TỪ MỘT CÂU CHUYỆN
CỔ
ĐẾN LỜI DẠY
CỦA PHẬT
Tạp bút
MANG VIÊN LONG
Tuổi thơ và truyện cổ có một mối quan hệ
rất mật thiết dường như không thể tách rời nhau được. Trong thời thơ ấu của mọi
người, truyện cổ là một sinh hoạt tinh thần không thể thiếu - nhiều lúc, giữ
một vai trò quan trọng trong cuộc sống tình cảm, gây được ảnh hưởng sâu sắc,
lâu dài cho cả quãng đời sau này… Đối với tôi, tôi nhớ mãi câu chuyện mà mẹ tôi
đã kể từ lúc tuổi nhỏ - nó ám ảnh, xuất hiện từng lúc trong tâm trí tôi, để mỗi
năm tháng trôi qua, càng đậm nét và sáng rõ…
C
|
âu
chuyện có thể tóm lược như thế này: “Ngày xưa (…) lão ăn mày đến xin ăn ở gia
đình nọ trong lúc đang là ngày thành hôn của cậu con trai út. Người giúp việc
mang thức ăn ra cho, nhưng lão không chịu nhận, không chịu đi, đòi được dọn ăn
tử tế . Chủ nhà nghe có tiếng ồn, chạy
ra xin lỗi lão, và bảo gia nhân bày biện cho lão một bàn ăn riêng như quý
khách. Nhìn bàn ăn, lão không vừa ý. Lão ta đòi vào ngồi dự chung bàn với hai
họ. Chủ nhà xin phép họ hàng, rồi mời lão cùng ngồi bên cạnh. Tiệc xong, tiễn
họ đàng gái ra về, thì trời đã xé chiều. Lão nói với chủ nhà: “Trời sắp tối
rồi, tôi không có nhà để về, tôi ngủ lại đây đến sáng mai mới đi!”. Chủ nhà
vui vẻ gọi người lo thu dọn phòng ngủ cho lão. Lão khoa tay, lắc đầu, chỉ vào
chiếc phòng có trang hoàng hoa cây cảnh, liễn đối sang trọng - căn phòng hoa
chúc của con người chủ nhà, giọng dứt khoát: “Tôi thích ngủ ở trong phòng
này!”. Thế là chủ nhà cho chuyển con đến phòng khác, dành căn phòng rực rỡ
đèn hoa cho lão ăn mày…(…) Đã sáng, mặt trời lên cao bảy tám sào rồi mà lão ta
vẫn chưa ra khỏi phòng. Chủ nhà khẽ gọi cửa, rồi đẩy cửa bước vào: Lão ăn mày
tối hôm qua không có ở trên giường, mà chỉ còn lại một tượng vàng, y hệt hình
dáng lão, sáng rực một góc phòng….”
Thuở ấy, nghe mẹ kể, tôi hiểu được, nếu có
lòng thương người, chịu khó giúp kẻ nghèo, thì sẽ được đền đáp vàng bạc, sẽ trở
nên giàu sang, sung sướng. Khi lớn lên, được học thêm và đọc thêm, tôi hiểu
người chủ nhà trong truyện là người có học rộng, rất khôn ngoan; bởi vì đúng
như ông Euripide (480 – 406 trước CN) đã khuyên: “Bạn chớ làm gì trong cơn
nóng giận. Đương cơn bão tố, bạn có căng buồm để chạy thuyền không?”. Nhà
toán học René Descatrtes (1596 – 1650) cũng đã có lần tâm sự : “Quand on me
fait une offense, je tâche d’élerce mon àme si haut que l’offense ne parvienne
pas jusqu’à elle” (Khi bị xúc phạm, tôi cố gắng nâng tâm hồn lên cao mãi cho
tới khi sự xúc phạm không tiến tới mức đó).
Những năm dạy học ở Tuy Hòa, được nhiều
duyên may, tôi được gần gũi, thân quen với quý thầy trong Ban Giám hiệu trường
Trung học Bồ Đề (trước 1975). Đại đức Thích Thiện Đạo, Thích Minh Tâm, Thích
Nguyên Đức, cư sĩ Tâm Cảnh, và chị Diệu Thuần, đã cho tôi nhiều Kinh sách để
đọc. Tuy là duyên muộn, nhưng tôi đã đọc những Kinh sách mà tôi có được với tất
cả lòng tin sâu rộng và niềm hỷ lạc tuyệt vời. Lão ăn mày biến thành tượng vàng
và người chủ nhà khôn ngoan, nhẫn nhục ấy chỉ thể hiện được một phần rất nhỏ,
so với những lời đức Phật đã dạy. Nếu đem so sánh với đức nhẫn nhục của đức
Phật trong nhiều kiếp, thì chỉ là một chiếc lá giữa rừng mà thôi. Tuy sự khâm
phục “người chủ nhà kỳ lạ” thuở xưa không mất, nhưng tôi đã bắt đầu cảm
thấy “sự kỳ lạ” dần trở nên bình thường, nhất là khi nghe đức Phật dạy: “Người nào chưa có thể vui mừng chịu nhận nghe những điều chửi rủa ác độc như là được uống
nước cam lồ, thì chưa gọi được là người có trí tuệ nhập đạo” (Kinh Di Giáo).
Trong một lần đức Phật thuyết pháp, có một
vị sa môn bạch hỏi Phật rằng “Cái gì là mạnh nhất?” - Đức Phật đã đáp: “Đức nhẫn nhục là mạnh nhất - nhẫn nhục thì
không có ác tâm, lại có tâm yên vui, bền vững. Người có đức nhẫn nhục đã là
người không có ác tâm thì thế nào cũng được
người ta tôn quý?” (Kinh Bốn mươi hai chương). Nhờ lời dạy
trên, tôi hiểu thêm lý do vì sao người chủ nhà trong truyện cổ của mẹ kể, đã
được nổi tiếng khắp vùng và được mọi người kính trọng, trước đó. Người chủ nhà
quả là một Phật tử thuần thành, một cư sĩ được giác ngộ lời Phật dạy, vì đã “có
tâm bình đẳng, coi người cũng như ta, kẻ oán cũng như người thân”.
Về sau, được đọc những câu này trong kinh
Pháp Cú, tôi vô cùng xúc động, tha thiêt mong mỏi được thọ trì mãi mãi trong
cuộc sống đang có nhiều bức bách và hận thù. Tôi lấy giấy bút viết chữ to nét,
dán ngay trước bàn viết của mình: “Nó lăng mạ tôi, đánh đập tôi, phá hoại
tôi, cướp đoạt tôi” – ai còn ôm ấp
tâm niệm ấy, thì sự oán hận sẽ không bao giờ dứt hết (…). Ở thế gian này chẳng phải hận thù trừ được hận thù. Đó
là định luật của ngàn thu”.
Câu chuyện cổ “Bách nhẫn hóa thành kim”
của mẹ tôi kể từ thuở lên tám đã dần dần sáng rõ, hấp dẫn tôi lạ lùng: tôi hiểu
được rằng, bức tượng vàng dầu là nặng bao nhiêu ký lô của lão ăn mày để lại cho
người chủ nhà - cũng còn là quá ít, so với công đức của người có đức nhẫn nhục
được thọ hưởng. Bức tượng vàng chỉ là một hình ảnh cụ thể tượng trưng nhỏ nhoi
mà thôi. Nó có vẻ quyến rũ, mời gọi tuổi thơ - nhưng lúc đã trưởng thành, trải
qua nhiều truân chuyên, chướng nghiệp trong cuộc đời; tôi đã cảm nhận được
nhiều lợi lạc to lớn do đức nhẫn nhục mang lại còn hơn là tượng vàng! Vì là
Thiện pháp mầu nhiệm đứng đầu các pháp, có sức mạnh không thể nghĩ bàn, nên đức
Phật đã ân cần, tha thiết chỉ dạy thêm lần cuối cùng: “Đức nhẫn nhục là đức hay nhất, giữ giới và tu khổ hạnh cũng không bằng
được người biết nhẫn nhục có thể gọi là người có đức lớn, có sức mạnh” (Kinh Di Giáo)
(Giác
ngộ số 19 ngày 10-8-1996)
MANG VIÊN LONG

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét