Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

LAIQUANGNAM
                     
                         Laiquangnam giới thiệu thơ tiền nhân
        LONG THÀNH CẦM GIẢ CA
                  Nguyễn Du



                                       Phần II
            Bản văn chữ Hán đã hiệu khảo
và Bản dịch sang thơ Quốc Âm từ văn bản này

          Như laiquangnam đã đề cập trong phần một, tại cùng trang web này ( http://www. art2all. net/tho/laiquangnam/lqn_nguyendu_longthanhcamgiaca_1. htm ). Các câu có đánh số là các câu hay nhất đã tinh lọc giữa hai bản văn thuộc nhóm I/(ĐDA) sưu tập gồm Đào Duy Anh, Nguyễn Thạch Giang và nhà thơ Quách Tấn và nhóm II /do công sưu tập của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc như đã đề cập tại phần I, “I-Hiệu khảo bản văn Long Thành Cầm Giả Ca” của Nguyễn Du.

Bản văn chữ Hán sau đây là bản đã tổng hợp từ hai bản, một từ bản của nhóm Đào Duy Anh và của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc như đã nói ở phần 1.

I- Nguyên tác

1. 龍城佳人
2. 不記名字
3. 獨善絃琴
4. 舉城之人以琴名
5. 學得先朝宮中供奉曲
6. 自是天上人間第一聲
7. 7-余憶少年曾一見 OK
8. 監湖湖邊夜開宴
9. 9-其時三七正芳年 ok
10. 10-春風掩映桃花面 ok
11. 酡顏憨態最宜人
12. 歷亂五聲隨手變
13. 緩如涼風度松林
14. 清如隻鶴鳴在陰
15. 烈如荐福碑頭碎霹 (ok, )
16. 哀如莊舄病中為越吟
17. 聽者靡靡不知倦
18. 18-盡是中和大內音 OK
19. 西山諸臣滿座盡傾倒
20. 20-徹夜追歡不知曉 OK
21. 左拋右擲爭纏頭
22. 泥土金錢殊草草
23. 23-豪華意氣凌公侯 OK
24. 五陵年少不足道
25. 并將三十六宮春
26. 26- 活做長安無價寶 OK
27. 此夕回頭二十年
28. 西山敗後余南遷
29. 咫尺龍城不復見
30. 何況城中歌舞莚
31. 宣撫使君為余重買笑
32. 席中歌妓皆年少
33. 席末一人髮半華
34. 34-顏瘦神枯形略小 ok
35. 狼藉殘眉不飾粧
36. 36-誰知就是當時城中第一妙 OK
37. 舊曲新聲暗淚垂
38. 耳中靜聽心中悲
39. 猛然億起二十年前事
40. 40-鑑湖席中曾見之 ok
41. 城郭推移人事改
42. 幾度桑田變蒼海
43. 43-西山基業一旦盡消亡 OK
44. 歌舞空留一人在
45. 瞬息百年曾幾時
46. 傷心往事淚沾衣
47. 南河歸來頭盡白
48. 怪底佳人顏色衰
49. 雙眼瞪瞪 空想像
50. 可憐對面不相知

II- Phiên Âm

1. Long thành giai nhân (1)
2. Tính thị bất ký (2) thanh
3. Độc thiện nguyễn cầm (3)
4. Cử thành chi nhân dĩ cầm danh
5. Học đắc tiên triều (4) Cung Trung Phụng Khúc
6. Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh
7. 7-Dư ức thiếu niên tầng nhất kiến
8. Giám hồ (5) hồ biên dạ khai yến
9. 9-Kỳ thời tam thất chính phương niên (NTG)
10. 10-xuân phong yểm ánh đào hoa diện (LN)
11. Đà nhan hàm thái tối nghi nhân
12. Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ biến
13. 13-Hoãn (6) như lương (7a) phong độ tùng lâm (LN)
14. 14-Thanh (7) như SONG hạc minh tại âm (NTG)
15. Liệt như tiến phúc (8) bi đầu toái phích lịch (9. )
16. Ai như Trang Tích (10) bệnh trung vi Việt ngâm (11)
17. Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
18. 18-Tận thị Trung hoà (12) đại nội âm (LN)
19. Tây sơn (13) chư thần mãn toạ tận khuynh đảo
20. 20-Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu (LN)
21. Tả phao hữu trịch tranh triền đầu (14)
22. Nê thổ (15) kim tiền thù thảo thảo
23. 23-Hào hoa ý khí lăng công hầu (LN)
24. Ngũ lăng (16) thiếu niên bất túc đạo
25. Tinh tương tam thập lục cung xuân
26. 26-Hoạt tố trường an (17) vô giá bảo (NTG)
27. Thử tịch hồi đầu nhị thập niên (18)
28. Tây sơn (19) bại hậu dư nam thiên
29. Chỉ xích Long thành (20) bất phục kiến
30. Hà huống thành trung ca vũ diên
31. Tuyên phủ sứ quân (21) vị dư trùng mãi tiếu
32. Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
33. Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
34. 34- Nhan sấu thần khô hình lược tiểu (NTG)
35. Lang tạ tàn my bất sức trang
36. 36-Thuỳ tri tựu thị đang đương thời thành trung đệ nhất diệu (22)
37. Cựu khúc tân thanh ám lệ thuỳ
38. Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
39. Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên (23) tiền sự
40. 40-Giám hồ tịch trung tằng kiến chi (NTG)
41. Thành quách suy thôi di nhân sự cải
42. Kỷ xứ tang điền biến thương hải
43. 43-Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong (LN)
44. Ca vũ không di nhất nhân tại
45. Thuấn tức bách niên năng kỷ thì
46. Thương tâm vãng sự lệ triêm y
47. Nam Hà (25) quy lai đầu tận bạch (26)
48. Quái để giai nhân nhan sắc suy
49. Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
50. Khả liên đối diện bất tương tri.


III- Dịch thơ quốc âm

Đây là Bản dịch sang thơ Quốc Âm thể Song thất lục bát. Trước khi bạn đọc bản văn dịch này bạn đọc lại phần I –
I- Hiệu khảo bản văn Long Thành Cầm Giả Ca của Nguyễn Du
Laiquangnam.
Theo kinh nghiệm cho thấy, bốn câu đầu trong Nguyên tác của Nguyễn Du rất khó dịch, bởi rất dễ làm tầm thường hoá một văn bản của tiền nhân. Nó là dạng thơ ở thể ngâm. Tác giả bước đầu nhằm gây sự sự tập trung cao độ vào người đang lắng nghe rằng : “ _chuyện gì vừa xảy ra tại đất Long Thành này vậy ?”. _Thì có một Giai nhân xuất hiện với các phẩm chất như thế này :
“ Long thành giai nhân
Tính thị bất ký thanh
Độc thiện nguyễn cầm
Cử thành chi nhân dĩ cầm danh.
Quá khó khăn do sự nống câu từ 4 từ sang 7 từ mà không làm lệch ý nguyên tác nhưng phải phù hợp với thể văn song thất lục bát của Việt Nam. Người dịch không được phép làm lệch đi ngữ cảnh câu và ý của người sáng tác ra nó. Ba câu đầu là ba câu “xướng” nhằm tuyên dương người đánh đàn. Nguyễn Du rất có ý khi ông muốn dùng lại điển từ “giai nhân” trong bài “giai nhân ca” (1) thời Hán. Nguyễn Du rất “cao tay “khi dùng lại với điển từ “ ngũ lăng niên thiếu” của Bạch cư Dị trong bài Tì Bà Hành mà laiquangnam đã nêu lên trong bài I ở đoạn sau. Để có thể được tiếp cận với người xưa, các bạn đọc 4 câu dịch này của laiquangnam với quy ước sau “ chữ nào tô đậm thì đọc to và rõ, chữ nào nghiêng các bạn xuống giọng và đọc khá nhỏ như thể một diễn ngâm giả trong chỗ đông người “.
*Long Thành Giai nhân sao sao lạ,
Tính danh nàng giấu quá kỹ càng,
Một đời diệu thủ Nguyễn đàn
4-Người thành đối nghiệp tặng nàng “ Cầm” danh.
Nếu không hiểu ý Nguyễn Du như thế thì có khi đọc bản dịch sang thơ Quốc Âm hiện nay trong sách giáo khoa tại Việt Nam hiện nay ta thấy có 4 câu mở đầu quá đổi tầm thường. Chính vì sự tầm thường như thế khiến cho bài Long Thành Cầm Giả Ca bị lùi lại phía sau, khi 4 câu khởi đầu của bài Tì Bà Hành của Bạch cư Dị qua tài dịch của Phan huy Thực lại quá mượt và đầy thi tứ. Chính bốn câu đầu của bài Long Thành Cầm Giả Ca này là cái bẫy sập, một lỗi phiên dịch mà người dịch thuật vô tình là làm tầm thường hoá bản văn gốc rất hay của Nguyễn Du là điều ngoài ý muốn của họ. Tuy nhiên khi ai đó có thi tài, dịch với thể thơ “tự do “ thì 4 câu đầu này lại là điểm khởi đầu, họ rất dễ vượt qua. Hy vọng bài thơ này sẽ tồn tại song hành với hai nhóm dịch sang thơ Quốc Âm, nhóm văn vần ( giúp học sinh để học thuộc lòng vì nhu cầu giáo dục gồm lục bát và song thất lục bát ) và nhóm thể thơ Tự do (dành cho người yêu thơ*. Dịch được qua thể thơ Thơ tự do mà có hồn như các bài 12/6 của Vũ Hoàng Chương, bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, bài khúc ca Phạm Thái của Nguyễn Đình Toàn thì đó là một điều quá lý tưởng, laiquangnam rất mong sớm xảy ra. )
Nội lực cùng tài hoa của Nguyễn Du tiên sinh kinh lắm. Này nhé là trong hàng ngàn, hàng chục ngàn điển tích của Tàu, Nguyễn Du chỉ chọn hai điển tích. Tài hoa ở chỗ là điển tích này phải nói được cái ý mà câu 6-Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh, tạm dịch, lúc này đây trên cõi trần này nó là bản đàn hay nhất mà tôi đã từng nghe. Dĩ nhiên khi tiên sinh cho là hay nhất, nó phải thể hiện đủ hai mặt. Về mặt âm thanh lẫn về mặt nội dung văn bản. Về mặt âm thanh thì làm sao nói lên được cái ý “rằng nó thật sự 'hay’nhất “ trong khi nơi đây nó là chỉ là một bản văn viết. Nguyễn Du đã dùng thủ pháp mô tả thái độ người nghe. Một là, Nguyễn Du chọn người nghe là một số đông chứ không phải chỉ một người, hai là bản thân, thành phần xuất thân của người nghe, tức là sức học của họ. Họ là các quan văn võ của nhà Tây Sơn trong giai đoạn hưng thịnh. Về mặt bản văn, tiên sinh chọn điển tích nào đây khi mà chúng ta lý giải nội dung bản văn, chúng ta phải đồng tình với tác giả và xác nhận rằng nó quả là “hay nhất trần gian” về mặt ý nghĩa như câu thơ số sáu mà tiên sinh đã viết ở trên. Công đoạn này càng khó hơn một khi nó phải “phù hợp với bối cảnh của điển tích” lẫn “tình trạng thực tế của tác giả “, bởi một khi điển tích mang tâm trạng của tác giả thì bản văn lập tức trở thành “trang nhật ký “ của chính tác giả. Đó là điều cực kỳ khó, có lẽ ngoài Nguyễn Du khó có ai khác. Từ 50 câu Nguyên tác, laiquangnam chuyển thành 52 câu cho tròn 13 khổ song thất lục bát. Laiquangnam nống ra tại các câu mang điển tích vốn là hai câu 15, 16. Sự nống câu thêm chữ là điều bắt buộc khó tránh, và dễ bị “hố “ về ý nguyên tác. Mục đích của laiquangnam chỉ là làm cho hai điển tích trong câu trở nên dễ hiểu hơn với thế hệ 1, 5 và hoàn toàn phù hợp với ngữ cảnh của chính nhân vật trong điển tích và của chính tình trạng thực tế của tác giả trong bối cảnh xã hội đương thời.
Xin mời bạn đọc toàn văn Bản dịch sang thơ Quốc Âm của laiquangnam.
Long thành cầm giả ca
*Long Thành Giai nhân S(s)ao S(s)ao lạ,
Tính danh nàng dấu quá kỹ càng,
Một đời diệu thủ Nguyễn đàn
4-Người thành đối nghiệp tặng nàng “ Cầm” danh.
Khúc Cung Phụng lòng thành luyện sõi,
6-Đệ nhất thanh trong cõiNgườiTa,
Thiếu thời nay sực nhớ ra
8-Tiệc đêm hồ Giám, Ai đà ngồi chung?.
Ai ngày ấy ước chừng hăm mốt,
Sắc xuân nồng ran tóc mặt hoa.
Ngây thơ má rượu ráng pha,
12-Năm cung réo rắt tay ngà phím loan.
13-Khúc Khoan!, ”_ lạiNồm đàn thông nhạc”
14-Khúc tình ru!, “_ song hạc vờn mây. ’
15-Sửng sờ khúc!, ”_ dậy từng dây”
Sấm rền bia nát, treo ngày công phu!. ”(5)
16-Khúc Bi!, “ _thương thân tù Trang Tịch,
Tiếng quê cha ngâm khúc đời tà”. (6)
17-Chiếu trên chiếu dưới ngà ngà,
18-Khúc đàn đại nội Trung Hòa là đây!
Quan Tây Sơn ngất ngây ngồi nán …
Tàn đêm hoan hỷ chửa chịu rời
_Tháo khăn đầu, tả hữu bồi,
22_Tiền là phấn thổ!, hồi hồi… phà ra.
Hào hoa quá!, _Công hầu phải chịu,
Đám Ngũ Lăng niên thiếu?, _ nín khan,
Nghe chừng băm sáu cung xuân,
26-Đúc nên quốc bảo Trường An một người.
Hai muơi năm, sau ngày tàn tiệc,
Tây Sơn tàn, phải việc vào Nam.
_Thăng Long, bao bước!_lạ lầm,
30-Trong thành tiệc hát?, _ sao kham, _nỗi mình!
Quan Tuyên Phủ thấm tình bày tiệc,
Tuyển ca nhi xinh biết đàn ca,
_Có người ngồi cuối chiếu hoa?,
34_Mặt gầy, da héo tóc đà sang đông!.
Mày phờ phạc, buồn không chải chuốc,
Đệ nhất nhân!, sắc nước một thời,
Khúc xưa rưng rức lệ rơi,
38 Lắng nghe từng tiếng bời bời lòng ta.
Chạnh lòng, _ ra!, hai mươi năm trước,
Từng thấy Ai chiếu tiệc Giám hồ!
Người xưa, thành cũ, _ thuở nao,
42) Bể dâu chợp mắt, nhớm bao ngùi ngùi.
Ôi!, một sớm, Tây Sơn mất sạch
Làng đàn ca nay mót một ai!
Trăm năm một tiếng thở dài,
46-Bồi hồi chuyện cũ lệ ai vơi đầy.
Rời Nam về, tóc vây bạc thuếch
48-Trách chi người, nhan sắc không phai.
Trừng trừng ai cố nhớ ai,
50-Thương thay! _đối mặt, ngẫm hoài không ra!
Laiquangnam

IV -Bản văn dịch rất đáng lưu ý khác

IV a-Bản của Học Canh. Học Canh sống vào cuối thế kỷ thứ 19. Bản dịch này không biết viết bằng chữ Nôm hay chữ quốc ngữ?. Chuyện cô Cầm ( tên gốc là Cầm Giả Dẫn ), Học Canh dịch, Đăng trong trang cuả Viện Việt Học. Công sưu tầm là của lãng nhân Phùng Tất Đắc. Ô Học Canh dùng một bản chữ Hán (LN ) như đã đề cập ở phần 1. Nguyên tác 50 câu, cụ Học Canh chuyển thành 56 câu ( 7 khổ song thất lục bát), thêm 6 câu so với nguyên tác.
1. Thành Thăng Long nhớ từ thửa nọ
2. Bậc giai nhân tên họ ai hay
3. Ðàn cầm thánh thoát mấy dây
4. Khắp thành quen miệng gọi ngay Nàng Cầm
5. “Cung Phụng khúc” xưa ngâm trong Nội
6. Phổ nên chương tiếng nổi một thời
7. Nhớ ngày đương độ vui chơi
8. Giám Hồ yến tiệc gặp người tài hoa
9. Tuổi hăm mốt nõn nà lộng lẫy
10. Gió xuân êm hây hẩy bông đào
11. Men tô duyên não nùng sao
12. Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời
13. Theo tay ngọc lòng người ủ rũ
14. Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man
15. Khoan như gió lướt thông ngàn
16. Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương
17. Mạnh như sấm phũ phàng xé đá
18. Tiến Phúc bia nổ phá ầm ầm
19. Buồn như khúc Việt ai ngâm
20. Nỗi lòng Trang Tích âm thầm mà đau
21. Ðiệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi
22. Chính khúc này Ðại Nội triều xưa
23. Tây Sơn quân tướng thẫn thờ
24. Ngả nghiêng đến sáng còn chưa thỏa lòng
25. Quăng lụa thưởng tây đông tíu tít
26. Vàng tựa bùn cứ việc vung tay
27. Công hầu hào khí đua say
28. Ngũ lăng niên thiếu một bày sá chi
29. Dạo khúc xuân diễm kỳ lả lướt
30. Băm sáu cung thánh thót xinh xinh
31. Tràng An treo ngọc liên thành
32. Phẩm cao vô giá, tài tình riêng ai
33. Thoảng hai chục năm trời từ đấy
34. Tây Sơn thua, ta trẩy Nam Hà
35. Long Thành gang tấc còn xa
36. Ðiệu xưa nhớ mấy cũng là đành thôi
37. Tuyên phủ sứ lại mời dự tiệc
38. Thiếu chi người mày biếc má hồng
39. Cuối bàn phảng phất não nùng
40. Một nàng đầu tóc hình dung bơ ph
41. Mình gầy võ mày thưa duyên nhạt
42. Ai biết nàng oanh liệt xưa kia
43. Khúc đâu lệ chảy đầm đìa
44. Khiến người nghe những đê mê xót thầm
45. Chợt nhớ lại bao năm chuyện cũ
46. Từng bên ai vui thú Hồ xưa
47. Thành tàn duyên cũng xác xơ
48. Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh
49. Rồi một sớm bại thành là thế
50. Cảm khúc ca Trời để một người
51. Trăm năm một thoáng bao dài
52. Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau
53. Ở Nam về, mái đầu đã bạc
54. Người đẹp xưa cũng khác hình xưa
55. Giương đôi mắt ngó mà mơ
56. Thảm thay ai biết bây giờ là ai.
Học Canh dịch

*Bản văn này từ sách của Lãng Nhân –Phùng Tất Đắc, Hán văn tinh tuý, nxb NAM CHI TÙNG THƯ, năm 1965, Saigon. Lê Văn Đặng sao lục tại trang www. viethoc. org. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét