LẠI QUẢNG NAM
[ tiếp Theo ]
II -Cuộc chiến tranh ngôn ngữ từ hơn ngàn năm trước.
Việt là gì?
Tôi nghĩ bạn hiền hẳn biết qua sự tinh tế của bạn. Không mấy ai bất ngờ trong âm/ tiếng “Việt” thân thương này. Nay laiquangnam xin được nhắc lại :_Là vượt lên trên, vượt lên để tiến tới đích trước!.
Một định mệnh!. Tên bám theo người, tên bám theo quốc gia.
Trường hợp dân tộc ta, baTàu gán cho
dân tộc mình thứ chữ của họ, mang âm Việt, nhưng trong đó có bộ tẩu [走] là chạy, chạy trốn cho
xa, cho lẹ. Đó là một trong các nỗ̉ lực của họ mong dân tộc ta tàn mạt. Từ những gì xấu xa nhất mà họ nghĩ ra được ngay từ thời chiến quốc để hại nhau, cướp nước của nhau,
nay đem áp dụng từ thời Hai Bà
Trưng, đến Bà Triệu
cũng chỉ mong người Việt mình luôn mang trong mình một chấn thương tinh thần. Sự
hèn yếu vì tồn tại nhờ chạy trốn truyền đến các thế hệ sau, bọn chúng sẽ nối tiếp nhau mà quy Hán về mọi phương diện.
Biết bao nhiêu Việt gian thà quy Hán hơn
là chọn sự khai phá một bản sắc riêng cho dân
tộc mình, câu
“Nôm na là cha mách qué “ là một điển hình. Người có học, đâu phải chỉ là bọn sử gia ngu dốt mà còn nhiều anh tiến sĩ ấm ớ
khác đều quy về sách Hậu Hán Thư để mà lý giải tìm cội nguồn của giống nòi Lạc Việt là một điển hình thứ hai.
Đúng ra Lạc Việt phải được viết như vầy:
[樂] lạc, bộ mộc [木], là sung sướng, là hạnh phúc, là vui vì ca hát, trỗi nhạc mà reo vui
suốt ngày thay vì [貉] lạc này là một giống thú, có bộ mã [馬], làm thân trâu ngựa cho người cưỡi trên đầu trên cổ.
Việt phải là Việt này, Việt [ 粵 ] có bộ mễ [米], mễ là lúa, hàm ý
dân tộc này vốn dĩ là dân lúa nước. Lạc Việt là dân định cư, có canh tác
chứ không phải là dân du mục lang thang trên thảo nguyên theo bầy súc vật ngày đây mai đó, như cội nguồn của Hán tộc. Dân du mục chỉ nghĩ chuyện cướp bóc, đánh nhau, tính chuyện cướp nguồn sống và tài nguyên của người định cư. Thế đấy, Họ đã cố gán cho ta Việt này [越] , Việt có bộ tẩu [走], tẩu là chạy trốn cho lè lẹ. Trớ trêu thay, khi chữ quốc ngữ hình thành với bộ ký tự theo alphabet, thứ ký tự tiến bộ nhất của loài người, bởi tiếng nói của dân tộc mới là thứ sinh ngữ của
chính dân tộc đó.
Nó mới làm ngôn ngữ của dân tộc đó sinh sôi
nẩy nở. Ký tự tượng hình của Tàu trở thành thứ tử ngữ với dân tộc ta một cách tuyệt đối vào đầu thế kỷ thứ 20. Bất ngờ, điều họ cố hại ta, âm Việt nay trở thành một trong các thuộc tính của dân tộc ta. Bạn thử nghĩ
xem?. Trẻ đánh vần ê a, âm “Việt” trong chữ quốc ngữ của mình như sau , “ + iêt, Vờ, Viêt, + nặng ==> Việt.” Ba
phân khúc. Phần tạo âm của chữ quốc ngữ, là âm IẾT. ”iết” chỉ sự bền bỉ, dai dẳng. Trong Việt ngữ
đã có biền biệt, ráo riết, mãi miết, mài miệt. Thuộc tính nằm trong ba mảng, đó là âm iết!, âm vờ , “V” và kết thức bằng dấu nặng (.) .
Lạc Việt là một sắc dân kiên trì
, bền bỉ ,có sức sống rất dai, kể cả sự thù dai . Khi có cơ hội là họ có thể ra đòn sát thủ sau khi họ điên tiết nhớ lại những gì mà thân nhân họ bị bọn Tàu Phương Bắc làm cỏ trước đó. Lịch sử đã cho chúng ta thấy điều này qua cuộc chiến dai dẳng giữa hai dân tộc Việt Champa. Nay
laiquangnam xin nhắc lại đôi dòng lịch sử.
Lịch sử đã cho chúng ta thấy điều này qua cuôc chiến dai dẳng giữa hai
dân tộc Việt Champa. Nay laiquangnam xin nhắc lại đôi dòng lịch sử.
Ngay khi nhà Minh, nòi Hán tộc, lên cầm quyền, họ liền thực
hiện ngay giấc mơ sáp nhập Đại Việt vào Hán tộc từ ngàn năm trước của Hán Quang Vũ ( vua của Mã Viện). Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc liền liên kết với người Champa ở
mặt Nam và tấn công Đại Việt từ hướng này và Hán tộc thì từ phía bắc đánh xuống. Kẹp thịt! Đại
Việt hai đầu thọ địch. Lịch sử đâu phải chỉ một lần. Thời Lý cũng thế và thời Trần thì thậm chí Ô mã Nhi đã đi sứ sang qua tận vương
quốc Khmere tức Kampuchea ngày nay để tìm đồng minh đánh nhà Trần sau trận thua đau
hai lần trước. Đau thương nhất cho dân Đại Việt là trong vòng 20 năm, từ năm 1407 đến 1427 thì họ bị Đại Minh hủy diệt sạch nền văn hóa và mọi thành tựu của nền văn minh
Đại Việt qua 500 năm độc lập góp nhặt, từ vua đến thứ dân không ai dám xây cung điện, đền đài nguy nga
tráng lệ. Nhớ hận này, nhà vua
Lê Thánh Tông hẳn ghi. Trả thù, do nhớ nỗi thống khổ của tiền nhân. (xin đọc đoạn Đặng Dung, Cảm
hoài III, để biết tiền nhân ta cùng Đặng Tất xử lý việc này ra sao,
bài trên trang Chim Việt Cành Nam hay trên www.art2all.net
). Lúc này người Việt trả thù! Đã là
dân thù dai mà lị !. IẾT. Champa, tởn tới già!. Ngày nay có một nước ở phía nam chúng ta cũng chưa chịu sáng mắt để học được bài học lịch sử này. Dân Lạc Việt vốn hiền hòa, vui ca là chính, nhưng hễ Ai đã gây thù
chuốc với sắc dân này, một khi Họ gượng được thì không còn “ V” nữa. Mình không chơi xấu ai, nhưng nhất định
không để ai chơi gác mình, đó
là một thuộc tính của tiền nhân chúng ta.
Dân Lạc Việt, suốt ngày ca hát đợi mùa lúa nước mà, Họ hiền thấy mồ!. Ân trả nghĩa đền, lòng biết ơn luôn là một thuộc tính khác của dân Lạc Việt. BaTàu, nước họ bự hơn ta cả về
dân số, về tiềm lực. Trước mắt ghim thù để đó. Họ phải “ V” để được
yên thân. Nhiều thế hệ tiếp nhau, vào đầu thế kỷ thứ 15, khi nước ta tan hoang dưới bàn tay của Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc, như đã nhắc bên trên, cho dù vua tôi bị bắt, nhưng trước khi vua tôi cùng chọn cái chết để đền ơn tổ tiên nước non, tỏ rõ khí phách mình, Tráng sĩ Đặng Dung đã kịp để lại hai câu cuối trong bài thơ Cảm Hoài rất lừng danh,
Quốc thù vị báo đầu tiên bạc,
Kỹ độ long tuyền đới nguyệt ma.
Ma là mài, trong vật lý ta có từ ma sát. Long tuyền là thanh kiếm báu, cây kiếm uy lực nhất thời
cổ, đây chỉ là từ ẩn dụ. Long tuyền là thứ vũ khí kinh người mà người Việt quyết tâm, cho dù có khó đến đâu cũng phải cố tìm cho ra, mài cho sắc, có ngày họ bỏ họ từ cái “Vờ” đi, mà đồng loạt đứng lên vung gươm Phù Đổng.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạc,
Kỹ độ long tuyền đới nguyệt ma.
==> Thù nước chưa xong, ==> đầu đã bạc;
Gươm mài bóng nguyệt đã bao ngày ( PKB dịch ).
Người xưa hẳn đã linh thiêng, ngày nay họ đang âm thầm ngày đêm phù hộ con cháu (đây là thuộc tính trong âm Việt, là sự bền bỉ theo đuổi đến tận đích cuối cùng ,âm iêt,). Bạn đã thấy, ngày nay một số lượng người Việt
rất trẻ và đông đảo, tuy sắc dân này đến sau, sinh sau đẻ muộn,họ đến định cư muộn màng tại đất nước Hoa Kỳ này; chỉ mới từ 1975 đến
nay thôi , nhưng
các khoa học gia Việt đã tích cực tham gia vào các chương
trình chế tạo võ khí hủy diệt siêu đẳng cho đất nước đã cưu mang họ . Họ ngày đêm chẳng quản nhọc nhằn , hy sinh
lạc thú, họ thực hiện lời thề từ tiền nhân Đặng Dung để lại “Quốc thù vị báo!”
Đất nước Hoa Kỳ này, nay là tổ quốc của họ sau khi họ đọc lời tuyên thệ nhận quốc tịch mới.
Vốn sâu đậm ( âm +iêt ) nhớ thương, trong tận đáy trái tim họ luôn luôn có một tổ quốc réo gọi khi ngước nhìn lên vầng trăng tròn sáng rực mang hình ảnh người Tráng sĩ mài gươm thiêng phục quốc treo lơ lững giữa trời trong mỗi đêm trăng rằm. Trong đầu mỗi con chim trong Đàn Chim Việt tha hương, và trong mỗi trái tim của người Việt khắp năm châu luôn ngày đêm thương nhớ về tổ quốc Đại Việt của họ !. Việt là dằng dặc. Ta cũng đừng lấy làm lạ, Đại Việt dưới mắt
dân ĐạiHán là một sự “ cao ngạo “, baTàu cho thế. Vì sao? Bởi chỉ có họ mới được dùng các từ Đại, nào ĐạiHán, Đại Đường, Đại Tống,
Đại Minh, từ chỉ được dùng cho
Thiên triều, nước Hán có Thiên
triều. Họ có hay đâu,
trong suốt chiều dài lịch sử, các vì vua
làm cho tổ quốc này xứng tầm với Đại Việt lại là các nhà vua có tâm hồn đạo Bụt.
Đại Việt là tập hợp các cuộc vượt lên một cách “vĩ đại “. Trong các cái gọi là vĩ đại đó, cái lớn nhất vẫn là cái Ta vượt lên chínhTa,
rằng ta đã Đại Ngộ! . Tiền nhân ta đã “ V” mà nhắc nhở chúng ta hãy “ Đại Việt” trong từng
mỗi bước đi, trong từng mỗi tế bào, trong từng cái trứng một từ thuở hồng hoang.
Sắc dân Lạc Việt có sức sống bền bỉ, người Nhật Bản
đã thấy. Bạn Hiền nhớ câu chuyện sau đây có liên quan đến nhân vật này, Tôn Dật Tiên, cha già của người Tàu ngày nay. Vào đâu khoảng năm 1905,1906, Tôn có đến nhà vị trí thức người Nhật Bản .
Vị này đang che
chở và tìm cách
giúp đỡ nhà cách mạng của chúng ta, cụ Phan bội Châu. Vào lúc ấy, Tôn Dật Tiên bị quỷ ám hay sao (
nói bậy để tự chuốc nhục) hay là thuộc tính baTàu nằm sẵn trong huyết quản, Tôn cho rằng cụ Phan thuộc sắc
dân Việt (越) có bộ tẩu [走], tẩu là chạy trốn. Từ tiềm thức, Tôn Dật Tiên bật môi nói lén với vị học giả người
Nhật này rằng, - Xưa nay, dân An Nam vốn quen làm nô lệ thì nay làm nô lệ cho Pháp cũng không là điều khó hiểu, bởi xưa nó vốn là nô lệ của Hán tộc tôi. Người Nhật vốn lễ độ thận
trọng trong giao tế thay vì mắng Tôn Dật Tiên, ông nhẹ nhàng “- Ngài đừng quên rằng Họ là dòng Bách Việt duy nhất còn tồn tại. Họ đã có một quốc gia riêng, Họ có một tiếng nói riêng; nay chẳng may vì sự vụng về của vua Nguyễn mà quốc gia Họ nay phải rơi
vào vòng nô lệ. Tôi trộm nghĩ chỉ trong thời gian ngắn hạn…, trong khi dòng Mân Việt thì... “, nói đến đây, ông trí thức người Nhật đáng yêu này bỏ lững. Tại sao ? Bởi
ông cảm động mà nhớ lại, vào cuối thế kỷ thứ 13, nhà Trần của nước Đại Việt đã đánh tan đạo quân Mông Cổ và dòng lịch sử thế giới xoay
chiều. Chính điều này mà Hiệp Hội Sử Gia Hoàng Gia Anh quốc xếp đức Trần Hưng Đạo vào một trong mười danh tướng
của thế giới. BaTàu không có
ai!. Nước Nhật của ông ngay sau
đó đã may mắn thoát nạn nhờ trận bão Thần Phong đã thổi đắm thuyền bè của quân Nguyên một phần khi nhà Nguyên xua quân xâm lược Nhật. Số lính Nguyên
Mông trong đó có cả bọn người Tàu tay sai, may mắn còn sống sót bò lên được hải đảo đều người
Nhật bị chém sạch. Quân Nguyên
Mông từ hai thất bại ê chề đó, nhất là xứ Đại Việt nhỏ bé nằm ở cực
nam đã làm cho họ xấu hổ, họ ngưng tính chuyện xâm lăng tiếp nước ông. Người Nhật có học sử sách, từ tận đáy lòng họ, họ đã âm thầm biết ơn dân Đại Việt. Tình cảm với dân Đại Việt nảy nở kể từ
ngày ấy. Tôn Dật Tiên tẻn tò đỏ mặt và làm thinh.
Tại sao? Bởi ông ta là người Phước Kiến thuộc dòng Mân Việt mà từ gần 2000 năm trước đã sáp nhập vào Sở rồi Sở bị Tần (
China) diệt. Người Mân vong quốc đã lâu. Đó là chưa kể người Mãn Thanh đã đô hộ dân CHINA gồm Hán tộc cùng 99 bộ tộc Việt trừ dân Lạc Việt đã từ 300 năm nay, thế thì chính dòng Mân Việt thì nay đang là dân nô lệ của Thanh, có gì để ông, Tôn Dật Tiên, hãnh diện đâu!.
Ông bà ta giận lắm. Thế nên tiền nhân ta suy
nghĩ lung lắm mới đặt ra âm Tàu để gọi họ. Một âm thuần Việt, laiquangnam
nhắc lại âm thuần Việt, độc đáo là tuy chỉ một âm thôi nhưng
đã gói gọn thuộc tính của sắc dân Phương Bắc này vào trong
từ ấy. Cội nguồn là vậy ( xin đọc phần II sẽ rõ ).
Thì thầm tâm tình như
thể tưởng đã đủ. Tôi và bạn hiền nay xem lớp trước và lớp sau giải thích từ nguyên của nó ra sao cái đã, trước khi anh em ta
quay về với âm Tàu, từ Việt ngữ cổ cội nguồn.
(Còn tiếp phần 2)
Laiquangnam
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét