LẠi QUẢNG NAM
[ Tiếp Theo]
III -Có bao nhiêu ký tự có cùng âm tào trong tiếng Tàu
laiquangnam
xin dẫn ra 6 ký tự có âm là Tào.
Có thể có nhiều hơn mà tôi không
được biết. Trung văn là một sinh ngữ. Hán Việt là một tử ngữ. Trong Hán Việt có nhiều từ đồng âm nhưng dị nghĩa. Âm tào mang ký tự này [曹]có hai nghĩa tréo ngoe. Đây là từ trọng tâm mà
"Học giả" ANCHI muốn “ vời “vào trong đoạn cuối cho phát biểu “lếu láo” của mình để áp đặt lên độc giả ngây thơ khả tín câu phát biểu: “Do quan niệm trên mà về sau tất cả mọi người
Trung Hoa dù không làm
quan - đây là tuyệt đại đa số - cũng được “vinh dự” gọi là “Tàu”, Tàu là ông quan. “ "Học giả" ANCHI đã viết như thế.
Tại sao "Học giả" ANCHI lại viết gọi là “Tàu”, Tàu là ông quan. Anchi viết “Tàu”, sao ông
lại không tiện tay gõ vào đây một tiếng Tàu có ký tự như sau [曹] để người Việt có thể dùng từ điển Trung-Anh trên mạng mà tra cứu. Liệu có gì mánh trong này? Có hay không? .
1- [曹] tào là
viên quan, đúng ra là nha quan, tức là một bộ phận làm việc hành chánh công quyền. Tào này có bộ viết [曰] có nghĩa là rằng. Việt ngữ có từ đôi “viết rằng”, trong Kiều
có câu, “Rằng tôi chút phận đàn bà”.
Riêng âm tào có ký tự là [曹], đây là từ cơ bản thuộc lớp
thứ 2, viết [曰] là từ cơ bản văn thuộc lớp
thứ nhất.
[曹] là từ khá đặc biệt bởi vừa đồng âm, đồng ký tự, nhưng khi dùng khác ngữ cảnh thì nghĩa khác. Điều này cho thấy lòng gian trá khi ANCHI chỉ dùng ½ ngữ nghĩa của ký tự này mà thôi.
Tại sao ông không
nói luôn, người dân Giao Chỉ nô lệ cách đây 1000 năm nói, ngã tào (bọn tau), nhĩ tào ( bọn chúng bay, 爾曹). Nếu Tào này mà hiểu hay nghe ra là âm Tàu. Thì Tàu ( tào曹) là lũ, là bè, là bọn, là tụi, là chúng, là ngữ….trong kho tàng Việt ngữ. Nhĩ tào [爾曹] ==> lũ mày, bọn mày, tụi mày, chúng mày, thứ ngữ mày!. Vậy [曹] tào này là ông quan hay là từ mắng xéo, hả ông "Học giả" ANCHI
?.
Trong Việt ngữ có câu khẩu ngữ , “ Trời đất ơi, hắn
nói chuyện như thiên tào.” Tức là nói như
ông quan từ nhà trời phái xuống trần, bọn thiên lôi, bọn thiên tào, bọn ruồi bu! . Lý luận như ông, thì thiên tào là ruồi bọ à. Tào[曹] mà ông đồng hóa với âm Tàu, chỉ người Tàu [曹] có là ruồi bọ không? Đồng hương ông có buồn không ? .
Tóm lại, người Việt cách đây hơn 1000 năm khi gặp người Tàu thì họ phát ra âm “tào”, thì lúc đó là họ muốn nói “bẩm quan” như "Học giả" ANCHI hãnh diện lý giải, hay là người Việt chửi là lũ, là bè, là bọn, là tụi, là chúng, là ngữ, đồ ruồi bọ [
XXX]. Thực tế không xảy ra như thế. Nếu đã có hiện tượng hèn hạ kia của người Việt cổ,
"Học giả" ANCHI cho họ khum mình, thì người Tàu đâu có tha, bọn họ đã mang nó vào trong các đoạn văn trong tác phẩm Tam Hạ Nam Đường rồi.
Lại nữa, trong Việt ngữ chưa hề có một sự biến âm nào từ _AO thành _AU cả . Người Quảng nam
quê tôi quả thật có nói ( núa
); ói ==> úa , Ao ==> Ô , bao gạo ==> bô gộ, đi xe đạp ==> đi xe độp,
nhưng chưa hề đọc ngọng AO ==> AU bao giờ. Họ không hề nói “đau quá ==> đao quá”.. Bằng chứng trong thơ lục bát của Nguyễn Du không hề gieo vần AU và AO thông nhau . Hãy nghe người Bắc phát âm về âm Tao trong
Mày Tao, và người Quảng Nam phát âm về âm Tau trong hai từ Mi Tau, là thấy ngay hai sự cách biệt. Lại một hầm hồ nữa
rồi.
Xin tiếp tục với các ký tự Tào còn lại. Từ ký tự cơ bản đó, tự này dẫn xuất đến năm ký tự sau:
a) khi thêm bộ mộc [木 ],thì ta có
2- Tào [ 槽 ] Hàm ý nhắc nhở phàm vật có thể liên quan đến gỗ .. Tào này
nguyên nghĩa là từ vật có hình dáng do con người tạo ra,“ hai bên thì cao mà giữa thì trũng”.
==> 1a -từ đó ==> tào
là cái máng cho ngựa bò heo ăn.
==> 1b ,
"nghiên tào" [ 研 槽 ] cái thuyền tán thuốc bắc,
==> 1c , "Tửu tào" [ 酒 槽 ] cái đồ đựng rượu.
thế thì khi nghe âm “Tào” [曹] này, ai đó
nghĩ âm Tào này [槽] thì sao? Rất đỗi hài hước. Anh Nguyễn Cung
Thông có viết bài với tiêu đề tuồng như vầy: “ Ta nên gọi họ là người Ghe.” Ghe hay Tàu cùng thứ, đều là người Phương Bắc đến lập
nghiệp ở nước ta cả. Tàu, Hán, Ghe là một, vì chiếm cùng một vị trí đắc đại trên “bản đồ cơ thể “. Thì ra mọi người “tào” đều là người Ghe có bộ mặt Bạch Huê. Gặp người GHE là xui thấy bà cố !
b) Khi thêm bộ khẩu [口 ] thì ta có
3- Tào [ 嘈], bộ khẩu [口 ], hàm ý nhắc nhở phàm cáí gì liên quan đến miệng ..
==> Tào là làm ầm ĩ, huyên náo. Việt ngữ có tào lao. Chuyện tào lao xịt bợp, tào lao thiên địa, có nghĩa là bọn Tàu đi đâu cũng nói ỏm tỏi, om sòm. Điếc cả đít. Đây là một thuộc tính của người Tàu. NTQXX của Bá Dương cũng đã thừa nhận thuộc tính này.
c) Khi thêm
bộ thủy [水; 氵] hàm ý nhắc nhở, phàm cáí gì liên quan đến nước
==> 4- Tào [ 漕 ] là vật liên quan đến sự vận tải theo đường
thủy. Ví dụ tào mễ là ghe thuyền chở gạo theo đường thủy. Tào mễ ngày ấy không có động cơ lấy gì gọi nó là tàu.
d) khi thêm
bộ chu [舟], chu là thuyền con, giới thi nhân hay dùng. Hàm ý nhắc nhở phàm cáí gì
liên quan đến thuyền, bè … vật chở hàng đi trên mặt nước.
==> 5- Tào [ 艚 ] là chiếc thuyền gỗ chở hàng. Ngày ấy thuyền bè toàn bằng gỗ, không hề có động cơ .
Với laiquangnam, các công cụ đi trên mặt nước gồm ghe,
thuyền, bè, tàu có
các định nghĩa khác nhau xa lắm. Tùy theo ngữ cảnh từng âm, chúng
gây hiệu ứng khác nhau trên
người nghe đôi khi chúng
không còn là công cụ di chuyển trên sông nước nữa.
e) Khi thêm bộ trùng [虫], hàm ý nhắc nhở phàm cáí gi đó, vật gì đó có liên quan đến loài côn trùng
==>
6- Tào [ 螬] bộ [虫], Tào là một loài sâu dưới đất phá hoại hoa màu cây trái.
Vậy khi người Việt cổ gập mình chào một người Tàu đô hộ họ, giả định họ phát ra âm “tào“ như trí tưởng tượng của "Học giả" ANCHI, thì Ông An Chi nghĩ người Việt cổ đang dùng âm “Tào” theo ngữ cảnh nào?
Theo xác xuất thì ý tiêu cực trong âm “tào” chiếm 2/3, thảy đều mang nghĩa là xấu xa, tụi, lũ, ngữ, bọn, nay thêm là nghĩa đồRuồiBọ [螬] . Ý xấu thường xuyên xuất hiện hơn ý tốt. Tốt lành gì ông ơi, bởi có gì để Ai đó được Ai đó gọi mình là Tàu [Tào ] thì nay có gì mà hãnh
diện khi người Việt lý giải âm này ? Các bạn tốt học cùng lớp với tôi, họ là người Trung hoa tử tế,
tôi thật sự không hiểu họ đang nghĩ gì khi một đồng hương của họ, tự ký tên là "Học giả" ANCHI,
kẻ luôn nuôi
trong lòng ý muốn hạ nhục người Việt “, rằng sắc dân Việt cổ luôn khum mình trước kẻ thù truyền kiếp của họ, nay
tự nhiên Họ lại tự nguyện nhận sự bôi tro trát trấu lên mặt từ sự lý giải từ nguyên một cách xuẩn ngốc như thế để rồi
nhận một cú đá hậu phản đòn đau điếng từ một anh tú tài I thời VNCH như tôi. Hèn gì mà ông Nguyễn Cung Thông, người có học trường lớp về Khoa Ngữ
Văn Đông Phương học cho ông là “Học Giả Vỉa Hè” âu cũng
phải.
laiquangnam nhắc lại lời phê này, số là ông Nguyễn Cung Thông viết bài “mực tàu”, bằng lý giải hết sức bác học, ông Nguyễn Cung Thông đã dẫn đến tầng ngữ nghĩa
thứ ba của hai từ “mực tàu” trong Việt ngữ. Tầng thứ nhất, mực tàu là loại mực có xuất xứ từ Tàu, đó là thứ mà người Việt gọi là mực xạ do người Tàu phát minh. Tầng ngữ nghĩa thứ nhất
là từ mà lớp mẫu giáo đến hết cấp 1 có thể hiểu được. Tầng ngữ nghĩa thứ hai là một thuật ngữ khoa học dùng để định danh một sản
phẩm trong ngành in, tầng này dùng cho
người học lực từ cấp 2 trở lên. Tầng ngữ nghĩa thứ ba là từ nằm trong cụm thành ngữ “ thẳng mực tàu”, hiểu là “cứ ngang ngay sổ thẳng
mà làm, đừng e ngại, đừng bao che, đừng sợ mích lòng. Nếu không có ông Nguyễn Cung Thông giải thích, “mực Tàu” là cái công cụ lấy vết mực in thẳng xuống gỗ giúp
cho thợ mộc biết đường mà cưa xẻ gỗ cho thẳng nếp cưa, bạn vào Google search đọc bài của ông Nguyễn Cung Thông.
Dựa vào số 0,0001% người Việt không biết chữ Hán, hay biết là nhờ tự học hay học qua
bè bạn, họ cũng không mấy am tường khi gặp các ngữ cảnh khó. Chính khe hở này giúp các bài viết về từ nguyên tiếng Việt của "Học
giả" ANCHI có đất sống. Đó là thủ pháp ngụy biện có tên “Sự ngụy biện dựa vào sự kém cõi của đối tượng” . Đâu có hay ho gì !
Tôi tự hỏi
"Học giả" ANCHI liệu có không thông thạo Việt ngữ? Này nhé, trong âm “xe tàu” của Việt ngữ, thì âm tàu của Việt ngữ phức tạp và dùng huê dạng hơn hẳn âm này [艚] Tào có bộ chu. Có hai từ cùng âm, cùng tự trong Việt ngữ nhưng
khác nghĩa,
tôi tạm đặt là tàu (a) và
tàu (b). Việt ngữ có 4 nghĩa cho cùng âm Tàu ( Tàu (a), Tàu (b), Tàu
(c ), Tàu ( d), việc này để dành trong bài sau. Riêng trong âm
"tàu" trong cụm ” xe tàu” có hai nghĩa khác nhau.
Tàu thứ nhất là Tàu (c) và
tàu thứ hai là Tàu (d) .
Tàu (c) là
gì? Đó là công cụ di chuyển trên sông nước như thuyền bè, ghe, xuồng, xuồng ba lá.
Tàu (d) là
gì? Đó là một từ chỉ công cụ nhân tạo di chuyển được nhờ
ở sức mạnh của cơ giới. Nó chỉ xuất hiện từ khi người Việt nam tiếp xúc với người Âu châu. Họ mang sang Việt Nam
khí cụ mới lạ, đó là các động cơ bằng hơi nước, bằng xăng, hay bằng các dạng năng lượng khác, nó hoạt động bất cứ môi trường nào.
Theo thời gian, từ hiệu ứng quả cầu tuyết trong ngôn ngữ, từ đó nó dãn dần thêm ngữ nghĩa. Người Việt
dùng thì làm
sao mà baTàu các anh hiểu cho được. Các anh không yêu tiếng Việt thì làm sao tiếng Việt yêu các anh.
Tàu (d) có mặt trong các từ Tàu thủy ( đi trên nước), Tàu ngầm ( lặn dưới nước),Tàu hỏa (xe lửa) chạy trên hai rây bằng sắt, Tàu bò hay xe tăng (tank) chạy trên mọi địa hình, tàu bay
là máy bay, bay trên trời. Tàu (d) nó không liên quan gì đến xe chạy trên bánh lăn
trên đường bộ cả. Không nhất thiết hễ tàu là chạy trên sông nước. Vậy tàu (d) chính
là một danh từ chỉ cho một cổ máy mạnh nhiều mã lực từ khi có sự tiến bộ của khoa học, nó có thể chuyển động đi xa,
bay xa, lặn xa được . "Học giả" ANCHI liệu có hiểu không đó ?
Tàu có liên
quan đến xe, mới nghe thì tuởng đúng, nhưng đúng ở chỉ ở một ngữ cảnh
khác; ví dụ, có người ở Saigon thường ra công tác Nha Trang, anh hỏi tôi, tôi nói “- Anh ra đó bằng tàu xe gì cũng
được!” .
Tàu trong câu này ở tầng ngữ nghĩa thứ tư, nó là một hợp ngữ tuy chỉ có một âm. Đây là lúc mà chữ Tàu hình vuông của các anh bất lực.
1- Tàu đây là xe lửa. Xe lửa là một khái niệm khác xa chữ XA [車] của người Tàu xưa .Nó là một khí cụ cơ giới mạnh mẽ di chuyển
trên một con đường đặc biệt, chứ không phải là chiếc xe ọp ệp do sức
người, hay súc vât kéo
đâu ông ạ. Nó là tàu(d)
mà tôi đã định nghĩa ở trên.
2- Trong hợp ngữ “tàu xe” thì
đây là hai phương tiện khác nhau, chứ không phải từ sau định nghĩa
cho từ trước. Không như cặp âm “đường lộ” hay “ thái quá “ khi từ trước từ sau làm rõ nghĩa cho nhau. Nói rằng trong âm tàu đã có cái không khí của cái xe là sai
ông ạ. Tàu là tàu
(ví dụ tàu thủy, phương tiện cơ giới trên đường thủy, và xe là là xe. Tàu không có hơi hám gì của xe) Xin cùng nghe câu
chuyện sau: “Có hai người bạn nói chuyện đi ở. A nói , -bây giờ phương tiện đi lại thiếu cha gì chị ơi. Chị dùng” xe tàu ” gì cũng được mà! “
Vậy ông hiểu câu này ra
sao? Tàu là xe à ?.
Tùy ngữ cảnh. Đó là câu thoại giữa hai bà già. Bà
già sắp ra đi, họ là dân Vòm Cống, Lục tỉnh, Nam Bộ. Nhà họ ở vùng sông nước. Câu có nghĩa là chị thích gì thì đi nấy. Hoặc là ngồi xe hơi, đi đường
bộ hoặc là đi tàu (d)
cánh ngầm, đường thủy. Tàu này không liên quan gì đến xe cả. Đây là Tàu thủy, Tàu trên sông nước có động cơ nổ. Nhưng khi họ nói “ - bây giờ phương tiện đi lại
thiếu cha gì chị ơi. Chị dùng ghe tàu
gì cũng được mà!" thì
phương tiện chỉ là đường thủy mà thôi. Đi
ghe hay đi tàu (d) gì cũng được. Tàu này chẳng có âm hưởng gì là xe.
Vậy [艚] Tào của Lưu Quân Kiệt mà ông ( ông có bịa không ?) cố mang vào không phải là từ Tàu trong âm hưởng Việt Nam. Tàu mà người Việt dùng trong sinh hoạt hằng ngày biến hóa theo sự văn minh của nhân loại, nó không là thứ tử ngữ khóa chặt với bộ chu, là chiếc thuyền gỗ mỏng
manh. Tàu đây không
phải là loại xe mà cái ông Lưu
Quân Kiệt nào đó bịa ra và ông chộp lấy đưa vào lập luận của mình. Đem một khái niệm từ có trong thế kỷ 20 để giảng giải một từ đã có từ thế kỷ thứ X hay trước nữa,
cách đây hàng
ngàn năm là một “sự ngụy biện dốt”, bởi cái sai của nó quá rõ. Tôi có hai ưu tư. Một là, lối lý giải này tôi e có
thể không có ông Lưu Quân Kiệt nào nói cả. Vì sao? , vì tôi không tiếp cận được văn bản chính. Hai là, nếu có ông Lưu Quân Kiệt đang khảo sát chỉ nhằm mục đích phù hợp với khẩu ngữ và suy nghĩ của người Việt, bởi Vương
Lực, nhà thông thái
về ngữ học của Tàu sống vào giữa đầu thế kỷ 20, tìm từ Hán cổ thông qua tiếng Việt, bởi họ cho
rằng người Việt nay vẫn còn đang nói âm đời Đường mà bên Tàu nay đã không còn nói nữa. Họ đi tìm để rồi quy áp “định luật phi lý”, “ người Việt vốn không có tiếng nói”. Đó là một điều đại bợm. Chính ông đã từng dùng nó khi nói rằng người Việt không hề có từ gọi “cha” mình, ông đã từng kết luận “bố”
trong cụm Bố Cái đại vương vốn là từ âm Phụ mà ra. Bụt từ âm Phật mà ra. Do vì
ông đã quá yếu về Việt ngữ, ác nỗi chữ quốc ngữ chỉ thể hiện
âm, không có bộ như chữ Hán, không có
ngữ căn như tiếng Pháp, tiếng Anh …nên rất khó tìm từ nguyên. Người Việt dùng từ rất linh hoạt. Đó là một trở ngại quá lớn cho ông. Thủa nào mà anh Nguyễn Cung Thông không ban cho ông cụm từ “ học giả vỉa hè “. Âu cũng không quá lời.
Tôi nghĩ đến đây cũng đã quá dài. Bực mình "Học giả" ANCHI đã xúc phạm tình tự dân tộc, lạm dụng sự mơ hồ
của phương pháp luận khoa nhân văn, lại khôn vặt trong khoa xử dụng “giải pháp bán thân bất toại “, lúc nào ông cũng ôm lấy tư tưởng “tiếng
Việt là từ tiếng Tàu mà ra “,
thế nên ông đã viết một câu không sao
tha thứ được. Giải pháp đó nó đã phản chủ. Tôi không biết đồng hương ông, các ông giáo sư tiến sĩ người Việt trong nước đang vây lấy ông, tung hê ông lâu nay, nay họ đang nghĩ gì? Tiến sĩ dõm chăng ?
Có khi nào Bạn Hiền để ý đến sự khác nhau giữa tử ngữ và sinh ngữ trong ngôn ngữ? Từ thuần Việt là sinh ngữ, nó sinh sôi nẫy nở qua từng giai đoạn sống, dãn nở ngữ nghĩa theo sự tiến hóa của cộng đồng người Việt, nên có nhiều tầng nhiều lớp tùy trình độ học vấn, tuổi tác mà sức hấp thu cao
thấp. Từ Hán Việt là tử ngữ vì chỉ có một tầng ngữ nghĩa. Có bao nhiêu vị đã từng viết về đề tài này có khi cũng không mấy
ưu tư về câu hỏi, - làm thế nào để đoán đúng đến 80% rằng đó là một từ thuần Việt hay là một từ Hán Việt ?. Từ thuần Việt khi đứng một mình thì đa phần nó đã rõ ràng và người
nghe có thể hiểu trọn nghĩa, trong khi một từ Hán Việt thì không được như thế. ví dụ: Thực ( ? , Hán Việt ), trong khi “xực, xơi, đớp, ăn, nuốt, nhơi, gặm, ngốn, táp …. “ thuần
Việt .
Âm Tàu trong
Việt ngữ là từ thuần Việt, chắc chắn là từ bất khả dịch. Hãy để nó xuất hiện trong ngôn ngữ nhân loại bên cạnh từ Phở, từ Nước mắm.
Kết luận:
Trí trá ngay trong tiên đề, “Việt ngữ từ Tàu ngữ mà có “, rồi dùng các hiểu biết về các
giải pháp mà các
nhà Từ nguyên học vốn
đã rất thành công với thứ chữ alphabet của người Phương Tây, nhưng lại đem chữ Tàu áp dụng
cho trường hợp Việt ngữ, xem nó là ngữ căn là một trường hợp hết sức dị hợm và bợm nữa là khác, bởi chữ quốc ngữ không hề thể hiện cái ngữ căn trong vô số trường hợp, đó là chưa
nói nhà Từ nguyên học thuộc Trường
Phái Bán Khai lại không hề am hiểu tường tận về Việt ngữ, (mời bạn đọc
tiếp bài “Mít đặc là gì? “của laiquangnam là một minh chứng cho luận lý trên ).
Minh bạch công khai, biết nói biết, không biết nói không biết, sai là “chắp tay xin lỗi” đó là thái độ của các người Việt trí thức hiện nay đang nói, đang viết, đang biên khảo về cội nguồn từ nguyên Việt ngữ. Anh Ngộ Không, Phí Ngọc Hùng ở Houston, anh Nguyễn
Cung Thông ở Australia là hai người như thế. Mong rằng "Học giả" ANCHI sẽ học được tính cách của hai vị này.
Điều kiện ắt có và đủ để Ai đó trở thành trở thành nhà từ nguyên học Việt ngữ thì họ buộc phải có là, với điều kiện Ắt có là “ anh ta phải có học “, và điều kiện đủ là “ “Am tường Việt ngữ, hiểu các tầng ngữ cảnh của từng
từ Việt ngữ “ . Ho phải gạt tư tường đội Hán, quy Hán trong đầu họ. Họ phải hiểu rằng Việt là Việt,Tàu là Tàu; Không nhập nhằng cội nguồn
chủng tộc giữa một người mang họ Võ, Vũ với một anh họ Wu.
Cuối cùng, đoạn bài biện bác lập luận từ âm “tào” của người Tàu, nghĩ rằng nó liên quan
cha đẻ của âm Tàu, từ thuần Việt dùng để chỉ người China, người Tàu do "Học giả" ANCHI xướng lên, tôi đã sa vào bẫy, rằng tôi đã sai, bởi tôi đang biến cái vô lý của họ ( người Tàu) thành cái có thể có, tranh cãi với “một điều không hề có’, có nghĩa là mình đã đặt nhiều người Việt tưởng rằng “nó đã tồn tại” và có khi ai đó cho rằng lập luận kia cho
dù có khiếm khuyết nhưng nó vẫn là điều có thể. Đó là điều xuẩn ngốc mà tôi đã gặp ngày hôm nay. Tôi thành khẩn
nhận lỗi và rút kinh
nghiệm cùng các Huynh trưởng. BaTàu, xưa nay, rất ma mãnh khi biến cái không thành cái có thể. Từng bước cái có thể từ cái không ấy
nó cứng dần và lần lần hiện hữu trong đầu nhiều người Việt ngây thơ, dễ tin thì khó lòng mà trục cái sai
trái ấy ở các thế hệ
con cháu họ.
Ví dụ câu
ca dao hiếu để của người Việt, “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như
nước trong nguồn chảy ra” . thái sơn , “chữ thường” ==> Thái
sơn "viết
Hoa" , một danh từ riêng chỉ gọn núi cao khoảng độ 980+- mét, bên Tàu, mà các thầy đội Hán của tôi quên rằng núi thái sơn trong
câu ca dao chỉ là một hòn núi bự tổ chảng, bự ơi là bự!. Một Sử gia người Mỹ
qua thống kê, ông chỉ
ra cái lếu láo của người Tàu khi họ nhận vơ các Hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa về họ; chính phủ Tàu cộng và
người Tàu trên khắp thế giới đã có hơn hai trăm bài báo viết về chủ quyền các hải đảo Hoàng Sa và Trường sa trên Biển Đông,” nay nó thuộc về ai, chứng cứ đâu?”, chứng cớ mà các nhà nghiên cứu kia trích lại để giới học giả, các nhà ngoại giao, các luật sư tin là
đúng thì ra hai trăm bài báo kia đều lấy tin từ một người, đó một anh Tàu đang dạy ở Hawaii.
Trong hợp này, Tàu là do âm Tào, tào là một ông quan mà
báo chí Việt ngữ trong nước, các website, facebook, blogger trích đều
dẫn xuất phát từ nguồn duy nhất:
"Học giả" ANCHI “. Y chang” một thủ pháp, thủ pháp baTàu cho dù Tàu Việt Nam, Tàu Đài, hay
Tàu Hồng Kông hay Tàu Cộng. Sự xuất hiện trên nhiều trang website sẽ dẫn
đến “tần số xuất hiện cao” khi ta Google search. Cần phải suy nghĩ với trường hợp
"Học giả" ANCHI.
Âm Tàu dùng
để chỉ người Tàu Phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Người Việt dùng hàng ngày âm Tàu để chỉ nhắc nhở cho nhau mà dè chừng khi cần phải phân biệt giữa một người
Trung Hoa đáng yêu,
đáng kính và một anh baTàu đáng ghét.
Âm Tàu, chỉ một âm thôi mà
nó đã đúc kết biết bao nhiêu kinh nghiệm khi người Việt
chung đụng với người Tần ( China ) ở Phương Bắc . Nó sẽ là một sự chia sẻ kinh nghiệm quý báu cho các dân tộc khác khi họ vẫn còn ngây thơ, khi họ chưa hay rất ít tiếp xúc với người China. Họ,
tôi ngờ rằng người Kampuchea, người Thái, cho đến cả người Hoa Kỳ hôm nay nữa, đợi đến khi ôm đầu máu, hay bị chơi đòn dưới thắt lưng như dân tộc Lạc Việt đã từng gặp từ 2000 năm qua thì e đã quá trễ.
Các trường phái Từ nguyên học hoang dã cho đến trường phái Từ nguyên học bán khai đội Hán đều
không đúng bởi vì “Tàu, baTàu là một âm thuần Việt hoàn toàn.” không hiểu Việt ngữ thì làm sao mà
nói chuyện từ nguyên tiếng Việt cho thông .
...
Nam
California, mùa thu ngày thứ 27 tháng mười, 2015
Viết xong nhân Ngày giỗ Cha kính yêu.
laiquangnam
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
*Ghi Chú:
Người Việt chúng tôi vẫn hằng kính trọng những người Trung Hoa tử tế như Trang Tử, Mạnh Tử, Lý Bạch, Vương Duy, Lâm Ngữ Đường và vô số người khác nữa. Nhưng một khi một
người CHINA nào đó mà để chúng tôi gọi họ là Tàu hay
baTàu là cá nhân chúBa ấy có vấn đề trong con mắt của người
Việt chúng tôi rồi đó.
Nam
California, mùa thu ngày thứ 27 tháng mười, 2015
Viết xong nhân Ngày giỗ Cha kính yêu.
laiquangnam
----------------------------
art2all.net
mời đọc :
- Người Tàu là tổ tiên của người Việt ?
(Nguyễn Tuấn)
- Tản mạn về nghĩa của “mực tàu” 墨艚 qua từ điển Việt Bồ La
(phần 1) ( Nguyễn Cung Thông)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét