Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Nguoi co tong

Ngươì có tông
Đaị Thanh thập tam hoàng triều
chuvươngmiện

*
Thấy câu chuyện càng ngày càng có moì phấn khơỉ , vua Gia Long lệnh cho phái đoàn tuỳ tùng tự tiện ở laị chơi Khâm Châu thêm một thơì gian ngắn nưã , để ngai có dịp tham khảo thêm các Vương một chút về lịch sử tổ tiên quê nhà , nhà vua noí :
-Nhân tiện đây xin hai Vương Huynh bằng cấp đầy ngươì vui lòng giải thích cho đệ hiểu ngọn nghành về nguồn côị xa xưa đất nước mình cho tơí tận bây giờ là Việt Nam để đệ về laị xứ sở truyền bá ra cho bá tánh được rõ nguồn cơn mà hãnh diện ?
Vua Nùng và vua Trảng nhường nhau một lúc , thì vua Trảng noí :
-Vấn đề nhà vua Việt Nam hỏi thì có lẽ Chảng Vương là rành hơn cả , vì Vương đậu thái học sinh chuyên nghành nhân chủng học , thôi để thả chim bồ câu đưa thư cấp kỳ, mơì Chảng Vương tơí hội họp , tuy nhiên taị hạ và Nùng Vương thì xuất thân Nghè dân tộc học , thì thôi chúng đệ biết sao thì noí làm vậy ? cái sự thật thì chả biết thế nào là thật , là đúng trăm phần trăm , nhưng tuyệt đôí không có gian xảo giả dôí đãi bôi , vậy kính xin niên trưởng Nùng Vương phát pháo khai hoả ngay đi ?
Vua Nùng noí :
-Tính cuả ngươì biết đôi chữ thì hay noí vòng vo tam quốc , rôì mơí đi vào đề bài , gia dụ như xứ Vân Nam , do chủng Thái Tạng định cư và sinh sống , nhưng trước đây khoảng 4000 năm , thì dân số thơì đó rất ít , ngoài ngươì Bạch là ngươì Thái , đến ngươì Tạng , rôì ngươì Miêu , ngươì Miêu là một thứ dân tộc ở dàn traỉ trên toàn traí đất , từ Nam bán cầu đên bắc bán cầu , có nơi goị là ngươì Esquimô , có nơi goị là ngươì Mèo , vùng Vũ Lăng thì ngươì Miêu theo Ngũ Đọc Giáo , vùng Miêu Lĩnh thì ngươì Miêu theo Xí Hoả Giáo , hai Giáo này có nguồn gốc từ Manigiáo [Hoả Giáo ]Ba Tư , nhưng khác tông chi , xứ Vân Nam nguyên là lòng biển do một sự động đất sinh thaí quá lớn , lòng biển vun lên thành lục điạ mà toàn là nuí non , sông ngoì lởm chởm , ngoài ra còn có tới 26 dân tộc ít người , sống rải rác trên các triền đôì thung lũng , như dân tộc Bài Di …..họ tụ tập từ vài chục đến vài trăm tuỳ theo điạ thế nuí non chốn đó , và lập thành bộ tộc , tuy là cũng là dân Thái Tạng , nhưng mạnh ai nấy sống , không ai dưới quyền cuả ai cả , chính quyền Nam Chiếu hay sau này thành lập Vương quốc Đaị Lý thì cũng ở chết nơi Côn Minh mà thôi ?
Trở laị nước Mình , thơì Chung Quốc vào thơì hỗn mang đó , thì miền Hoa Bắc là điạ bàn cuả ngươì Háng Tộc , vùng đất Hoa Hạ là vùng đất giữa sông Hoàng Hà và Dương Tử là vùng đất còn bỏ hoang cho lau sậy tự do mọc , và lưu vực phiá dưới sông Dương Tử là vùng đất định cư cuả ngươì Bách Việt , thơì đó thì được sử Tàu goị là nước Xích Quỷ , hay là nước Sở , biên giơí phiá bắc giáp Động Đình Hồ [ tức tỉnh Hồ Nam ngày nay ] phương nam giáp với nước Hồ Tôn [ tức Chămpa ] phiá tây giáp Ba Thục [ tỉnh Tứ Xuyên ] phiá Đông giáp bể Nam Haỉ , xứ này tức là cả vùng Hoa Nam ngày nay , thuộc quyền nhà vua Lạc Long Quân cai quản , ngài phong cho ngươì con trưởng làm vua xứ Văn Lang , đăng cơ lên ngôi thì goị là Hùng Vương , đóng đô ở Phong Châu [ tức quận Bạch Hạc , tỉnh Vĩnh Yên ngày nay ] tướng văn là Lạc Hầu , tướng Võ là Lạc Tướng , có nghiã là toàn coĩ Việt Nam cho tơí Đồng Hơí [ tức Động Hơì ] sau này các chính quyền chiếm thêm cho tơí Cà Mâu , những ngươì con kế tiếp cuả đức Lạc Long Quân là các Hoàng Tử anh em vơí Hùng Vương , thì ngài cho ngươì làm Choảng Vương ở Quảng Si , Nùng Vương ở Quảng Đông , Mân Vương ở Phúc Kiến “ Tàiwan “  Việt Vương ở Chiết Giang Hàng Châu , Ngô Vương ở Giang Tô Tô Châu , Môn Vương ở Giang Tây , còn An Huy Hồ Bắc , thì thuộc vua cha [ tức Sở Lạc Long Quân ] tuy phong cho các con làm vua môĩ ngươì mỗi phương , nhưng đa số thì cũng chỉ bám trụ ở một thành phố thị trấn sầm uất , vì cư dân lúc đó rất ít và sống rải rác khắp moị nơi , ngay vùng Hoa Nam thơì đó , thì Vân Nam Quí Châu cũng còn là hoang địa , Lưỡng Quảng cũng không khấm khá hơn gì ? ngươì sinh sống ở những điạ bàn đó không mọc sừng trên đầu , không mọc đuôi dươí đít là may mắn lắm rồi , vài trăm năm sau , cứt trâu để lâu hoá bùn , dần dần cư dân sinh sôi nẩy nở , các tiểu quốc được phong dân đinh càng ngày càng nhiều , và cái tinh thần anh em ruột thịt quên mất hết , nhưng nước nhỏ [ phụ thuộc ] không noí tơí làm chi , còn những nuớc có chút máu mặt cường quốc như Ngô .Việt thì đánh nhau tan tành xí quách , U Việt xơi tái Ngô Việt , thừa thắng xông lên U Việt đánh ào qua Sở ,  Sở  Dứt đẹp U Việt trong lúc lưỡng baị câu thương , gần banh ta lông thì quân nhà đaị Tần xua quân dứt đẹp cả vùng Hoa Nam , thu tóm một lươt cả phần đất của dân Bách Việt .

*
Thống nhất toàn Chung Thổ xong , sau đó nhà đại Tần cho khâm sai đaị thần đi lược định những mảnh đất phiá nam , đặt chung chung mơ hồ là Tượng Quận , có nghiã là cái Quận có nhiều rừng có Voi [ ma Trâu muĩ dài ] , tức là nhà Tần chả hiểu Ất Giáp gì cả , họ gộp cả vùng đất sau này là Miến Điện , Thái Lan , Ai Lao ,Văn Lang  và Lưỡng Quảng vào làm một , chứ vùng đất cuả ngươì Bách Việt làm gì có Voi naò ? sau đó thì tơí phiên nhà đaị Hán , thấy cái cách phân chia và đặt tên cuà nhà Tần lôi thôi rắc rối phiền phức quá , vua Hán Vũ Đế bèn sai tướng Lộ bác Đức đánh xong nhà Triệu , lấy toàn bộ nước Nam Việt cải thành “ Giao Chỉ Bộ “ cả thẩy gồm có chín Quận :
1/Nam Haỉ [ Quảng Đông ]
2/Hợp Phố [ Quảng Đông ]
3/Thương Ngô [ Quảng Tây ]
4/Uất Lâm [ Quảng Tây ]
5/Giao Chỉ [ Bắc Việt ]
6/Cưủ Chân [ Trung Việt ]
7/Nhật nam [ Trung Việt ]
8/Châu Nhai [đảo Hải Nam ]
9/Đạm Nhĩ [đảo Haỉ Nam ]
Đó là cách đặt tên của ngươì Háng cho vùng đất Văn Lang cuả ngươì Nam Việt , thực ra những vùng đất này vốn hoang vu sình lấy và nhiều rừng rậm , ngươì Việt thơì đó dân số chưa tơí 1 triệu ngươì , sống rải rác nhiều nơi , cũng xin noí qua về thơì kỳ ngươì Tần , ngươì Háng cai trị nước Văn Lang và sau này kéo dài mãi tơí thế kỷ thứ mươì mơí chấm dứt , thực ra thì cũng chả đô hộ chi cả , bản chất của dân Háng là lười biếng , ưa hôí lộ và không thích đánh nhau , chuyện nhà Tần ăn may thống nhất toàn quốc , sau này đến Háng Lưu Bang thì khi nắm được quyền hành trong tay , họ rất sợ bị đàn em tướng lãnh chiếm đoạt , nên cho giải ngũ tất cả những tướng lãnh binh sĩ nào mà có thể cho ra ngoài quân đội được , hoặc cần thì thanh toán ngay tức thời , phần còn lại thì laị cho quan văn đứng trên quan võ , tỉnh lớn goị là Châu ,một nước toàn coĩ có 13 Châu ,  như tỉnh Hà Bắc là Thương Châu , tỉnh Sơn Đông là Thanh Châu , tỉnh Hà Nam là Mạnh Châu , tỉnh Sơn Tây là Vị Châu …..mỗi Châu lớn chia ra làm hai hay ba Quận , chả hạn như tỉnh Quảng Đông thì có hai Quận Nam Hải và Hợp Phố , dươí Quận chia ra làm nhiều Huyện , nhưng thơì đó không kêu là Huyện mà kêu là Châu nhỏ , ví dụ như nước Ngô thơì Tam Quốc chỉ cai quản có ba Quận [ gồm 81 Châu Huyện ] mà thôi ? quân số đi trấn nhậm các vùng đất chiếm được , rất ít vì đa số không ai muốn đi xa nhà , phần lạ đất lạ ngươì phần thủy thổ không hợp sinh bệnh thiên thơì , Chung Quốc có hai cách cai trị những vùng đất tạm chiếm .
1/ là đặt quan Thứ sử [ chỉ có một ngươì và vài ngươì tuỳ tùng ] ở đó để đaị diện và giám sát ,  phần còn lại là vùng đất đó do các vua quan cũ điạ phương tự cai trị , cứ lệ hai năm hay bốn năm thì hương hoa vàng mã mang sang chính quốc để cúng lễ thiên triều .
2/ là đặt quan Thaí Thú trực tiếp cai trị ở cấp Quận , quân số binh sĩ đi theo cao lắm là từ 300 đến 500 ngươì , nếu dân quân địa phương nôỉ loạn , thì phaỉ điều quân ở trung ương tức tốc tơí dẹp loạn , quân số không thể cấp phát nhiều được ? vì sợ làm loạn , vơí nưã trong khoảng thập niên kỷ sau Công Nguyên , nước Chung Hoa loạn lạc liên miên , ngay đất nứơc cuả mình còn giữ không được không nôỉ , huống chi những vùng đất phương nam khỉ ho cò gáy , taì nguyên không có , chỉ có nuí rừng , đất đá vôi , nhân sự thì cứng đầu cứng cổ ngôn ngữ bất đồng giáo hoá khộng nôỉ , đồng hoá không xong , thôi thì chỉ có tiếng là đô hộ , chứ thực ra thì chả đô hộ gì cả ? lâu lâu các chế độ sau chả hiểu mô tê gì cả cứ thòm thèm muốn được mang tiếng “đaị cường “mang quân Nam hạ , bị đánh chạy như vịt về nước cả lũ vơí nhau ? “ vậy mà vẫn chưa sáng cái con mắt ra , mắt anh nào anh nấy cứ ti hí nhắm tít thò lò mãi cả laị  ?     



chuvươngmiện

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét