Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Tam cung * le om goi

Tẩm cung * lễ ôm gôí
Đaị Thanh thập tam hoàng triều
chuvươngmiện
*

Trong tẩm cung “ nôị thất “ Thái thượng Hoàng Càn Long nằm ở giưã long sàng , bên phải là tể tướng Hoà Thân , bên trái là tướng Kim Giản , môĩ ngươì ôm một cái gôí , riêng Càn Long thì dựa lưng vào nệm giường , hai bên thì dựa thêm vào hai chồng gôí xếp vưà phaỉ
, còn hai tay thì ôm một cái gối , cái gối ôm này hình tròn , đan bằng tre lẫn mây song , dầy khoảng một thước tàu , trong đó mùa đông thì để một cài điã đựng than hồng để ôm cho ấm ngươì , muà hè thì bỏ vào đó nước đá cục ôm cho nó mát , khoỉ phải đi Nhiệt Hà trốn nóng , nước đá thì tuyển một cao thủ võ lâm thượng thừa , biết sử dụng nhuần nhuyễn công phu Hàn Băng Chưởng như Hắc Bạch Tử trong Giang Nam tứ hưũ  , hoặc Tả lãnh Thiền chưởng môn Ngũ Nhạc kiếm phaí , là chỉ dùng một ngón tay trỏ nhúng vào chậu nước trong khoảng 10 phút sau thì chậu nước lạnh đông lại , trong chậu nước để sẵn một cái khuôn nước đá , chỉ cần nhắc cái khuôn lên ,   
vỗ vỗ vài cái là đá cục rớt ra , bỏ vào điã , bỏ vào gôí là xong , hôm đó tiết trơì vào thu , nên chỉ toàn là gôí không , tể tướng Hoà Thân đưa ba cái gôí để sẵn cho
vua Quang Trung giả [là Phạm Công Trị ] đaị hoàng tử Nguyễn Quang Thiều , tài thần Ngô thơì Nhiệm , chẳng hiểu phong tục tập quán ngươì Mãn Châu ra sao ? phái đoàn An Nam ngôì hai bên , phiá dươí Hoà Thân và Kim Giản , môĩ ngươì cũng ôm một cái gối cho đúng tinh thần giao tế , tể tướng lên tiếng trước :
-Trong cung đình nhà đại Thanh thì có nhiều loại cung , chốn ở ngủ thường ngày là “ nội cung “ còn tẩm cung là chỉ khi nào đau yếu , cần thái giám “ tẩm quất “ tức là đấm lưng thì vua mơí ngự ở tẩm cung , ngài ngự thưởng thức môn công phu tẩm quất xong thì hành sự , lễ ôm gôí là chỉ dành cho các vị Vua hoặc Thái thượng hoàng có niên kỷ thấp thập , bát thập , không thể đứng một mình , và cũng không thể ngôì trên ghế , mà nằm dựa ở trên giường cần thì nằm , lễ này chỉ dùng cho những ngươì cận thân thiết , bề tôi như thủ túc , như cha con , vợ chồng , không dùng cho ngươì ngoài và sau cái lễ này đôi khi còn một cái lễ nưã là lễ “ chùm chăn “để chuẩn bị đi nhị tỳ , thành ra trong cuộc lễ lạc này toàn là ngươì trong gia đình ,ngươì trong nhà cả , muốn noí gì thì cứ việc noi toặc móng heo ra không cần câu nệ khách sáo như ngươì ngoài làm gì ?
Tể tướng Hoà Thân vưà dứt lơì thì giả vương Phạm Công Trị lên tiếng :
-Thượng Hoàng đã coi thần là con cái trong nhà , vơí nưã Thượng Hoàng cũng trên tám bó gần đất xa trơì rồI , nên xin noí thực tình và noí ngay là thỉnh nguyện cuả kẻ tôi thần phương nam là muốn làm rể thiên triều , và xin lại đất Lưỡng Quảng làm quà cươí  Hôì Môn ?
Thượng Hoàng Càn Long đang mơ màng về một cõi đi về nào đó , bừng mắt dậy phán :
-Cái chuyện gả một Các Các cho nhà Vua làm Hoàng hậu thì là chuyện nhà dễ ợt như móc đồ trong tuí , khoỉ cần phaỉ suy nghĩ trẫm ô.kê ngay , nhưng chuyện cho tỉnh Lưỡng Quảng nguyên là đất cũ cuả Lạc Việt Văn Lang để làm quà hôì môn , thì đây laị là chuyện quốc gia đại sự , trẫm không thể đơn phương giải quyết một chắc được , sự vụ cũng phải thông qua Cơ mật viện , rôì lại mang ra khoáng đaị bàn ở nội các triều đình , đâu ra đó nếu toàn bá quan văn võ chấp thuận phương án này thì sẽ từ từ mà thi hành , nhà vua cứ về lại xứ An Nam ,  trẫm sẽ sai sứ giả mang chiếu chỉ qua sau  , sau cuộc đình nghị   nhưng có điều xin hỏi lại là nhà Vua và các quan An Nam hiểu về tỉnh Lưỡng Quảng như thế nào ?
Hoàng tử Nguyễn Quang Thiều lên tiếng :
-Dạ thưa Thượng Hoàng chỉ biết trước đây 1500 năm vùng đất này là cuả nước Việt , giờ xin cho châu về Hợp Phố ?
Thái Thượng Hoàng sau hớp trà sâm , không ngôì nôỉ nưã mà nưả nằm nưả ngôì , ngài thều thào noí với tướng Kim Giản giải thích cho phaí đoàn An Nam hiểu , hiểu rôì thì tuỳ nghi ? muốn sao thì thượng quốc cũng chiều lòng .

*
Tướng Kim Giản noí:
-Ngươì Chung Quốc có cái bệnh huyễn tưởng , thích ăn thịt gà , thích choị gà , nên lúc nào cũng nghĩ đất nước mình có hình con Gà , đỉnh đầu là vệ Kiến Châu [tức Liêu Đông Mãn Châu ] còn đuôi là Tây Tạng ,con Gà naỳ có lúc là gà đá độ , lúc là gà mái gà giò , lúc là con gà nuốt dây thung [ con gà chết ] đất Chung Quốc là đất chung chung cuả những sắc dân Háng , dân Thái Tạng , dân Bách Việt sống chung vơí nhau , dân Háng định cư ở vùng Hoa Bắc tiếp giáp vơí ngoại Mông Cổ và Mãn Châu , từ thơì Xuân Thu Chiến Quốc bắt đầu từ tỉnh phiá Tây bắc Cam Túc là [nước Tần ] kế đến tỉnh Thiểm Tây [ nước Hàn ] tỉnh Sơn Tây [ nước Triệu ] tỉnh Hà Bắc [ nước Yên ], dươí Hà Bắc là tỉnh Sơn Đông [ nước Tề ] bên cạnh nước Tề là tỉnh Hà Nam [ nước Nguỵ Lương ] ngươì Háng thoạt kỳ thuỷ chỉ có chừng đó , hôì đó dân thưa ít ngươì , noí cho dễ hiểu là ngươì Háng chỉ ở lưu vực phiá bắc sông Hoàng Hà , còn về lưu vực phiá nam thì goi là vùng Hoa Hạ , có nghiã là vùng Hồ nam Hồ bắc lúc đó còn là hoang điạ, và phiá dươí lưu vực sông Dương Tử thì là điạ bàn cuả ngươì Bách Việt , ngươì Bách Việt vơí ngươì Thái Tạng cùng một chủng , nhưng ngươì Bách Việt định cư vùng Hoa Nam văn minh hơn , lập quốc trước công nguyên ,
nào là Ngô Việt ở Giang Tô [ tức Tô Châu ] U Việt ở Chiết Giang [ tức Hàng Châu ] Sở Văn Lang ở An Huy , Chiết Giang Hồ Nam [ bao gồm cả đất Lưỡng Quảng ] Mân Việt ở Phúc Kiến và Tàiwan , khi đó thì vùng Tây nam như Tứ Xuyên , Vân Nam , Quí Châu còn là vùng đất vô chủ , nơi các ngươi Miêu , Tạng Thái sống trên đỉnh nuí tự do tự taị , noí là vùng đất Lưỡng Quảng thuộc Sở Văn Lang là cách noí hàm hồ , đất Lưỡng Quảng khi thì goị là Quảng Châu , khi thì Quảng Si , tuy cùng gốc Thái Tạng Bách Việt cả , nhưng cách sống và suy nghĩ không có nét nào giống noì Bách Việt cả , họ nưả giống ngươì Háng nửa giống ngươì Bách Việt , vùng đất này từ xưa cho tơi bây giờ y như con Ngựa Hoang , thơì đại nào , chế độ nào cũng cho họ “ Tự Trị “ vì không làm sao quản lý đựợc họ , ai cai trị thì họ chống lại , họ thua thì họ bất hợp tác , thua nhà Tống thì họ là dân Bách Việt , đánh nhau vơí nhà Lý thua thì họ nhận là ngươì Tàu , vào thế kỷ thứ 13 vùng Lưỡng Quảng này thuộc vua Nùng trí Cao , [ cùng thơì Đại Lý Nam Chiếu Vân Nam tự trị ] Lưỡng Quảng chia ra làm hai phần , phiá Đông là Quảng Đông , thủ phủ là Nam Ao [ tức Quảng Châu ] phiá tây là Nam Ninh [ Khâm Châu ] tức Quảng Tây hay Quảng Si , phiá Quảng Đông đất đai tương đối mầu mỡ , nhưng ngặt một nôĩ là dân Nùng , hay ưa cãi cọ , vì quá nhiều tiếng điạ phương noí vơí nhau không hiểu sinh ra cãi cọ , nên chuyện hợp tác sinh sống rất khó , cứ hở ra là cãi , đúng sai gì cũng cãi , vơí cái tính anh hùng rơm , chỉ ưa toàn làm chuyện lớn quốc gia đại sự , chuyện nhỏ không them làm nên toàn làm Pằng Hoặc đại vương mà thôi , còn phiá Quảng Tây thì theo chiều bắc nam lại chia ra làm hai vùng , vùng trên là Quảng Si , vơí dẫy nuí chiếm toàn vùng là “ Nuí Quảy Sông Cày “ vơí Chảng Vương cai trị . dân chúng chỉ nhịn đói và trượt tuyết , chỉ chờ 4 năm đi dự thế vận hội Olympic lấy huy chương vàng mà thôi , vùng dướí là Quảng Tây thì dẫy nuí Thập Vạn dài 270 dậm chiếm gần hết đất canh tác , do Trảng Vương quản lý , hai bộ tộc này cùng là một trưóc đó có tên chung là Choảng [ cứ hở ra là choảng ] dân Choảng giống dân Nùng ở một điểm là cứ hở ra là cãi , nhưng dân Choảng đi xa hơn dân Nùng một bước nữã là ngoài Đôi Co “ Cãi “ còn đánh lộn nưã “đánh chết bỏ “ Nhà Tần ,  Nhà Háng lúc trước không rõ , cũng dùng dân Choảng , dân Nùng cầm quân đánh trận , trận chưa đánh mà tự cãi nhau rồi tự đánh lẫn nhau mà tan hàng , bây giờ xin noí qua vùng đất Tây Nam tỉnh điạ đầu giáp vơí Tây Tạng là Tỉnh Tứ Xuyên [ tức Ba Thục ngày nay ]
xứ này từ khai thiên lập điạ đến bây giờ năm nào cũng đói , chỉ trừ có saú lần là đựợc muà đủ ăn trong thơì Tam Quốc , nên thừa tướng Gia Cát Khổng Minh mơí có gạo cho quân mang theo để ra Kỳ Sơn tiến đánh  Quan Trung  , nên dân ở đây cho tơí bây giờ trên đầu bao giờ cũng quấn khăn trắng để tang Khổng Minh đaị quân sư ? như để biết ơn .
Còn vùng Vân Nam Quí Châu toàn nuí non trùng trùng điệp điệp , ngoài dân Thái Tạng Miêu [ Mèo ] ra còn có thêm khoảng 26 dân tộc ít ngươì nưã , sinh sống trên đỉnh  nuí ,  lưng chừng nuí và chận nuí , toàn vùng không có đường xá lưu thông gì mà toàn là lôí mòn đi ven nuí ? thổ sản chỉ có trà kiểng “ mạn đà la “ và trà mã là ngựa chở trà đi nơi khác bán , trong xứ toàn thú độc và cây độc , đến Ngũ Độc Giáo chuyên trị về Độc mà đôi khi trúng độc chết gần hết ? những tỉnh này từ thơì nhà Mãn Thanh cai trị Chung Quốc , dân chúng không phaỉ đóng thuế , không phaỉ đi phu [ làm xâu ] không phaỉ đi lính [ ngoại trừ tinh nguyện ] vậy Quốc vương và các quan An Nam nên bàn thảo vơí nhau cho thật kỹ về vấn đề nhân sự tỉnh Lưỡng Quảng  , nếu không thì hối hận cũng quá muộn .



chuvươngmiện           

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét