laiquangnam
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
TẠI SAO GỌI HỌ LÀ NGƯỜI *TÀU?
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
hay “Cuộc chiến chữ nghĩa kéo dài 2000 năm giữa hai dân tộc Việt & Hoa “
PHẦN THỨ HAI
III – Các lời lý giải từ nguyên ‘Tàu”.
Chúng ta hãy cùng nghe lớp đàn anh vốn là người Việt giải thích .
1-Cách giải thích thứ nhất :
1a- Huình-Tịnh Paulus Của ghi “Người An Nam thấy tàu khách qua lại nhiều, lấy đó mà gọi là nước Tàu, người Tàu.”
1b- Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:
“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như
sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi
sang An Nam, nhưng dần từ baTàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”
1c- Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người
Hoa. ( laiquangnam chép lại Cách giải thích thứ nhất: từ anh Nguyễn Ngọc Chính (Hồi ức một đời người).
Ý kiến của
Laiquangnam
1a- Cách lý giải trên đây là
cách giải nghĩa từ nguyên bằng giải pháp “trông mặt mà bắt hình dong“. Cách này dễ quá, thuộc trình độ nào đều cũng có thể giải thích như thế, lọ là nay phải dựa vào cụ Paulus Của để làm tin.
Mình cũng có thể lý giải được như thế, nên mình dễ dàng được chấp nhận. Thủ pháp nghe âm rồi tìm hình ảnh bên ngoài gán cho nó, đó là cách làm xưa
nay của trường phái Từ Nguyên Học hoang dã. Đôi khi
lý giải cũng đung đúng trong một số trường hợp. Tàu là những chiếc ghe thuyền cập bến.
Ba là số đếm nên gán cho nó ba chiếc thuyền, cho ba địa danh, ba nhóm người đến rồi đặt trước âm Tàu. Một anh baTàu nào đó còn lý giải như sau, “ba” là ngôi thứ thân thiện trong gia đình người Việt . Anh cả, anh hai, anh ba… .Anh Cả nay phải ở lại trên đất Bắc, phải giữ mồ mã ông bà, phải chăm sóc cha mẹ già nên không
vào Nam lập nghiệp được. Anh
Hai có bổn phận thay anh Cả mà dẫn dắt các em vào Nam lập nghiệp, thế nên trong Nam không
có từ anh Cả , mà quen miệng gọi con mình từ thứ hai ” trở xuống. Trong nam chỉ có Anh Hai, Chị Hai là người anh, người chị lớn nhất trong nhà. Nay người Miền Nam lại có thêm anh Ba thân
thương. Anh Ba là người phụ anh Hai tiếp tay mà dẫn dắt các em nên người. Anh Ba này là người từ bên Tàu mới sang . Bạn Hiền nghĩ sao
? Bạn Hiền có ý kiến gì?. Cách giải thích này dễ dàng được giới bình dân bên
bàn nhậu chấp nhận. Vì sao? Vì tính người miền nam xề xòa, trong bàn nhậu thì ngộ nị líu lo. Tàu Việt đề huề khi họ còn tử tế được với nhau. Thế nên anh Ba đã dụ dân miền Nam ”?” đặt tượng ông Phật mập cao
máu, cao mỡ, dọa tiểu đường, rặc mùi Tàu Hán ngồi chểm chệ
trên đỉnh cao nhất của vùng Thất sơn Châu đốc. Anh Ba đã cùng
anh Hai dẫn dắt mấy Chú, tất cả lấy sự xuề xòa làm
vui vì đất nước có thêm một kỷ lục ĐNA. ”?” . Suy cho cùng, người xưa cỡ như ông Huình-Tịnh Paulus Của cũng thuộc trường phái Từ Nguyên Học hoang dã khi lý giải âm Tàu và baTàu.
2- Cách giải thích thứ hai:
Cách này khá hơn trường phái Từ Nguyên Học hoang dã kể trên, phát xuất từ những người có ăn học, có biết chút chữ Hán, hay họ chính là người Hán 100%. Họ bị cái vòng kim
cô thít đầu mình lại, ấy là do sự kém cõi của lớp người có ăn học trước đây, “- Người Việt vốn từ người Tàu mà ra” đây là câu kinh điển.
- Chính tên Việt gian Hoàng Cao Khải viết quyển Việt Sử Lược,
hắn đắc ý câu “Người Việt vốn từ Hán tộc mà
ra”.
- Phó Tiến Sĩ Sử học Chung Thâu, nguyên Chủ Tịch Hội Sử Học Hanoi “?” cho in lại vào thập kỷ 80 (19_/80) ngay giữa
trang giấy trắng thứ nhất của sách một cách trang trọng, như là một sự đồng tình của sử gia XHCN này, “100 %
cội nguồn của dân tộc Việt là từ Hán”.
- Tại Miền Nam Việt Nam thập niên 60, Giáo sư Linh
mục, Tiến sĩ Thần học
Nguyễn Phương tốt nghiệp tại Học Viện Công Giáo
Pháp”?” về nắm giữ chức giáo sư Trưởng Khoa Sử của VĐH Huế ”?”, Trưởng Khoa Sử trường ĐHVK Huế và Trưởng Khoa Sử trường ĐHSPĐIIcấp, Ban Sử Địa thuộc ĐHHuế ”?”. Ông Linh mục này cũng viết một câu chắc nịch như thế này.” Người Việt, tiếng Việt vốn từ Tàu mà ra cả“. Cha với Cố!.
Thế nên ngay khi bắt tay đi tìm một từ nguyên của một từ tiếng Việt thì các nhà Từ Nguyên Học đội Hán này có bước thứ nhất là luôn quy
chiếu về từ chữ Hán, qua đó mà lý giải. Họ thuộc trường phái “Từ nguyên học bán khai đội Hán”. Nhóm
này tuy có khá hơn về kiến thức nhưng nguy hiểm hơn nhóm nhà Từ nguyên học hoang dã gấp vạn lần hơn. Điều này cũng dễ hiểu.
- Ngoài Bắc XHCN có cái ông
PTS Ngữ văn, giáo sư tiến sĩ Nguyễn văn Tu cũng ghi trong giáo trình
cho sinh viên Khoa Ngữ văn rằng “ Trong tiếng Việt có hơn 75%
là từ có cội nguồn từ chữ Hán”, không thấy ông ta ghi lại là mình đã dựa trên thống kê nào. Thầy với bà!. Giáo với giếc!.
Kinh hoàng hơn, tại Saigon hiện nay, nghĩa là từ đầu thập niên 90 của thế kỷ thứ 20 cho đến tận giữa thập niên 20 của thế kỷ 21 lại xuất hiện "Học giả" ANCHI . Ông là nhà Từ nguyên học bán khai.
Ông được nhiều giới chức đại
học trong nước tôn vinh. Bạn Hiền vào Google
search gõ cụm từ “Học giả" ANCHI” là bạn biết tầm ảnh hưởng của ông. Nhà ngôn ngữ học và là khoa học gia hiện nay đang định cư tại Australia, ông Nguyễn Cung Thông sau khi đánh giá các bài viết của "Học giả"
ANCHI, đã lại ban cho ông lời khen với bốn chữ, “Học giả vỉa hè!”. Thật là tréo ngoe. Bởi Ngài CT _
UBND TP HCM vừa mới ký bằng khen tặng ông, rằng “có công đóng
góp cho văn hoá dân tộc”, hẳn là dân tộc XHCN ”?” chăng?. Ai đúng, ai sai, xin Bạn Hiền hãy đọc lại bài viết của "Học giả"
ANCHI dưới đây, laiquangnam sao lục.
* "Học giả" ANCHI, tại trang
http://nld.com.vn/tieng-viet-tinh-tuy/co-sao-goi-nguoi-trung-quoc-la-tau20141122214910842.htm
đã viết,
“ Một số người nghĩ đơn giản rằng sở dĩ ta gọi người Trung Quốc là “Tàu” bởi vì họ sang ta bằng “tàu”! Từ nguyên học đâu có dễ dàng và ngộ nghĩnh như thế.
“ Tàu là một yếu tố Hán cổ và trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt còn có nghĩa
là “xe”. Tàu (trong tàu bè) là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng
chữ 艚 (a)mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa là “thuyền”. Chữ tào 艚 này cũng
thông với chữ tào 漕 (b), mà
theo biện luận của Lưu Quân Kiệt trong Đồng nguyên tự điển tái bổ (Ngữ văn xuất bản
xã, Bắc Kinh, 1999) thì đều còn có nghĩa là “xe”. Cái nghĩa “xe” của từ tàu vẫn hiện hành trong tiếng Việt. Cứ so sánh tiếng Bắc, tiếng Nam thì thấy ngay. Cái mà trong Nam gọi là tàu thì ngoài Bắc gọi là thuyền. Rồi ngoài Bắc gọi là tàu hỏa thì trong Nam gọi là xe lửa. Thế là cái nghĩa “xe” đã thấp thoáng trong
danh ngữ tàu hỏa (nếu không đi sâu
vào từ nguyên thì dễ hiểu lầm đây là cách
dùng theo ẩn dụ). Rồi ngược lên đầu thế kỷ XX, cả trong Nam ngoài Bắc đều gọi máy bay là tàu bay. Thế là cái nghĩa
“xe”, mở rộng là “phương tiện chuyên chở”, đã nằm ngay trong danh ngữ tàu bay. Cho nên, trong thành ngữ tàu bay tàu bò thì cả hai thứ “tàu” này chẳng qua đều cùng là “xe”. Vậy thì có lẽ ta sẽ biện luận rằng
vì ngày xưa
Tàu sang ta bằng xe nên tổ tiên ta đã gọi họ là “Tàu” chăng? (Nên nhớ rằng họ đã sang ta từ xưa và sang thành
nhiều đợt, lẻ tẻ có, thành đoàn có và đây là cả một câu chuyện dài.
Chúng tôi khẳng định rằng Tàu là âm cổ Hán Việt của từ ghi bằng chữ 曹 mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa rộng là “cơ quan triều đình”, hiểu rộng ra là “quan”. Trong thời Bắc thuộc, nói chung giới cai trị là người Trung Hoa cho nên dân chúng đã quan niệm rằng người Trung Hoa là “tàu”, nghĩa là “quan”. Nếu cho rằng đây là một nếp nghĩ vô lý thì xin nhớ lại chuyện đã xảy ra hồi tháng 8, tháng 9-1945 tại Sài Gòn, dân
Việt Nam đã đánh bất cứ người Pháp nào mà họ gặp ngoài đường vì theo họ hễ là người Pháp thì đều là “thực dân”. Do quan
niệm trên mà về sau tất cả mọi người Trung Hoa dù không làm quan - đây là tuyệt đại đa số - cũng được “vinh dự” gọi là “Tàu”. Thế là cái danh xưng “Tàu” có một lịch sử đặc biệt và nét đặc biệt này gắn liền với sự cai trị của
phong kiến phương Bắc đối với dân ta, nước ta”.
Học giả ANCHI.
Nhât báo Người lao động tại tp HCM đăng vào năm 2014 .Không thấy bất cứ vị Giáo sư tiến sĩ Khoa Ngữ văn phản hồi. Làm thinh là đồng ý?. Làm thinh có thể do mình dốt hơn người nên không dám lên tiếng?, hay làm thinh vì nghĩ “chẳng ích lợi gì” khi dây dưa với cùi hủi khi hắn ta bày mê hồn trận?. Dù sao đi nữa thì lớp sinh viên anh em chúng ta cũng có chút ngậm ngùi lẫn kinh ngạc. Có thể có đến 99,9999 % người Việt Nam
hiện nay không biết thứ chữ quái quỷ này.
laiquangnam nay xin bỏ chút công giúp các Bạn Hiền hiểu là "Học giả" ANCHI nói gì khi ông ta lý luận lung tung a,b ,c ,d như thế . Trong đoạn văn trên, các câu mà laiquangnam ghi (a )đến (g ) tựu trung ông chỉ gom vào ba mục tiêu:
1- "Học giả" ANCHI cho âm Tàu mà người Việt dùng chắc chắn phát xuất từ âm Tào của Tàu. "Học giả" ANCHI lý luận, Âm Tào là một âm Tàu rất cổ. Âm Tàu ngoài các nghĩa mà người Việt hiểu và dùng chỉ vật di chuyển trên sông nước, nay còn có ý nghĩa là xe, có nghĩa là vật có thể di chuyển trên đường bộ nữa. Tại sao có thêm nghĩa này, nghĩa tàu nghĩa là xe. Cách lý giải này dựa vào sự lý giải mới nhất theo “biện luận" của Lưu Quân Kiệt trong Đồng nguyên tự điển tái bổ (Ngữ văn xuất bản
xã, Bắc Kinh, 1999) thì đều còn có nghĩa là “xe”.
2- "Học giả" ANCHI dùng một nhân vật xa lạ để cứu cho lời dẫn
giải của mình. Đây là
một trong các thủ pháp ngụy biện. Thủ pháp ngụỵ biện dựa vào một uy tín cá nhân. Liệu lý luận của ông Lưu Quân Kiệt có khả tín không?. Mà Lưu Quân Kiệt trong Đồng nguyên tự điển tái bổ (Ngữ văn xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999) có đủ uy tín với chúng ta chăng?. Ông này là ai? Có thật đây là lý luận của Lưu Quân Kiệt về chữ này như
"Học giả" ANCHI đã viết hay không? Tôi không mấy tin khi mà trong tay mình không có bài viết của Lưu Quân Kiệt.
Trong chữ Tào [艚 ] này, có bộ chu [舟] , chu là chiếc thuyền gỗ chở hàng trên sông nước. Trong ký tự này không hề có bộ xa [車], chỉ chiếc xe. Xe là công cụ di chuyển trên bộ. Thời xưa Tàu đã có từ thủy xa 水車 xe nước. Thủy xa 水車 hoàn toàn
không dính gì với từ tàu xe ở đây cả. Ngày ấy xe của Tàu do các con vật kéo cọc cạch. Động lực kéo là sức con vật, hay sức
người. Câu hỏi là tại sao "Học giả" ANCHI lại né gõ chữ Tàu vào mỗi một từ mà mình muốn lý luận mà lại nói lung tung Tàu (a, b ...) sau mỗi chữ quốc ngữ chi vậy?. Ông thực sự muốn đưa bạn đọc vào một con đường quanh
co tối hù để họ nãn lòng phải không?. Tôi
nghĩ như thế. Nay Bạn Hiền và tôi cùng quay lại câu này :“ Cái mà trong Nam gọi là tàu thì
ngoài Bắc gọi là thuyền. Rồi ngoài Bắc gọi là tàu hỏa thì trong Nam
gọi là xe lửa. Thế là cái nghĩa
“xe” đã thấp thoáng trong
danh ngữ tàu hỏa (nếu không đi sâu
vào từ nguyên thì dễ hiểu lầm đây là cách
dùng theo ẩn dụ)”. "Học giả" ANCHI.
Chỉ chừng này từ mà ta đã thấy "Học giả"
ANCHI sai te tua.“ Cái mà trong Nam gọi là tàu thì ngoài Bắc gọi là thuyền. Tại câu này, thuyền và tàu là hai khái niệm khác nhau. Thuyền không có động cơ tuy có thể lớn hơn bè và ghe bầu. Thuyền nay có thể có động cơ tùy theo thời điểm phát biểu cận đại hay bán khai. Nhưng “tàu “thì luôn luôn có động cơ. Cần phân biệt từ “ chiến thuyền”, ngày xưa đó là thuyền có động lực đẩy đi là sự phối hợp sức người chèo và sức gió.
Tiếp đến tại câu thứ hai này, “ Rồi ngoài Bắc gọi là tàu hỏa thì trong Nam
gọi là xe lửa. Thế là cái nghĩa
“xe” đã thấp thoáng trong
danh ngữ tàu hỏa (nếu không đi sâu
vào từ nguyên thì dễ hiểu lầm đây là cách
dùng theo ẩn dụ)". Tại câu này, tàu và xe là hai khái niệm khác nhau. Xe là xa trong tiếng Tàu cổ. Ngày ấy, xe trong tiếng Tàu là xa[車] do các con vật kéo cọc cạch. Động lực kéo là sức con vật hay sức
người trong khi tàu là xe là
khái niệm chỉ có khi người Việt tiếp xúc với văn minh của người Phương Tây. Câu trong ngoặc là câu xỏ lá, khinh người ( nếu không đi sâu vào từ nguyên thì dễ hiểu lầm đây là cách dùng theo ẩn dụ). Một anh giáo viên cấp hai mà bày đặt trèo cao mở giọng miệt thị người
có học trường lớp!. (xin lỗi bạn đọc, laiquangnam đã nổi nóng, phạm luật) "Học
giả" ANCHI ra đòn trước về miệt thị kiến văn của bạn đọc, xin mời bạn
đọc bài “Vài nét
Từ nguyên học là gì?”. Thủ pháp lý luận ngụy biện này được gọi là Thủ Pháp Ngụỵ Biện Đánh Tráo
Khái Niệm, áp đặt một thuộc tính vốn không có của từ, bởi nó “ không tồn tại vào đúng với thời gian thật của nó”.
Tôi nghĩ,
hai là quá đủ. Bạn Hiền và tôi đâu có quởn. Hãy để ông ta suy nghĩ trên những câu lý luận sai còn lại.
Tôi không nghĩ Lưu Quân Kiệt lý luận sai lầm ấu trĩ như
thế. Mục đích của Lưu Quân Kiệt là tìm từ ấy có từ thời cổ, ít nhất cũng cách ta trên
dưới 1000 năm, kho từ cổ của Tàu chính là nguồn Việt ngữ nay đang xử dụng. Số từ Hán Việt mà nay người Việt còn dùng, người Tàu họ gọi là âm Hán đời Đường, tiền nhân của họ đã dùng trước đây “?” . Nguyên cứu cội nguồn ngôn ngữ cũng là cách khảo sát và quy chiếu địa bàn và cội nguồn dân tộc mình. Lưu Quân Kiệt làm theo tư tưởng ĐạiHán của ông ta. Là người Việt chúng ta chống lại theo cách của ta. Chúng ta quyết liệt chống lại lập
luận của trường phái TừNguyênHọc BánKhai như
"Học giả" ANCHI đang xử dụng rất nhuần nhuyễn trong các bài viết của mình khi lý giải từ nguyên Việt ngữ, đôi khi đầy chất lưu manh như
bạn đã vừa đọc bài báo trên
tờ nhật báo Người Lao Động vào năm 2014
mà laiquangnam vừa trích dẫn kể trên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét