay trở nên chính xác và gần gủi hơn. Vả lại từ
tịch trung, vuông chiếu tiệc làm cho câu
thơ đẹp hơn. Chọn 100%
Xét câu
40-“Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi “(LN)
Tại câu 8 “Giám Hồ hồ biên dạ khai yến”. Hồ biên đã được nhắc. Khai tiệc
thì bên hồ Giám, cảnh quan đông người, tả tổng thể, và nhập tiệc thì ngồi vào vuông chiếu, chú ý đến nhân vật trung tâm.
Ở đây cũng cho thấy ngôn ngữ trong thơ đẹp hơn
ngôn ngữ của tiểu dẫn nhiều, và khác bối cảnh cũng có phần hơi khác chút ít với tiểu dẫn. Trong
tiểu dẫn thì tác giả đứng lấp ló sau cánh cửa để xem tại đây thì tác giả thấy rõ hơn, có lẽ lúc này tình cảm và sự cố nhớ ra “ xem ra ai đó nghe chừng quen quen”.
40-Giám hồ tịch trung tằng kiến chi
(NTG)
==> Từng thấy Ai chiếu tiệc Giám hồ
Toàn văn ngữ cảnh
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên (23) tiền sự
40-Giám hồ tịch trung tằng kiến chi
(NTG)
Thành quách suy thôi di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
==>
Chạnh lòng,_ ra!, hai mươi năm trước,
Từng thấy Ai chiếu tiệc Giám hồ!
Người xưa, thành cũ,_ thuở nao,
42) Bể dâu chợp mắt, nhớm bao ngùi ngùi.
14- Tại câu © 43-西 山 基 業 一 旦 盡 消 亡 (LN)
43-Tây Sơn cơ
nghiệp nhứt đán tận tiêu vong (LN)
Đây là câu
quan trọng nhất trong bản văn của LN. laiquangnam tuyên dương cụ Lãng nhân Phùng Tất Đắc. Đây là sự đóng góp vô giá trong việc giải mã tình cảm của Nguyễn Du đối với nhà Tây Sơn khi hai từ “ nhất đán “ xuất hiện.
Về ngữ cảnh, câu này hợp lý hơn câu của ĐDA bởi lẽ nó phù hợp với Tiết tấu của
câu. Sự hiện diện của nó thúc đẩy bài ca trở nên đồn dập đầy cảm xúc hơn. Sau một hồi đều đều gồm 7
từ, ngữ điệu được chuyển sang “tông” với các câu dài hơn gồm 9 từ. Vai trò của 9 từ khiến câu dài thêm ra và người ngâm sẽ truyền cái thần của nội dung đến cho người nghe do bởi thời gian dài ra vào lúc diễn ngâm.
Long Thành Cầm Giả Ca là “bài ca”
là vậy. Khoảng này khá dồn dập, chỉ sau ba đến bốn câu đều đều gồm 7 từ là đến ngay câu 9 từ. Ta lần lượt gặp tại
câu 31 (9 từ), 36 (9 từ), 39 (9 từ), 43 (9 từ). Tại câu 43 hai từ than tiếc “nhất đán” xuất hiện kịp lúc, đúng lúc, “nhất đán“ đã kết thúc sự lên giọng bất thường sau đó là các câu thất ngôn (7 từ) cho đến khi hết bài ca.
Nhất đán, đán là
buổi sớm. Nhất đán là một buổi sớm. Chuyện quá đột ngột. Trong ngôn ngữ của người miền Trung, hai
từ “nhất đán” là từ tình cảm chứa vẻ lo âu, chia sẻ nay vẫn còn dùng. Ví
dụ: _nhất đán mà mai
này tôi có mệnh hệ gì thì … . Nhất đán là từ chỉ điều không may xảy ra, xin đừng thay
bằng từ trần trụi là “ đột ngột, bỗng nhiên“. Khi Nguyễn Du dùng từ nhất đán tại câu số 43 là lòng Kẻ Sĩ đã nhiều cảm xúc lắm rồi. Dần theo ngữ
cảnh toàn văn nếu ta biết rõ các sự thật như thế này thì ta sẽ hiểu.
1. Thần sắc người đánh đàn trước và sau khi Gia Long lên ngôi 1802, thời Tây Sơn và thời Nguyễn Ánh có khác.
2. Từ cách nghe nhạc, cách chơi hết mình của quan tướng Tây sơn ngồi nghe đánh đàn vào khoảng đầu thập niên 90 của thế kỷ 18
(1786-1792?) khi họ xem “tiền là phấn thổ, nghĩa tợ thiên kim” hoàn toàn khác với đám tướng “đàn gẫy tai trâu“ thời Gia Long. Các viên chức tân triều không biết gìn giữ viên ngọc quý lại cho văn hoá dân tộc, một điều đáng lên án.
Khúc nhạc đã mất, cây đàn Nguyễn (10*) cũng mất và người chơi đàn cũng mất. Mất sạch rồi. Một tân triều đội Hán lên ngôi. Một tai hoạ được dự báo trước, chính vì thế mà Nguyễn Du đã năm lần bẩy lượt xin từ
quan mà Gia Long
không cho. Tuy Nguyễn Du không ra quyết định cho chính sách quốc gia nhưng tham
gia vào chính quyền ra chính sách ấy cũng là “dấy máu ăn phần”. Thái độ rất kẻ sĩ của một người “nghệ sĩ ” thật là đáng kính. Nguyễn Du chỉ tội nghiệp
cho chúng ta là những kẻ sinh sau đẻ muộn không còn có cơ hội được nghe bản nhạc hay nhất trần gian của dân tộc này, không còn được thấy cây đàn Nguyễn đặc trưng của vương
triều nhà Hậu lê 1428 -1800
nữa. Cả người đánh đàn với các kinh nghiệm học từ cấm cung nay cũng không còn cùng bản nhạc. Tội ác này cũng lớn như tội bán nước vậy.
3-Xem thử danh sách quan tướng Tây Sơn tham dự lần ấy là ai? Là danh tướng Trần Quang Diệu,
là đô đốc Lộc cộng với nhân sĩ Bắc Hà thuộc cánh Ngô Gia Văn Phái và người ẩn sĩ Nguyễn Thiếp.
Trấn thủ Long Thành lần sau là ai vào thời Gia Long? Đó là bọn Lê Chất, Nguyễn Huỳnh Đức
cộng với tên " đầu bò “ Đặng Trần Thường. Đặng Trần Thường là kẻ đã lòng dạ nhỏ nhen đã dùng roi đánh chết một văn tài lỗi lạc nhất của đất
nước thời ấy. Chắc chắn rằng cái chết của Ngô Thời Nhiệm đã gây cho những người từng là bạn thân của ông có ảnh hưởng đến Nguyễn
Du. Đó là anh ruột ông, tiến sĩ Nguyễn Nễ, là anh vợ tiến sĩ Đoàn Nguyên Tuấn và danh sĩ Nguyễn Thiếp, học trò cưng của cha ông. Tất cả họ đều buồn
phiền lẫn phẫn nộ. Những vị này là các quan văn rất gần gũi với vua Quang
Trung –Nguyễn Huệ. Họ đã đóng góp nên trận Đống Đa năm xưa cùng việc xây Viện quốc âm Sùng Chính, san định và dịch sách chữ Hán sang chữ Nôm. Tình cảm đối với Tây Sơn từ các vị này chắc đã tác động lên tư tưởng Nguyễn Du sau
khi ông được triệu ra làm quan cho
Gia Long. Trong đời làm quan với Gia Long ông đã ba lần tìm cớ từ quan mà không được. Cuối cùng ông tự sát vào năm 1820 khi chối từ uống thuốc, lúc này ông mới 54 tuổi. Xem lại bài Thái Bình Mại Ca Giả đã viết.
Câu này làm cho ta rõ thái độ Kẻ Sĩ của Nguyễn Du. Lý ra Nguyễn Du phải ngợi ca
chế độ đã cho mình
vinh hoa áo gấm về làng, ăn cơm chúa múa tối ngày. Không. Đâu là chân hạnh phúc của Kẻ Sĩ? Sống thử vài năm với chế độ mới là Kẻ Sĩ biết mùi. Tổ quốc phải vinh
quang là điều kiện “CẦN “để Kẻ Sĩ ngợi ca chế độ. Tổ quốc phải vinh quang, chiến tranh
phải lùi xa, để mọi người được cùng hưởng trong đó có vợ con ta, bè bạn ta, gia đình ta, đồng bào ta. Việc cho ta (Kẻ Sĩ) vài ưu đãi tấm áo miếng cơm chỉ là chuyện nhỏ nhặt, giúp sống qua ngày, không có nó ta vẫn sống được. Nói gì khi ta nhận tham chính là ta đã bỏ phiếu thuận cho tân triều bất nhân. Ta đã là kẻ gián tiếp tiếp tay với tội ác. Khác nhau rất xa giữa Kẻ Sĩ và Trí thức là vậy. Kẻ Sĩ luôn luôn sợ sự “ô nhục đến muôn đời sau cho con cháu mình.“ Trí thức có thể thì ờ cứ sướng trước đã nên đa phần họ nhắm mắt cộng
tác với tân triều gian ác, bất nhân. Chuyện “ô nhục đến muôn đời sau cho con cháu mình” xa xôi quá đối với họ (Trí thức)..
15- Tại câu © 45-瞬息百年(X ) 幾 時
45-Thuấn tức bách niên
năng (能 ) kỉ thì(NTG) (60% chọn)
Tằng, năng đều là từ mang ý so sánh nhưng năng thì xác quyết hơn .
Năng là hẳn là, theo lẽ thường, năng là từ mà ta thường gặp khá nhiều trong các câu thành ngữ, tục ngữ.
Kỉ là nhỏ xíu . Kỉ thì, kỉ thời là khoảng thời gian rất ngắn
ngủi. “bách niên
năng (能 ) kỉ thì ==> trăm năm chỉ là một cái chớp mắt, chỉ là một hơi thở‘.
45- Thuấn tức bách niên năng(能) kỉ thì
46.Thương
tâm vãng sự lệ triêm y
=>
45-Trăm năm
một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ lệ ai vơi đầy.
45-Thuấn tức bách niên tằng (曾 ) kỷ thì (LN),Tằng là từng, là như .

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét