LẠI QUẢNG NAM
[ Tiếp Theo ]
II- Kết luận
Các câu khi có cùng độ chọn do chủ quan tuy có lệch chút ít 55, 60 % thì về mặt ngữ nghĩa cũng
không làm thay
đổi nội dung câu. Từ nào cũng được. Tuy nhiên theo tôi
điều này cũng có
thể dẫn đến các bản văn dịch của những người dùng nó để dịch sang thơ quốc âm sẽ bớt độ lung linh
đi chăng?
Laiquangnam đã làm bảng kê trên trong điều kiện không tốt lắm, phương tiện
làm việc, môi trường làm việc, cá nhân làm
việc. Rất tiếc phải chi có bạn bè laiquangnam hỗ trợ thì mình có thể làm tốt hơn . Hy vọng bản
này sẽ giúp một phần nào đó cho lớp sau, lớp em tôi, lớp người Việt 1.5 sẽ có cơ sở tiến xa hơn và hoàn chỉnh hơn.
Tôi hoàn toàn đặt niềm tin vào các bạn.
Hãy bước lên vai chúng tôi mà trèo cao hơn, nhảy cao hơn, xa hơn. Chúng mình cùng đẩy những di sản của tiền nhân lên một tầm cao mới cùng thiên hạ.
Xin mời đọc tiếp phần 2, Long Thành Cầm Giả Ca , Bản văn
gốc hay nhất
Sau khi đã hiệu khảo .
III- Tham khảo và chú thích
*-Chữ có màu đỏ giúp bạn tìm tư liệu với Google search qua cụm từ màu đỏ này.
1-Đào Duy
Anh (ĐDA), Thơ Chữ Hán, Nguyễn Du, nhà xuất bản Văn học,
Hanoi, 1988, bài Long
Thành Cầm Giả Ca xuất hiện tại các trang từ 189 đến 195.
2- Nguyễn Thạch Giang (NTG)- Trương Chính, Nguyễn Du, Cuộc đời và Tác Phẩm nxb VHTT, Hanoi,
2001. Trương Chính, là người đã cùng với Lê Thước dịch và công bố thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1965.
Cũng cần biết Lê Thước là người bắt tay sưu tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du vào năm 1924 một cách có hệ thống. Nguyễn Thạch
Giang là PGS Hán
Nôm.
3. Quách Tấn (QT), Tố Như Thi trích dịch, nxb An Tiêm (in lần thứ nhất), Saigon, trang
232-235 .lưu ý bản của nhà thơ Quách
Tấn là bản do Trụ vũ bạn ông sao chụp từ thư viện Paris ,Pháp quốc gởi về cho ông .
Khi ta bị mất nước về tay người Pháp, sách văn học của ta được chính quốc Pháp mang về còn lưu trữ tại đó, trong khi người Tàu chiếm đoạt của Ta thì lập tức người Tàu biến thành tài sản trí năng của họ. Tàu có một sự lưu manh đáng sợ. Vậy mà nhiều người có ăn học lại nhận người Việt
là đồng văn với Tàu nghĩ cũng
lạ. Sau 75, tôi cũng đã
thấy nhiều sách quý tại thư viện Quốc gia Việt Nam Saigon được các Giáo sư mượn đọc và họ giữ làm của riêng và khi họ vượt biên thì sách mang ra bán chợ trời. Giáo sư đại học Việt mà tư cách tệ thế hay sao? Xin dừng tay đừng ăn cắp sách quý của thư viện quốc gia nữa. Tình trạng tại Hanoi có lẽ cũng tương tự như thế
chăng?
4- Lãng Nhân (LN), Hán văn tinh tuý, nxb NAM CHI TÙNG
THƯ, năm 1965, Saigon. Tôi xử dụng bản văn của Ông Lê Văn Đặng công bố tại trang www.viethoc.org,
(5-http://www.jaist.ac.jp/~dnthao/index_files/@Books/CoCam%20NguyenDu.pdf )
Trong sách này có bản dịch xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19 của
cụ Học Canh, người đầu tiên dịch Cầm Giả Dẫn (một tên khác của bài Long Thành Cầm Giả Ca). Có lẽ dạo ấy giới ca trù Hanoi đã hát suốt bài Tì Bà Hành qua bản nôm của Phan huy Thực không chừng. Cụ Lãng Nhân sinh năm 1907 –mất 2008 tại Anh quốc. Vì người chép sợ bị trả thù nên bỏ chữ Long Thành. Dùng long/thịnh thì lòng người không muốn mà dùng long/rồng thì họ lại sợ bị hình phạt thảm khốc.
4* văn bản của LN hay hơn văn bản của Đào Duy Anh nên cụ Học Canh dịch hay
hơn cụ Hoàng Tạo.
5-Các nguồn chính có bài “Long Thành Cầm Giả Ca” của Nguyễn Du như đã kể trên tự trung đều giống
nhau về nội dung câu chữ được xếp vào hai nhóm
chính là ĐDA và Lãng Nhân. Mỗi nguồn chép tay đều có sai sót không bản văn nào gọi là hoàn hảo. Bản tổng hợp của
laiquangnam chỉ mới khắc phục được một phần nào đó mà thôi. Việc cân nhắc để có một bản gốc tương đối là điều cần để văn giới có thể tự tìm hiểu thêm “đàng sau giòng chữ nghĩa từ Nguyên tác”. laiquangnam hy vọng rằng lớp sau 1,5 sẽ làm lại chu đáo hơn. Chúng tôi chỉ là sĩ quan “delot” ,bắn khói chỉ điểm mà thôi, lợi ích lâu dài là con cháu của các em. Mọi việc phải rõ ràng trắng đen không nhập nhằng. Đất nước này còn có quá nhiều những người đốt đền trong
văn giới hay trong giới sử học, tỉ như Trần Quốc Vượng, Bùi Duy Tân, Phan Đăng Quế, Trần Thanh Mại ..vv. nhiều lắm và sao kể hết được .
5*-từ khi Tự Lực Văn Đoàn xuất hiện
6- Ở đây cần lưu ý, trên mạng internet đã có diễn giả giảng qua
video rằng “truy hoan” là sex bạo. Trong ngữ nghĩa chính, truy là đuổi theo, hoan là cuộc vui. Truy hoan là đuổi theo một cuộc
vui, tỉ như các thính giả trong đêm nghe nhạc này. Nơi diễn ra đêm âm nhạc hát hò là ‘Hồ giám, Văn miếu thuộc kinh thành Thăng Long (rồng bay), nơi đây đâu phải là “nhà chứa hay bia ôm ngày nay ”. Một lời giảng đầy xúc phạm đến nhà Tây Sơn và người Đàng Trong, nhất là trong giới tướng lãnh có người Quảng Nam đáng kính như vợ chồng danh tướng
Trần quang Diệu & Bùi Thị Xuân và nhiều danh sĩ Bình Định khác. Xuyên tạc Tây Sơn mà dùng nguồn tư liệu từ các giáo sĩ Tây phương đang ủng hộ NguyễnÁnh cõng rắn cắn nhà, với chủ trương dành lấy chính quyền bằng mọi thủ đoạn cho dù bán nước cũng được, thì Bạn Hiền cũng nên xem lai nguồn gốc dân tộc của ông cha sử gia này và người có lẽ cả bọn họ là những người đã chịu ảnh hưởng từ Tạ
chí Đại Trường?
6* từ công cụ là các hư từ , các nhóm từ chức năng tỉ như
giới từ. liên từ …
7- Bạn đọc tích Trang Tích bạn sẽ hiểu thế nào là chuyện nước non của Kẻ Sĩ
7* lương phong , “lại nồm “ là thú khoái trời cho các dân tộc Việt Nam kể cả
China. Trong 36 thứ khoái trên đời, Kim Thánh Thán cũng xếp “lại nồm” vào hàng thứ nhất. Điều này cho thấy Khúc Cung Phụng của Ta rất tinh
tế. Rất tiếc khúc đàn này
nay không còn vì người người đánh đàn của không còn được nậng niu như thời
Tây Sơn .
_Có người ngồi cuối chiếu hoa?,
34_Mặt gầy, da héo tóc đà sang đông!.
Mày phờ phạc, buồn không chải chuốc,
Đệ nhất nhân!, sắc nước một thời,
Khúc xưa rưng rức lệ rơi,
38 Lắng nghe từng tiếng bời bời lòng ta.
….
Ôi!, một sớm, Tây Sơn mất sạch
Làng đàn ca nay mót một ai!
Và Nguyễn Du than:
Trăm năm một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ lệ ai vơi đầy.
…..
8-Các “Đỉnh cao” trong nước viết quyển
Từ điển văn học (bộ mới), xuất bản năm 2004, nêu ý của GS. Nguyễn Lộc, Từ điển
văn học (bộ mới), Nxb thế giới, 2004, tr. 1122 như sau:
“Long thành cầm giả ca là tác phẩm viết về một con
người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy, không còn ai chú ý đến nữa. Nhà thơ tỏ lòng xót thương ngậm ngùi của mình, và nghĩ đến cuộc đời dâu bể...Bài thơ mang một tinh thần nhân đạo cao cả. Nhưng nó có một khía cạnh rất đáng chú ý là chính trong bài này, lần đầu tiên và cũng
là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Thái độ của ông thế nào thật khó hiểu. Bài thơ không có tí gì gọi là thù địch với Tây Sơn, mà
trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải
chăng đến giai đoạn này, do có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nhìn nhận của nhà thơ đối với triều đại trên có thay đổi gần với chân lý hơn? “
Bạn hiền tìm được data gì qua các
dòng trên ? Thực tế nếu như không có Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều ) thì văn bản này cũng làm cho thi hào Nguyễn Du sống mãi với chúng ta bởi bản văn này chứa rất quá nhiều điều “ muốn nói, muốn nhắc nhở cho lớp hậu bối” của tiên sinh .
8* thơ Lý Thương
Ẩn
Uyên ương khả tiện đầu câu bạch,
Phi lai phi khứ yên vũ thu., bài Đại tặng
==> Lòng ham thích ước được như đôi uyên ương kia tình đầu ý hợp bên nhau đến lúc đầu bạc, Được bay tới bay lui trong làn mưa khói của mùa thu.
==> Uyên ương
tình tận bạc đầu …
Bay đi bay lại mưa mầu khói thu …
Uyên ương là
đôi chim trống mái do Tàu Hán tưởng tượng. Song hạc,
thuộc loài hồng hạc thiên di là
loài chim có thực tế đối với người Việt và đây là loài chung tình nhất trong muôn loài.
Tình đẹp là tình hanh
thông, hài lòng với sự chọn lựa ban đầu. Ai thích “ Đời chỉ đẹp khi tình dang dở “ thì cứ theo . Còn theo laiquangnam có lẽ đại đa số dân Việt Nam ta thì muốn được theo lời thơ của Nguyễn Du . 14-Khúc tình ru!, “_ song hạc vờn mây.
9*Hoàn toàn
khác đám Hán Vườn như hiện nay. Trong văn giới người Việt sau này dầu họ có Tây học hơn.vậy mà đầu Đội Hán, tâm Vọng Hán, lòng Khớp Hán lại nặng hơn lớp xưa
quá xa. Thật là khó hiểu. KHÓ HIỂU
9-Vài nét về tác giả Học Canh
- Học Canh (cuối thế kỷ XIX) đã dịch 80 dòng Thu dạ lữ hoài ngâm bằng Hán tự của Nguyễn Văn Cẩm
(1874 – 1929) ra 80 dòng STLB Nôm, ngoài ra chính ông là người đầu tiên dịch bài Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn
Du mà Lãng Nhân
PTĐ sao lục.
10-Các từ Ok, you, copy & paste
là các từ ngày nay rất thân quen với người Việt chúng ta, xin đừng chấp nhất.
10* – Đàn Nguyễn chính vì cây đàn Nguyễn đã bị mất, không còn ai được thấy nữa, thế nên giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê đã nhất mực quy chiếu cây đàn Nguyễn chính là cây đàn Nguyễn Hàm từ bên Tàu. Ông giáo sư có lẽ đã lầm. Nguyên lý sáng tạo Đàn dây bao
giờ cũng có ba phần, thùng đàn để âm được cộng hưởng, hình dạng thùng tròn, vuông, tam giác hay chữ nhật mọi dân tộc đều chấp nhận, lẽ nào hình tròn phải là đàn nguyệt của Tàu, là dáng đăng ký độc quyền của Tàu? Phần dây tạo âm thanh, mỗi dân tộc có một chất liệu một kinh nghiệm xử lý khác nhau, độ căng và khoảng cách giữa các gối phụ thuộc vào người lỗ tai người nghệ
sĩ. Tai người Việt khác tai người Tàu, đời Lý đã nêu ra lý luận này rồi. Sau khi dành độc lập vào năm 1428, Nguyễn Trãi đã lên tiếng về âm nhạc dân tộc ta. Giáo sư Trần Văn Khê không thấy cây đàn Nguyễn của ta trong bài Long Thành Cầm Giả Ca ra sao mà vội quy chiếu vào cây đàn Nguyễn Hàm của Tàu thật là một “người đốt đền “ điển hình đối với tiền nhân ta vậy. Tiền nhân ta đã làm cho quốc gia này tồn tại đến bây giờ, trong khi 100 dòng bách Việt phía nam China đều bị Tàu Hán tiêu diệt sạch, đó không là luận cứ vững chắc về một
sức sống của giống dân Lạc Việt này sao?
Đàn Nguyễn là thương hiệu Việt, chắc gì là “Nguyễn” này trùng với thương hiệu Tàu “Nguyễn” trong Nguyễn Hàm. Tôi nêu ra vấn đề này để các gíáo viên đứng lớp khi giảng về
cây đàn Nguyễn thì đừng quy chiếu về cây đàn Nguyễn Hàm, trừ khi ai đó trưng ra bằng cớ là cây đàn Nguyễn mà Nguyễn Du dùng trong bài Long Thành Cầm Giả Ca nay vẫn còn. OK?
Xin đọc trang của anh DUY PHI, nay ANH đã mãn phần. Anh có than thở về các bản dịch sang thơ Quốc
Âm bài Long Thành Cầm Giả Ca trong sách giáo khoa. Như nước đổ đầu vịt. Đáng buồn cho một đất nước
có quá nhiều, có đến hàng ngàn tiến sĩ Hán Nôm, người đốt đền thì quá đông.
12 -Tạp chí Văn,
Nghiên cứu và Phê bình
văn học, năm thứ nhất, đệ tứ tam cá nguyệt 1967, tập 3
Đặc san Văn – Nghiên cứu và Phê bình Văn học, số Đặc biệt về
Nguyễn Du
Bạn có thể dễ dàng tìm qua Google
search
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét