ĂN GIỖ
VỢ BẠN
Truyện Ngắn
Mang Viên Long
An có thói quen tắt nguồn diện
thoại trước lúc đi ngủ. Phòng ngủ của anh lại gần kề phòng con và các cháu; nên
mỗi lúc chuông điện thoại reo mà chưa kịp bắt máy, thì con cháu không ngủ yên
được! An bị rầy rà mấy lượt, nên khi chuẩn bị lên giường, là đã tắt máy ngay!
Cho khỏi phiền...
Đêm hôm qua, không rõ vì sao, An đã
lên giường ngủ một giấc, mà điện thoại lại reo vang inh ỏi? Lúc ấy vào khoảng
10 giờ 30, cả nhà đang ngủ say hết. An giật mình, đưa vội tay lên đầu giường
như cái máy, mở to mắt nhìn, thấy tên “Nguyễn
Văn Đào”…Anh bắt máy, chủ yếu chỉ nghe, không dám nói. Câu nói duy nhất của
An trước khi tắt máy, tắt nguồn, là “Tôi
sẽ đến. Cám ơn anh!”.
Nếu An nhớ tắt nguồn như mọi đêm, thì
đã bỏ mất một cơ hội gặp gỡ, chia sẻ với bạn. Sự “quên ngẩu nhiên” có lẽ, đôi
khi - cũng là một diều tốt, An nghĩ vậy - cũng có thể là một “nhân duyên lành”;
trong cái rủi vẫn có cái may bên cạnh...
Sáng sớm hôm sau, An gọi cho Đào
để xin lỗi, và cho biết lý do đêm qua
không thể trò chuyện lâu hơn được. Biết An sẽ có mặt, Đào rất vui: “Anh em ít có dịp gặp nhau, nay nhân ngày giỗ
bà xã, cậu nhớ xuống để mình còn cảm thấy gần gũi - như xưa nhé!”.
Lời người bạn như âm vang trong đầu An “để anh em còn cảm thấy gần gũi như xưa” - khiến anh nhớ lời người bạn vừa thuật lại
tuần trước, khi anh được mời dự ngày giỗ cha của anh ta. Anh ta kể, vừa gọi cho
một cậu bạn đang là Phó giám đốc một cơ quan ngày xưa của anh, với lời mời rất
thân tình, dầu cậu ấy nhỏ tuổi hơn: “Nhân ngày giỗ ông già mình, mời cậu mười
giờ hơn ghé uống chén rượu cùng gia đình và anh em…” - người bạn đáp gọn một
câu “chưa chắc!”, rồi cúp máy cái rụp; mà không thể hiểu nổi sự kì quặt của một
con người, có thể nói là đã “có chút địa vị và học thức” trong xã hội của chính
mình đang sống! Mỗi ngày, An vẫn thường bắt gặp những sự kỳ quặt như thế nhiều
hơn, mà không thể giải thích được…
Đào mời An có mặt từ khoảng 10 giờ đến 10 giờ
30, nhưng An đã quyết định đi sớm, để đến sớm hơn. An có thói quen “không dám”
đi trễ. Nếu bận việc phải đến trễ hơn 15 phút - đều gọi báo và xin lỗi trước. Đào
lớn hơn An hai tuổi, học cùng trường Cường Đễ, nhưng học trên một lớp. Cả hai
đã có thời gian ba năm sống chung một nhà trọ từ lớp đệ tứ. Đào thi hỏng tú tài
hai, bị động viên vào học trường võ bị Thủ Đức; trong lúc An tiếp tục học đệ
nhất, và cuối năm vượt qua được kỳ thi với tỷ số đậu mười phần trăm giai đoạn
thi viết, qua phần oral chỉ còn lại tám phần trăm. An chọn thi vào trường Đại
học Sư Phạm Saigon …
Đào là con út một gia đình phú nông
khoa bảng, danh giá ở xã TP, được lo cho việc ăn học xa rất chu đáo; trong lúc
An ít khi trả tiền cơm tháng một lần cho bà chủ nhà trọ đúng hẹn. Trong tám cậu
học trò đang tá túc ở trọ ấy - có lẽ, An là người bất hạnh nhất: An mồ côi cả
cha lẫn mẹ từ nhỏ, sống nhờ vào chút tình thương của người anh. An luôn trả
tiền cơm một tháng đến hai ba đợt. Nhưng, Đào lại chọn anh để kết thân, gần
gũi, quý mến An nhiều nhất. Cả hai thường đi học chung mỗi sáng. Đào thường rủ An
đi long rong ngoài phố, vào quán ăn kem, vào xi nê chiều thứ 5, hay ra biển mỗi
chiều tối, trước giờ ngồi vào bàn học cho đến khi đôi mắt không mở ra được nữa.
Đào vẫn hay dành nhiều thời gian cho việc chải chuốt, săm soi gương mặt, mái
tóc, áo quần; nên khiến An thường bị đi học trễ vì chờ đợi Đào đứng trước tấm
gương soi hơi lâu…Có hôm, đã ra đến đường - Đào còn hỏi: “Cậu nhìn thấy cái đầu
tóc mình thế nào? Mình ăn mặc vậy có được không?” - “Number-one, trễ rồi, cha
nội…”. An không ưa Đào về chuyện chải chuốt, nhưng lại mê Đào về chuyện đàn
hát, Đào chơi guitar rất giõi, nhưng hát thì chỉ “hay hát” (chứ không phải hát
hay) thôi…
Đào ra trường bộ binh một thời
gian, nhưng sau đó được tuyển vào không quân. Có lẽ vì nhu cầu, cũng có thể vì
“bộ gió” cao ráo, khỏe mạnh, hào hoa của
anh ta nữa. Đào được cử sang Mỹ học lái máy bay trực thăng và L19 hơn một năm,
về nước phục vụ ở phi trường Cam Ranh; trong lúc An đang còn học năm cuối đại
học.
Khi còn ở Saigon ,
nghe Đào báo tin sẽ cưới Thanh vào dịp cuối năm - An hơi ngỡ ngàng một chút,
nhưng không ngạc nhiên nhiều. Thuở còn học đệ nhị, trong lúc đang nổ lực để
chuẩn bị thi tú tài phần một, An đã nghe Đào rỉ rả tâm sự về cuộc tình của anh
với Thanh. Rất mùi mẫn. An chỉ nghe, mà không ý kiến. Mới vừa tuổi mười tám ,
nhà nghèo, An chỉ lo cắm đầu học, không hề dám nghĩ nhiều đến chuyện yêu đương,
mặc dầu cũng có đôi bóng hồng chen vào đầu An, nhưng không ở lại lâu, không sâu
đậm…An hiểu lờ mờ rằng, Tình Yêu rất rắc rối, rất kỳ cục - nên An chỉ ngồi nghe
Đào say sưa kể chuyện vì nể tình, mà không dám góp vào câu nào…Không biết rõ,
tốt hơn là nên im lặng - An luôn ghi nhớ lời khuyên đó của chị, khi rời nhà đi
học xa.
Đào đã giới thiệu Thanh cho An
biết vào một lần gặp nhau ở bãi biển. Thanh đẹp. Có duyên. Vóc dáng gợi cảm. Cô
có học qua năm đệ nhất ở trường tư thục Bồ Đề, nhưng thi tú tài hai không đậu;
đang làm việc ở Ty Xã hội. Trước khi gặp Đào, Thanh đã có một đứa con trai hai
tuổi với chàng trung úy thiết giáp, mà chưa làm đám cưới. Rút cuộc, chàng trung
úy hào hoa đã theo đoàn xe tăng lên cao nguyên, không hẹn ngày trở lại…Trước
ngày nhận về làm “phù trể” cho Đào, An còn nghe vài người bạn cùng trường thuở
xưa cho biết, Thanh còn lớn hơn Đào hai tuổi! An cười: “Cậu không nhớ lời ông
bà ta đã nói sao? - “Nhất gái hơn hai,
nhì trai hơn một” đó mà!”.
Cách nay năm năm, Thanh mất vì bệnh ung thư, mặc dầu Đào đã lo chạy
chữa cho Thanh gần như “sạch sẽ” vốn liếng còn lại sau năm 75. Thanh mất, để
lại cho Đào bốn người con - Đào gọi người con riêng của Thanh là “con Cả”,
người con trai đầu tiên của Đào là “con Trưởng”, và tiếp theo là hai cô gái và
một cậu con trai út. Đào đã cùng Thanh lo việc xây dựng gia đình cho người con Cả bài bản, dù hoàn cảnh lúc ấy
dang rất khó khăn. Hai người con trai sau nầy của Đào đang sống và làm việc ở Saigon . Chỉ có người con Cả và cô con gái giữa là vẫn
sống ở quê, gần Đào. Tất cả, cho đến nay - đều đã được lập gia đình riêng, có
cửa nhà, công việc làm ăn ổn định. Đào đã có cháu nôi và ngoại đầy đủ, đuề huề.
Hằng ngày, người con Cả đều chạy về
tưới vườn cây cảnh, quét dọn khu vườn cho Đào một lần vào buổi sáng sớm. Trưa,
cô con gái mang thức ăn đã nấu sẵn đến cho Đào và đứa cháu nội (con của người con Cả) dùng cả ngày. Đào chỉ nấu
nồi cơn điện, cho vui - tùy thích. ( đứa cháu nội lớn nhất chín tuổi con của
người “con Cả” đã về sống với “ông nội” từ hai năm nay, cho “ông nội” vui!).
Nhờ có đứa cháu nội, Đào có thể nhờ đỡ vài việc lặt vặt như chạy lên phố chợ
mua gói thuốc, mấy lạng café, hay cái card điện thoại khi đang bận soạn tiếp vở
tuồng hát bội “Kim Vân Kiều” (sau khi
đã soạn xong tuồng “Ngọc Sóng Bạch Đằng” và “Tiếng Gọi Biên Thùy”), hay đang có
bạn ghé thăm chơi . Ngôi nhà lá mái cũ nơi cái xóm vắng giữa đồng của vợ chồng
Đào chỉ cách khu phố chợ mấy đám ruộng, một đoạn đường bê tông vài trăm mét…
Buổi chiều, hai ông cháu thường ngồi ở
chiếc ghế đá ngoài góc sân, Đào ôm đàn hát đủ thứ bài, từ tân nhạc, đến cổ nhạc
- đứa cháu ngồi bên chỉ nhìn Đào mà cười! Nhiều bạn thân, kể cả bà con của
Thanh, có đôi lần góp ý, mong Đào “bước thêm bước nữa” cho có người kề cận sớm
hôm, cho vui, mỗi khi nhìn vóc dáng Đào đã 65 nhưng còn rất phong độ; nhưng anh
chỉ cười: “Tìm bồ bịch thì dễ, nhưng tìm vợ - khó lắm!”. Sau năm 75 - trong
buổi giao thời rẫy đầy đổi thay khó lường, đời sống đang gặp vô vàn khó khăn,
lòng người hiểm sâu khó biết; nhưng Đào vẫn áo trắng quân tây bỏ vào trong tươm
tất, giày vớ nhiêm túc, đầu tóc chải chuốt gọn gàng, mỗi khi có việc phải ra
đường…Có việc lên thị trấn, Đào đều ghé thăm An thân tình, gần gũi như thuở
cùng nhà trọ hơn bốn mươi năm trước, dầu lúc nầy An đang là người thợ “sửa khóa
- làm chìa” lem luốc, vất vả (chứ không còn làm thầy nữa!). Lần nào gặp Đào (dù
tình cờ ở đâu), An cũng vẫn thấy Đào “không có chút gì thay đổi” khi thời cuộc
đang thay đổi: Anh vẫn trong sáng, tự nhiên, và nghiêm túc (từ cách ăn măc, đến
đối xử). An cũng đã tìm thấy cho mình một niềm vui sống trong cảnh ngộ bi đác đang phải
vượt qua, mỗi lần được gặp, trò chuyện với Đào bên tách café nơi góc quán hiên
nhà vỉa hè nào đó…
Ngày giỗ lần thứ ba của Thanh, Đào có
gọi mời An xuống nhà “uống ly rượu”, và anh đã có mặt dầu chiều hôm ấy là phải bươn
bả vào Saigon. Trong buổi sáng hôm ấy, An đã rất vui được gặp lại anh và chị
của Thanh, mà đã hơn ba mươi lăm năm không có dịp gặp lại. Buổi sáng hôm ấy, có
đông đủ các cháu gọi Đào bằng “dượng”, bằng “chú”. Từ con Cả đến con Út - đều
đông đủ, sum họp - khiến An cứ nghĩ rằng, đó là một cuộc gặp gỡ hạnh phúc…
An xin phép Đào được thắp nén hương
đầu tiên cho Thanh sau ngày chị ra đi. Bức ảnh của Thanh được Đào sang lớn chụp
năm 92 đặt giữa bàn thờ sáng rực ánh đèn, vẫn còn ghi rõ nét duyên dáng, hồn
hậu nơi gương mặt phảng phất buồn của chị, đã làm An bàng hoàng nhớ lại một
thời tuổi trẻ nơi bãi biển, lần đầu được Đào giới thiệu. An thoaqngsThời gian
đã làm đổi thay tất cả - nhưng, tình yêu thương vẫn còn đây bên đời sống của
Đào đang nghi ngút khói hương…
MANG VIÊN LONG

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét