Thiền sư Pháp Loa. 1284-1330
Bồ tát, Trượng phu.
Bồ tát, Trượng phu.
NINH HẠ
Yên Tử đời Lý đã có chùa, nhưng thật sự trở thành trung tâm Phật giáo với hàng trăm công trình chùa am, tu viện là do Thượng hoàng Trần Nhân Tông xây dựng trong thời gian tu hành và truyền pháp ở đó. Sau khi người qua đời, người kế thừa là tổ thứ hai Pháp Loa Đồng Kiên Cương. Trong 19 năm tu hành, ông tiếp tục phát triển Yên Tử và nhiều nơi khác.
Từ lúc sinh ra cho đến khi mất, cuộc đời thường và tu trì của sư thật may mắn suông chảy, đầy duyên lành và quyền lực. Sinh ra đã có căn tu. Không thích thịt cá. Vừa 21 tuổi, gặp Điều Ngự đang trên đường hành đạo và được nhận ngay làm đệ tử.
Ngày mồng một Tết năm Mậu thân, 1308, tại chùa Siêu Loại Bắc Ninh, vào lúc tuổi đời chỉ mới 24, đã nhận tâm ấn và kinh tạng bửu bối viết bằng máu, tự tay sơ tổ Trúc Lâm Đầu Đà truyền thừa. Điều đặc biệt nữa chưa từng xẩy ra trong lịch sử của thiền môn Phật giáo, là buổi lễ long trọng này có lễ có nhạc, trước sự chứng kiến của vua Trần Anh Tông và quan viên tăng chúng. Sự kiện này được tường thuật đầy đủ, khắc ghi lại trên bia đá còn giữ lại tại tháp Viên Thông, chùa Thanh Mai, Chí Linh, Hải Dương.
Hãy đọc trích dịch một phần văn bản của bia đá.\
“…Ngày rằm bố tát xong, (Điều ngự) đuổi tả hữu ra, đem y bát và viết tâm kệ giao cho sư, bảo phải giữ gìn. Ngày mồng một tháng giêng năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308), sư vâng lệnh làm trụ trì nối dòng pháp ở Cam Lộ đường chùa Siêu Loại. Để khai đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt bài vị của liệt tổ, tấu Đại nhạc, đốt hương thơm.
Điều Ngự dẫn sư lên lễ tổ đường xong. Sau khi ăn cháo, sai tấu nhạc, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường. Bấy giờ Anh Tông xa giá đến chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách xong, vua Anh Tông vì là đại thí chủ của Phật pháp, đứng vào ngôi khách ở pháp đường, thượng tể đem bá quan đứng ở dưới sân. Điều Ngự lên tòa thuyết pháp. Giảng xong, bèn đi xuống, đỡ sư lên tòa. Điều Ngự đứng đối diện chắp tay hỏi han. Sư đáp lễ xong, nhận pháp y mặc vào. Điều Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên giường khúc lục, nghe sư thuyết pháp.
Đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai sư kế thế trụ trì là đời thứ hai của dòng Trúc Lâm. Lại đem ngoại thư kinh sử 100 hộp và Đại Tạng 20 hộp nhỏ chép bằng máu chích ra, để mở rộng việc học nội và ngoại điển…”
Với chủ trương không phân biệt tại gia hay xuất gia, Sư được Trần Nhân Tông đào tạo trở thành bồ tát của sơn môn và trượng phu của thế tục. Sự nghiệp của sư với Phật giáo Việt nam vô cùng to lớn. Sáng tác nhiều tác phẩm giá trị, in ấn phát hành kinh sách, giảng pháp truyền đạo. Đặc biệt là việc xây dựng những chùa am thiền tự nổi tiếng như Côn Sơn, Thanh Mai Sơn, Quỳnh Lâm, Hồ thiên. Đào tạo hàng ngàn tăng đồ. Theo sư có đến 15 ngàn đệ tử.
Trước tình trạng lạm dụng nơi chùa chiền để trốn thuế, trốn lao động, Sư là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo đã thực hiện được việc kiểm tra và lập sổ bộ tăng chúng để quản lý. Vì thế Sư là một người rất có uy quyền và được vua sùng kính.
Sử thần Ngô Thì Sĩ có lời bàn. “Pháp Loa trong khoảng niên hiệu Hưng Long thường tâu xin giảm số độ thầy tu, từ chối sự ban cấp cho phu chèo thuyền, khước bỏ những của bố thí như ruộng đất, vàng, bạc của các vương tôn quý chủ, giữ luật răn mình rất nghiêm, giữ đức hạnh rất cao, giác ngộ chân lý rất nhanh, hết thảy những vinh hoa, lợi dục, chung đỉnh, thiết việt không một vật gì có thể lay chuyển được. Cho nên xử những việc lớn vẫn điềm nhiên, pháp luật trong đời không ràng buộc được, người đời không ai không tôn trọng đạo của ông, tin tấm lòng của ông.”
Năm 1330, ngày mùng 5 tháng 2, Sư phát bệnh trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày mùng 1 tháng 3, Thượng hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm và cho Thái y của triều đình chạy chữa. Lúc lâm chung, có sư Huyền Quang cận kề hỏi pháp. Khi sắp viên tịch, đệ tử cùng đến và hỏi. “Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy cho đệ tử, riêng thầy sao không có?” Sư ngồi dậy viết bài kệ rồi ném bút, an nhiên thị tịch. Lúc đó sư mới 47 tuổi. Vua Trần Minh Tông tặng mười lượng vàng xây tháp để nhục thân ở Thanh Mai Sơn.
So với đại lễ truyền thừa cho Pháp Loa do Điều Ngự tổ chức rất long trọng, thì rõ ràng hành động của Pháp Loa lúc sắp qua đời ở đây quá mập mờ. Với một người giỏi cả việc đạo, thạo việc đời như Pháp Loa, đây không thể là sự sơ suất thiếu chuẩn bị mà phải chăng đó là ý định của ngài? Phải chăng lúc Pháp Loa mất thì Huyền Quang cũng đã quá già yếu cận kề tuổi 80 và 4 năm sau thì cũng viên tịch.
Chính vì sự mập mờ này mà về sau có giả thuyết cho rằng Huyền Quang chỉ được tổ Pháp Loa truyền pháp chứ không được truyền tông kế thừa ngôi tổ. Tổ thứ ba phải là Thiền sư Kim Sơn, một thiền sư thông tuệ, tác giả nhiều kinh sách, trong đó cuốn sử thiền nổi tiếng Thiền Uyển Tập Anh có người cũng cho là của Kim Sơn. Tin như thế vì sư Kim Sơn được vua Trần Minh Tông rất kính phục và trong thư gửi cho sư lúc vua lâm bệnh đã gọi sư Kim Sơn là Tam Đại Thiền Tổ, thiền tổ thứ ba.
Huyền Quang. 1254-1334
Thi sĩ thiền sư, mặc áo Bụt ở với ma
Thi sĩ thiền sư, mặc áo Bụt ở với ma

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét