Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

LẠI QUẢNG NAM
[ Tiếp Theo ]


IVb-Bản dịch của Hoàng Tạo.
Bản văn này dùng trong sách giáo khoa dành cho sinh viên, học sinh và giáo sinh sư phạm trong nước hiện nay. Ông dịch từ 50 câu Nguyên tác sang 50 câu quốc âm. Gồm 12 khổ song thất lục bát + hai câu lục bát kết thúc.
BÀI CA NGƯỜI GẢY ĐÀN Ở LONG THÀNH
1. Đất Long Thành khách giai nhân nọ,
2. Không nhớ ra tên họ là gì,
3. Nguyễn Cầm nổi tiếng đương thì,
4. Tên Cầm mượn của đàn kia gọi người,
5. Khúc “Cung phụng” những đời vua trước,
6. Tưởng quân tiên nhã nhặn khôn bì,
7. Nhớ hồi tuổi trẻ xưa kia,
8. Đêm bên hồ Giám một kì tiệc vui.
9. Xuân độ ấy đương hồi ba bảy
10. Ánh hồng trang lộng lẫy mặt hoa
11. Não người vẻ rượu ngà ngà
12. Năm cung dìu dạt này qua phím đàn
13. Tiếng khoan thỏang thông ngàn gió thổi
14. Tiếng trong như hạc gọi xa xăm
15. Mạnh như Tiến Phúc sét gầm
16. Buồn như Tiếng Việt, Trang nằm đau rên
17. Ai nấy nghe nhường quên mệt mỏi
18. Rõ tiếng đàn đại nội Trung Hòa
19. Tây Sơn quan khách la đà
20. Mải vui quên cả tiếng gà tan canh
21. Tả lại hữu tranh giành gieo thưởng
22. Tiền như bùn ước lược qua qua
23. Vương hầu thua vẻ hào hoa
24. Ngũ Lăng chàng trẻ ai mà kể chi
25. Băm sáu cung xuân kia chung đúc
26. Đất Trường An hạt ngọc liên thành
27. Hai mươi năm, tiệc qua nhanh
28. Tây Sơn sụp đỗ thì mình về Nam
29. Chốn Long Thành tấc gang chẳng tới
30. Còn nói chi những buổi đàn ca !
31. Nặng tình quan Sứ tiễn ca
32. Tiệc hoa kén những bông hoa nói cười
33. Mé cuối tiệc một người nho nhỏ
34. Tóc hoa râm mặt võ mình gầy
35. Bơ phờ chẳng sửa đôi mày
36. Tài hoa ai biết đất này không hai!
37. Thỏang mấy tiếng, thầm rơi gịot lệ
38. Lọt tai mà như xé tấc son
39. Giật mình hai chục năm tròn
40. Tiệc bên Hồ Giám người còn chưa quên
41. Cuộc thương hải tang điền thấm thoắt,
42. Cõi nhân gian thành quách đổi dời
43. Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi
44. Mà làng ca vũ một người còn trơ!
45. Ngán trăm năm thì giờ chớp mắt
46. Lệ thương tâm ướt vạt áo là
47. Nam về đầu bạc ngẫm ta
48. Trách gì hương phấn bông hoa chẳng tàn
49. Trừng trừng đôi mắt mơ màng
50. Quen mà hóa lạ nghĩ càng thêm thương!
HOÀNG TẠO dịch thơ

Hoàng tạo dịch sang quốc âm từ bản văn gốc của
LÊ THƯỚC, TRƯƠNG CHÍNH, (Thơ chữ Hán Nguyễn Du. )
Laiquangnam sao lục từ giáo sư PTS Lê Thu YÊN, Thơ NGUYỄN DU, Nxb-Đồng Nai, 2003.
Chuyện khen chê là của người đọc. Bạn có thể vào Google search đọc bài viết của Duy Phi về Bản dịch sang thơ Quốc Âm này. Và đọc bài bình của giáo sư Lê Bảo dành cho SV của ông trong khoa ĐHSP HANOI, ban VĂN.
Vài giòng tâm tình xin chia sẻ cùng lớp 1, 5.
Các bạn sẽ phải đọc tất cả các bản dịch sang thơ Quốc Âm của bài Long Thành Cầm Giả Ca, bởi phải như thế thì bạn mới tránh được sự lặp lại cái chưa đạt của thế hệ đi trước khi bạn bắt tay dịch thơ bản văn này. Tôi ước mong các bạn sẽ làm công việc còn tồn đọng mà thế hệ tôi làm chưa đạt. Thật là xấu hổ khi mà trên đất Việt lẽ nào để một bài thơ Đường Tì Bà Hành của Bạch cư Dị làm mưa làm gió cả trong giới hát ả đào lẫn giới thi nhân lấn lướt nhờ bản dịch sang thơ Quốc Âm của Phan huy Thực, trong khi bản văn chữ Hán bài Long Thành Cầm Giả Ca của thi hào Nguyễn Du ở tầm cao hơn hẳn về nội dung nhưng do vì không có bản dịch sang thơ Quốc Âm “có hồn”.
Việc dịch sát ý của nguyên tác là điều bắt buộc. Ý nguyên tác là gì ?. Có bao nhiêu cáiGọiLà “Ý nguyên tác” được chấp nhận?. Nhớ trong Nam Hoa Kinh có câu chuyện Hiếu Tử. Hiếu Tử nhìn say mê bầy cá lội trong chậu, thích quá ông reo. _ “cá lội vui quá!”. Có một anh tài khôn, quen thói móc họng, một cố tật không bỏ, nói hớt, _” ông có phải là cá không mà ông biết cá vui”. Bực mình, _à cái thằng cha này ngộ thiệt!, rất nhẹ nhàng nhưng hơi mĩa, Hiếu Tử nói _”rằng ông có phải là tôi không mà không biết cá đang vui. ”. Nín khe!. Mỗi người dịch họ là một Hiếu tử. Ok. Nhưng “ông Hiếu tử nào” là người khiến cho bài thơ Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du được phổ biến như Tì Bà Hành của Bạch cư Dị qua công dịch chuyển ngữ của Phan HuyThực mới là điều đáng làm cho người Việt tri ân. Cái hên của Tì Bà Hành là từ dạo xa xưa giới cô đầu tại Hanoi đã mang nó phổ vào ca trù, và giới “hát ả đào” hát nó hằng đêm bên các nhà thơ nhà văn lim dim nằm bên bàn đèn, rồi được “văn thi sĩ tiền chiến” nhắc nhở hoài nên nó trở nên bất tử. Đó cũng chẳng tự hào gì bởi bản gốc là từ China. Chỉ khi có một bản dịch sang thơ Quốc Âm tốt thì sẽ nhiều lời bình của thầy cô giáo cùng đám học trò của họ mới hy vọng đẩy bài thơ của tiền nhân ta lên tầm cao mới. Giả định nếu như không có bản dịch sang thơ Quốc Âm của Phan Huy Thực thì bản Tì Bà Hành nguyên tác cũng đã tiêu rồi, tỉ như tại Nhật Bản thì bản văn hay nhất của Bạch cư Dị là bài Trường hận ca được họ chọn. Việt Nam ắt cũng sẽ thế nếu như không có bản dịch Việt ngữ của Phan Huy Thực. Vậy sự sớm xuất hiện một bản dịch sang thơ quốc âm là việc cần thiết nhất, sau đó vòng lặp sẽ được lặp lại và sẽ đẩy danh tác này tiến nhanh về phía trước. Ý nguyên tác không buộc ta phải dịch một chữ từ ngôn ngữ nguồn ( Hán) sang một chữ thuộc ngôn ngữ đích (Việt) mà là ngữ cảnh toàn câu ẩn phía sau câu ấy nữa. (4) Ví dụ minh họa, ta thử lấy trường hợp Phan Huy Thực dịch Tì Bà Hành của Bạch cư Dị. Từ 4 câu nguyên tác
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành (Bạch cư Dị )
Sang thơ quốc âm
==> Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai. ( PHT)
Rõ ràng các từ Hán (nguồn) khác với các từ Việt (đích).
Chúng ta thử khảo sát câu này “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân”, tạm dịch nghĩa như sau “cả hai chúng ta đều là kẻ lạc loài, có nghĩa là cả hai đều rơi vào một xã hội mà những người quanh ta không phải là người chúng ta đồng chia sẻ tình cảm và sở nguyện “, vậy mà ông dịch ==> Cùng một lứa bên trời lận đận. Lận đận là gì?_ lận đận là đường vào đời không suông sẻ, khiến cho ai đó phải cam chịu nhiều vất vả hơn lên. Chúng ta “cùng một lứa “, là cùng một thế hệ tuổi tác, trong khi nguyên tác của Bạch cư Dị có ý là “ hai ta đồng thời là kẻ lạc loài”. “trời lận đận” được hiểu Việt ngữ lung linh hơn hẳn “ thiên nhai luân lạc nhân/ là kẻ lạc loài trong trời đất ”. Phan Huy Thực dịch đạt như thế vì ông đã am tường tiểu sử của cả hai nhân vật này, một là, thực tế của người đánh đàn qua lời kể trong văn bản, hai là tâm trạng của tác giả Bạch cư Dị lúc nghe bản đàn này, là lúc này ông bị huyền chức, bị đày đi nhận nhiệm sở nơi khỉ ho cò gáy. Hai nhân vật này rơi vào cùng một thời điểm thì họ quả thật là “lận đận”. Trong Việt ngữ từ “lận đận” mang một sức sống rất Việt, đầy cảm xúc long đong, lao đao, cái chi không ra cái chi…. . Rồi câu cuối “Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành”, trích là bị lưu đày; trích cư là bị đưa đến ở tại vùng đất lưu đày.
==> nằm liệt giường tại vùng đất lưu đày Tầm Dương (địa danh)
Ông đã dịch thành
=> Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai.
“gối sầu hôm mai. ” Cụm từ này không hàm chứa nội dung gì là Bạch cư Dị đang “đau liệt giường cả “, ấy vậy mà mọi người đều OK. Câu thơ dịch của Phan HuyThực vượt qua nguyên tác vì ngôn ngữ Việt của ông lung linh quá. Chắc chắn là người Tàu khi họ đọc câu nguyên tác sẽ không cùng thấy được cái lung linh trong ngôn ngữ của Bạch cư Dị như khi người Việt đọc hiểu Bạch cư Dị qua bản văn Việt ngữ. Các nhà thơ của ta khi bình bài Tì Bà Hành tưởng rằng đang bình thơ của Bạch cư Dị từ nguyên tác, thực ra là họ bình bản “tái tạo” bằng thứ ngôn ngữ Việt lung linh của Phan huy Thực, một danh sĩ người Việt đã dồn sức thổi hồn cho nó. Bà Đoàn thị Điểm, người mà thời đệ ngũ, lớp chúng ta đã học, đã chuyển ngữ qua bản chữ Hán Chinh Phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng thế. Vấn đề “tồn tại”là ngôn ngữ Việt dịch có được người đọc “cảm“ được cái thần của nguyên tác mà họ không cần phải tìm bản gốc để đối chiếu mà thôi. Chính vì bản dịch sang thơ Quốc Âm của Phan Huy Thực quá hay mà khiến cho nhiều người bình Tì Bà Hành, dĩ nhiên trên >90% lời bình khen hay là do từ bản dịch quốc âm này chứ không từ văn bản nguồn nguyên tác chữ Hán. Đó là một kinh nghiệm mà laiquangnam muốn chia sẻ.
Laiquangnam.
Kỳ tới
Phần III
Phần 3 –những điều chưa biết về bản văn Long Thành Cầm Giả Ca.
Giới thiệu và bình về nội dung của “Khúc Cung Phụng”+ điển tích Trang Tịch.
Từ đó bạn sẽ bất ngờ về thái độ rất kẻ sĩ, rất can đảm của một đứa con cưng đất KINH BẮC, Nguyễn Du tiên sinh.
Ghi chú riêng
1-Theo laiquangnam các bạn có thể dùng tạm Bản dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn trên mạng internet hay tại link “hoa sơn trang”. Lý do laiquangnam né vì bài quá dài, đọc rất ngán, rất “nản lòng chiến sĩ”. Vả lại việc truy cập internet ngày nay quá dễ dàng, Laiquangnam xin dành lấy thì giờ quý báu của các bạn đất này để giới thiệu sâu về những gì mình hiểu về bản văn này như thế có lợi hơn. Laiquangnam e rằng một lời dịch xuôi không kỷ, không chứa nhiều data sẽ không “hay “ mấy cho những ai đang có ý định dịch lại bản văn này theo cách hiểu của mình.
2-Chữ có màu đỏ giúp bạn tìm tư liệu với Google search qua cụm từ màu đỏ này.
3- S(s)ao S(s)ao lạ, gồm “sao sao “là trạng từ kép, sao sao là một trạng thái bất định. Sao (là Star, là minh tinh), Sao lạ, lúc nghe ngâm tai quan trọng hơn mắt. *sao sao lạ xin hiểu, Sao/sao, Sao sao lạ, Sao, Sao lạ, saosao lạ …. Tiếng Viêt với thứ chữ alphabet thật là tuyệt hảo. Sao vừa là từ cong cụ vừa là danh từ, sao sao vừa là tính từ chỉ trạng thái ….
*Long Thành Giai nhân sao sao lạ,
Tính danh nàng dấu quá kỹ càng,
Một đời diệu thủ Nguyễn đàn
4-Người thành đối nghiệp tặng nàng “ Cầm” danh.
Lên giọng tại hàng chữ đậm cho phù hợp với Nguyên tác và bình thường với chữ thường.
Đó là cách duy nhất để hiểu tác giả muốn vinh danh người đánh đàn.
4- Xin đừng mang “chân thiên mỹ “ ấm ớ, lý thuyết trên trời bàn trên mạng mang vào đây.
Bạn gõ Google search “yếu tố tín đạt nhã trong dịch thuật “ hay “yếu tố chân thiện mỹ trong dịch thuật“.
Nghe phát bực.
5- Tiểu sử Nguyễn Du cho biết năm tiên sinh 17tuổi, tiên sinh bắt đầu đi thi, ông theo con đường khoa bảng của cha anh mình. Người anh đang cưu mang ông lúc này là một là đại quan trong triều thời Hậu Lê bỗng nhiên lại bị “bọn kiêu binh” đốt sạch, phá sạch cơ dinh. Gia đình tan nát, ông bị nghẽn đường công danh và phải nương nhờ vào một võ tướng. Điều này giống như câu truyện “bia Tiến phúc”
6- Gia Long phá Viện Sùng Chính, huỷ việc dùng chữ nôm trong các văn bản hành chánh công quyền, từ nay đất nước này chỉ còn độc một thứ chữ Hán được lưu hành trên giấy mà thôi. Dân tộc này mất tiếng nói bởi chính người Việt. Xin mời đọc sự tích Trang Tịch tại phần 3.
7- phích lịch (chữ Tàu) là sét đánh thình lình
8-Tại link, http://duyphitho. blogspot. com/2012/05/tho-chu-han-nguyen-du-duy-phi-bien-dich. html?showComment=1394564488964#c1678703912054365605
Có nhiều điều đáng đọc và suy nghĩ.
9- Con số đàng sau một từ có ý gì ? Ví dụ tại câu 1
Long thành giai nhân (1)
91) đứng sau từ giai nhân. Từ giai nhân sẽ được giải nghĩa cho rõ qua Việt ngữ. Có tất cả 26 từ cần phải giải nghĩa. Việc giải nghĩa này sẽ nằm trong một phụ trang. Tuy nhiên khi bạn dùng bản dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn thì Bạn Hiền cũng hình dung ra nghĩa của nó một cách tương đối. Tuy nhiên bản của nhà thơ Quách Tấn chú nghĩa cũng sơ sài lắm.

10- Tấm lòng của HOC CANH không chê vào đâu được khi mà HANOI thời ông, đó đây giới ca trù ngày đêm hát ngâm bài Tì Bà Hành của Bạch cư Dị qua Bản dịch sang thơ Quốc Âm của PHAN HUY VỊNH (PHAN HUY THỰC ?). Ông bực?  Một đất nước văn vật như chúng ta lại không có một bài thơ hay hơn bài thơ của Tàu Hán sao ? Và ông đã để lại một bản “ nguyên tác “ khác. Đáng quý thay.
11-Bạn để ý ngay câu đầu Nguyên tác
Long Thành giai nhân
Tính thị bất kí thanh
Nhà thơ Quách Tấn dịch xuôi
Người đẹp đất Long Thành
Không nghe tên h
Rõ ràng nhà thơ Quách Tấn đã không chú ý đến hai câu này trong tâm thức của Nguyễn Du tiên sinh.
Ý của tiên sinh Long Thành giai nhân hòan toàn khác với giai nhân của Tàu Hán trong thời Hán cách đây hơn 2000 năm, bài “giai nhân ca “ của Lý Tiên Diên. Nguyễn Du hàm ý giai nhân Lạc Việt phẩm chất cao hơn nhiều. Trong phần 3 bạn sẽ rõ ý của Nguyễn Du khi laiquangnam giải mã. Chính lối dịch xuôi như thế này không giúp ích gì cho các thi nhân Việt Nam giới trẻ hiện nay không rành Hán mấy sẽ không có động lực bắt tay dịch thơ văn bản này.
Và Học Canh dịch ==>
Thành Thăng Long nhớ từ thuở nọ
Bậc giai nhân tên họ ai hay ( Học Canh, cuối thế kỷ 19 )
Và Hoàng Tạo dịch ==>
Đất Long Thành khách giai nhân nọ,
Không nhớ ra tên họ là gì,
(Hoàng Tạo, giữa thế kỷ 20 )
Do bởi muốn chèn “ tên họ “ ở câu thứ hai nên phải sửa chữ cuối ở câu thứ nhất thành chữ “nọ”.
11- Điều này ta rất dễ thấy trong cách dịch thơ Đường của lớp đàn anh ở Viện Hán Nôm Hà Nội khi dịch thơ đường bằng phép dịch áp 1-1 bài “Tỉnh Dạ Tứ “ của Lý Bạch. Người sau ngôn từ “y chang” với người công bố bản dịch đầu tiên với hai câu cuối ” Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương”. Chúng ta đã phí thì giờ với các bản áp dịch này.
12- Vài câu từ hai bản chữ Hán khác nhau dẫn đến hai bản dịch sang thơ Quốc Âm khác nhau.
Dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn là “ Tiếng khoan như gió thoảng qua rừng thông”
12. 1-Câu Nguyên tác Hoãn như sơ phong độ tùng lâm (Đào Duy Anh )
==> Hoàng tạo dịch” Tiếng khoan thỏang thông ngàn gió thổi”
Câu Nguyên tác 13-Hoãn như lương () phong độ tùng lâm(LN)
Học Canh dịch ”Khoan như gió lướt thông ngàn “
rất tiếc là cụ Học Canh là người Bắc ? không phải là dân Quảng Nam quê tôi hay dân Thừa Thiên, dân Trung eo nên cụ không dùng từ lại Nồm.
12. 2 Câu Nguyên tác
Dịch xuôi của nhà thơ Quách Tấn, Tiếng buồn như Trang Tịch ngâm tiếng Việt lúc bệnh,
Hoàng tạo dịch, Buồn như Tiếng Việt, Trang nằm đau rên
Học Canh dịch, Nỗi lòng Trang Tích âm thầm mà đau
Việt ngữ và Hán ngữ, Ngâm , giọng kéo dài ra như ngâm thơ, giọng kéo dài ==> người Tàu dùng cho ý “rên rĩ “. Việt ngữ có từ, coi chừng bà ấy ngâm lên thì phiền lắm. Trong ý thơ chỗ này, Nguyễn Du viết thái độ vui vẻ, bởi với kẻ sĩ chết là trở về sau khi mọi sự đã sắp đặt yên bề. Xem tích Trang Tịch tại phần Ba. Người “nô lệ’” vong quốc sử, lúc chết là lúc họ được tự do nhất bởi không còn bị sợ tù đày, trả thù… v. v. Rõ ràng các vị tại viện Hán Nôm Hà Nội không mấy cẩn thận. Thời ấy viện HÁN NÔM VNDCCH do anh Tàu Hán mắc dịch VŨ KHIÊU làm viện trưởng nên lão ta đã làm lơ để cho các “ chú Việt Nam” tự mình làm “người đốt đền “. Câu dịch cúa Học Canh hay hơn nhiều so với bản văn dùng trong sách giáo khoa hiện nay.
Có lẽ lớp đàn anh của laiquangnam đã không chú ý đến mà thi hào Nguyễn Du xác quyết, câu 6, “Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh’ ; bởi tiên sinh là là chứng nhân duy nhất nghe được bản đàn này và hiểu bản đàn này; nay sự xác quyết này giúp chúng ta dựa vào đó mà lý luận, trên Data này cho thấy:
Niềm vui, niềm khoái lạc nhất mà trời đất cho ta “là trời lại nồm tại thời điểm trưa hè oi bức “. Trong 36 thứ khoái của Kim Thánh Thán, danh sĩ đời Thanh cũng kê nó vào hàng đầu. Điều này cho thấy sự xác quyết của Nguyễn Du tinh tế đến mức nào.
Nỗi buồn đau sâu xa nhất của con người là gì ? đó là vong quốc sử toàn diện mà ngôn ngữ /”Việt ngữ” là thành trì tự vệ cuối cùng mà cũng bị phá hoại xem tích Trang Tích ở phần ba tại trang web này.
13- Câu Nguyên tác
Hoàng tạo dịch, từ Câu Nguyên tác của Đào Duy Anh, Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong ==> Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi.
Học Canh dịch, Nguyên tác 43-Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong (LN) ==> Rồi một sớm bại thành là thế, 西山基業一旦盡消亡 9, Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong ==> Than ôi, một sớm cơ nghiệp Tây Sơn lại tan tành sạch!.
Và giáo sư đại học về văn học cổ Việt Nam là Nguyễn Huệ Chi mới đây còn dịch là “Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch, ” thì nói gì đến lớp sv của ông làm sao có thể hiểu khác ông. Đến đây bạn mới thấy
14-bạn cần vào link này để tìm đọc
http://duyphitho. blogspot. com/2012/05/tho-chu-han-nguyen-du-duy-phi-bien-dich. html?showComment=1394564488964#c1678703912054365605
Xin đọc trang của anh DUY PHI, nay ANH đã mãn phần. Anh có than thở về các bản dịch sang thơ Quốc Âm bài Long Thành Cầm Giả Ca trong sách giáo khoa. Như nước đổ đầu vịt. Đáng buồn cho một đất nước có quá nhiều, có đến hàng ngàn tiến sĩ Hán Nôm, người đốt đền thì quá đông.
Tham khảo
1-Quách Tấn, Tố Như thi, nxb An Tiêm, Saigon 1973
2-Duy Phi, 249 bài thơ chữ Hán Nguyễn Du, nxb VHDT, 2003
3-Nguyễn thạch Giang, Trương Chính, Nguyễn Du, Cuộc đời và tác phẩm, nxb VHTT, 2002
4-http://www. diendantheky. net/2014/02/gsts-tran-van-khe-man-am-am-nhac-trong. html
5-http://www. jaist. ac. jp/~dnthao/index_files/@Books/CoCam NguyenDu. pdf
Các “Đỉnh cao” trong nước viết quyển Từ điển văn học (bộ mới), Nxb thế giới, 2004, tr. 1122, nêu ý của GS. Nguyễn Lộc, như sau:
Long thành cầm giả ca là tác phẩm viết về một con người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy, không còn ai chú ý đến nữa. Nhà thơ tỏ lòng xót thương ngậm ngùi của mình, và nghĩ đến cuộc đời dâu bể. . . Bài thơ mang một tinh thần nhân đạo cao cả. Nhưng nó có một khía cạnh rất đáng chú ý là chính trong bài này, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Thái độ của ông thế nào thật khó hiểu. Bài thơ không có tí gì gọi là thù địch với Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải chăng đến giai đoạn này, do có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nhìn nhận của nhà thơ đối với triều đại trên có thay đổi gần với chân lý hơn?. . . [6]
Bạn hiền tìm được data gì qua các dòng trên ?
Cầm Giả Dẫn, Nguyễn Du, Lê Văn Ðặng phiên lục và trình bày tại link:
http://www. jaist. ac. jp/~dnthao/index_files/@Books/CoCam NguyenDu. pdf
LVD có lẽ đã theo sách Lãng Nhân trong Hán văn tinh tuý, trang 305, thì bài này do Học Canh dịch.
Trần Văn Khê viết “Tuy nhiên, do không phải là người "trong nghề" nên cụ Nguyễn Du không đý rằng ngoài hai bản "Thập diện mai phục" và "Quá quan" viết cho đàn tỳ bà” ……Trần Văn Khê.
Trong khi đó Nguyễn Du phớt lờ nhạc Tàu trong Long Thành Cầm Giả Ca và ông xác quyết, đây là bản nhạc hay nhất trần gian mà tôi đã từng nghe. Khi viết Đoạn Trường Tân Thanh ( Kiều ) thì ông cho Vương Thúy Kiều đánh nhạc Tàu Hán.
Nguyễn Du
http://123hoang. wordpress. com/sach/chan-dung-nguyễn-du/chan-dung-nguyễn-du/

Chân dung Nguyễn Du, Từ khảo luận của nhóm học giả thời VNCH // (Khảo luận của Vũ Hoàng Chương – Nguyễn Sỹ Tế – Nguyễn Văn Trung – Trần Bích Lan – Đinh Hùng – Doãn Quốc Sỹ – Việt Tử – Trần Thanh Hiệp – Phạm Thếng – Thanh Tâm Tuyền – Vũ Khắc Khoan – Nguyễn Thị Sâm)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét