NGƯỜI ĐI TẬP KẾT
Truyện
ngắn
Minh Kỳ
Minh Kỳ
Gia
đình ba tôi có sáu anh em, ba tôi thứ hai, rồi tới cô ba, cô tư, chú năm, chú
sáu và cô út, đấy là kễ theo thứ tự chứ
không phải tên thật. Mà ở xứ tôi ít ai xài tên thật lắm; gặp nhau câu đầu tiên
là hỏi ;
_ Anh (hay chị…) thứ mấy ? Biết thứ rồi là kêu
chết thành tên. Có chuyện nực cười là ba tôi thứ hai, má tôi con út nên ai cũng gọi là cô Út. Những người mới
gặp ai cũng kêu vậy, đến khi gặp ba tôi họ kêu ba là dượng Út luôn. Còn những
người thân quen đều kêu má là cô hai, bên ngọai cũng kêu ba là dượng Út.
Ông
bà nội tôi sống bằng nghề làm ruộng, nhà ông nội nằm bên sông Sa đéc vùng Đồng
Tháp mười. Cả nhà chỉ có hai chục công ruộng, năm nào không bị lũ lớn thì cũng
tạm đủ ăn; năm nào lũ lớn là mất mùa. Cả một vấn đề lớn về sinh kế. Cô Ba, cô
Tư lo chăn mấy con heo, chú năm thì chăn cặp trâu do ông nội mua hồi còn nhỏ.
Ông nội biết xem tướng trâu nên mua được cặp trâu khá tốt. Tốt ở đây không phải
đem trâu đi chọi mà là cặp trâu không phản chủ, làm tôt, dễ thương, không phá ách. Ông nội đặt tên là
con Xe, con Pháo, cưng dữ lắm, ông nội cưng trâu chừng nào thì chú Năm cực
chừng ấy.
Nhà
đã nghèo thì chớ, cứ ít năm lại bị lở một khoảng có khi năm ba mét. Cứ khỏang
mười năm phải dời nhà một lần. Riết rồi lui vào tận trong ruộng luôn, đến khi khôn lớn tôi mới thấm thía nỗi buồn
của những gia đình có nhà bên lở.
Nhiêm
vụ của chú Năm là lo cho cặp trâu thôi, lo suốt năm. Cực nhât là gặp mùa nước
lũ, nước ngập khắp mọi nơi. Mọi di chuyễn đều bằng xuồng ba lá, lúa mùa mất
trắng, coi như ăn độn, có ngày không có hột gạo. Những lúc này mọi người lo giăng
câu giăng lưới, đặt lờ đặt lợp bắt cá.Vậy nên năm nào bị lũ là năm đó cơ cực; cực
nhất là chú Năm . Nước ngập tràn đồng ruộng, người cũng không có chỗ đứng thì
trâu làm sao?
Không
có cỏ ăn, không có chỗ đứng, cái gì cũng không có? Phải đem trâu đi lên miền
thất sơn, mà không phải chuyên dễ dàng gì. Khắp vùng ngập nước, muốn đưa trâu
đi phải biết đường đi, phải có bạn, phải giỏi võ…Không thì trâu sẽ mất mà người
có khi không toàn mạng vì ăn cướp.Vậy nên trước khi đem trâu đi phải chuẫn bị
thật kỹ: Đi với bạn hay gửi trâu cho những tay chuyên nghiệp đưa đi, hết mùa lũ
họ sẽ đem trâu về và mình trả công là xong.
Thường
năm nào nước lên cao qúa, đồng ruộng ngập trắng là có những tay chuyên nghề
“len trâu” đến những nhà có trâu xin đem trâu đi và trả trâu về khi nước cạn. Họ
có tỗ chức đàng hoàng, làm ăn có trách nhiệm; nếu lỡ trong thời gian đang len
mà trâu chết, họ sẽ lột da đem về cho chủ làm bằng chứng, gía cả rõ ràng. Họ có
cả băng đảng làm việc này, ai lo ăn, ai lo kiễm tra trâu, khi gặp cướp ai sẽ
len trâu đi, ai ở lại chống cự…Nếu gặp cướp dữ chống cự không lại, mất hết trâu
thì mạng mình cũng mất luôn. Mấy tay len trâu cũng anh hùng hảo hán lắm; thà
chết bảo vệ trâu chứ nhất định không bỏ chạy. Gỉa như bỏ chạy thì toàn mạng
nhưng sẽ mang tiếng là hèn nhát; không dám về làng, phải bỏ xứ mà đi tha phương
cầu thực, mang tiếng hèn suốt đời.
Ông
nội cưng trâu lắm nên quyết định gửi trâu cho những tay len trâu chuyên nghiệp
với điều kiện là chú Năm được đi theo chăm sóc trâu. Tiền bạc khi về sẽ trả sòng
phẵng. Thật ra cặp trâu ở nông thôn rất qúy, nó làm viêc gấp năm sáu lần người.
Nhà có trâu thường cố gắng thu hoạch cho nhanh rồi đi làm thuê cho người khác; hoặc
lấy công, hoặc lấy của.
Lấy
công là mình đem cặp trâu đi làm cho người ta một buỗi, người ta làm lại cho
mình sáu buỗi công người. Lấy của thì tính thành tiền bằng sáu người làm một
ngày.
Sau
mùa len trâu ấy, chú Năm tôi đem trâu về rồi thoát ly gia đình luôn. Cả năm sau
mới được tin chú đi theo đám chăn trâu vào trong “ bưng” theo Cộng sản. Người
cán bộ giao liên đưa cho ông nội tôi một lá thư không biết ai viết? Viết theo ý
chú Năm hay theo ý riêng của một người Cộng sản, chú Năm không biết chữ làm sao
viết thư?! Đaị ý chú xin lỗi mọi người trong gia đình vì sự ra đi của chú. Chú
ra đi vì tình yêu quê hương, vì căm thù giặc My; chú sẽ trở về khi quê hương
không còn bóng dáng thực dân nữa. Ông nội lúc này đã gìa nua, gần tám mươi rồi
mọi việc trong nhà đều do ba tôi quyết định.
Chú
Năm tôi ra đi với cả bầu nhiệt huyết,với tình yêu quê hương. Chú mang theo lòng
căm thù lũ thực dân cướp nước. Điều này bây giờ được cán bộ cộng sản dạy dỗ chú
mới biết. Trước kia chú chả căm thù ai kễ cả thực dân Pháp. Chú còn thấy thực
dân Pháp dễ thương nữa vì thỉnh thoảng chú đựoc cho mấy thỏi sô cô la ngọt ngào
làm sao ấy.
Thực
ra chú cũng như những người tập kết khác bị tụi công sản dụ dỗ, nhồi sọ và gạt
gẫm đễ đi theo chúng. Chiêu bài của chúng là đễ cho thế giới biết miền Bắc di cư vào Nam thì miền Nam cũng có
người đi ra Bắc. Thật ra hai điều này rất mâu thuẫn:
Miền
Nam ra đi tự do, ai thích cộng sản cứ đi ra Bắc; không ngăn cấm, không dụ dỗ ở
laị. Trái lại, miền Bắc đi vào Nam thật gian nan . Các cán bộ cộng sản được
huấn luyện thật chu đáo đễ làm rào cản những người muốn vào Nam. Tại các vùng
quê phải trốn đi vào giữa đêm, băng cánh đồng trong yên lặng, vội vã không dám
ngừng nghỉ. Chỉ mong ra đến vùng quốc gia là an toàn. Còn như gặp cán bộ cộng
sản thì kễ như “đời tàn trong ngõ hẹp”. Trong vùng quốc gia chúng vẫn xuất hiên
công khai; đám này là những thanh niên, thiếu nữ từ mười tám đến hăm lăm thôi .
Người nào cũng đẹp đẽ, tôt lành, ăn nói
ngọt ngào, họ lên trên xe bá vai bá cỗ :
_ Anh yêu ơi, đât nước thanh bình rồi anh còn
đi đâu . Ở lại với em đi, mình về quê sinh sống, nhà em có ruông vườn, mình rau
cháo có nhau. Còn như anh muốn ở trên thành phố thì về em bán nhà cửa, ruộng
vườn, mình mua căn nhà trên phố, mở một tiêm ăn nho nhỏ, em làm đầu bếp giỏi
lắm anh à, xuống với em đi anh, em sẽ là người vợ hiền, sẽ yêu thương anh suốt
đời, em thề với anh đó. Bạn thấy chưa, ngọt ngào qúa, tình tứ qúa. Nghĩ lại, mình
đi với con vợ vừa gìa vừa không đẹp lại hay cằn nhằn .Thôi ở lại, cô này vừa
trẻ, vừa xinh đẹp, lại giỏi giang, nhà có của, còn gì hơn nữa mà đi cho mệt. Vào
Nam cũng hai bàn tay trắng, phải làm lại từ đầu đến bao giờ mới khá được, biết
có hơn miền Bắc không mà đi. Vậy là bạn xuống xe, người đẹp mời bạn vào một căn
lều dựng lên giữa ruộng .
_ Anh ngồi nghỉ ở đây chờ em, em còn chút việc
phải làm cho xong, đến bữa có người lo cơm nước, anh không phải lo lăng gì hết.
Ngồi một lúc thì có cán bộ trang bị súng đạn đến mời bạn đi. Bạn nói còn chờ
người bạn gái thì cán bộ giải thích ngay :
_ Làm gì có ai bạn với anh ở đây, anh bỏ nước
theo Mỹ ngụy là có tôi với nhân dân. Chúng tôi khoan hồng cho về làm ăn là
phước đức lắm rồi còn đòi hỏi gì nữa ! Khi biết mình bị lừa rồi thì không có
đường đi nữa, ngồi nhìn những người thảnh thơi trên xe khi xe chuyễn bánh mà
tâm hồn tan nát. La không ai nghe, chống cự thì ăn báng súng . Các cán bộ Nam
cũng vậy, họ có nhiệm vụ dụ dỗ mấy cô, mấy bà…cùng một luận điệu.
Chỉ
có câu nói ấy thôi mà mấy chục cô, mấy chục anh cán bộ nói với hàng ngàn người,
hàng vạn người và hàng ngàn, hàng vạn người đó không ít người ở lại chịu đắng
cay chung như nàng Kiều
“Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn
làm sao, nói làm sao bây giờ”
Nguyễn
Du
Tụi
cộng sản còn muốn nếu mai này có tỗng tuyễn cử thì phe mình càng nhiều người
càng nhiều phiếu, thêm tài ăn gian nữa thì thắng là cái chắc. Và những người bị
dụ ở lại được đưa đi các nông trường lao động xã hội chủ nghĩa cho biết đá
vàng.
Chú
Năm tôi ra đến ngoài Bắc rồi được ăn chơi cà nhỏng sáu tháng chờ biên chế. Khi
có biên chế rồi, chú được phân công làm nghề cũ :
_ Anh phải biết là đất nước ta giàu đẹp, hồi
trước anh chỉ chăn có hai con trâu thôi; bây giờ anh được chăn tới sắu con. Anh
sẽ dời sang ở bên cạnh chuồng trâu, chúng tôi đã làm sẵn cho anh chỗ ăn, ngủ. Sáng
xuống nhà bếp lãnh đồ ăn cho bữa sáng, bữa trưa. Trưa anh ăn trên đồi với trâu,
chiều về anh tắm rửa, lãnh đồ ăn tối rồi ngủ với trâu luôn. Anh có thắc mắc gì
không ?
Biêt
mình bị lừa gạt thì tay đã nhúng chàm; gương sờ sờ trước mắt là ông Bẫy Quới
đó, tính nết bôc trực, thấy sao nói vậy. Khi được phân công vào tỗ rau xanh, tối
ngày cuốc xới, lại phải hốt phân đễ bón cho rau, vừa hôi tanh, vừa bẫn thỉu.
Ông không chịu nỗi nên cự lai rồi bỏ việc, bị chúng mời lên văn phòng đánh cho
một trận què luôn một tay, một chân.
Thật
ra khi chúng dụ dỗ những người đi tập kết chúng đã biết là chỉ đễ cho thêm
người về phe mình thôi, nếu tỗng tuyễn cử sẽ dễ dàng chiến thắng. Còn như xử
dụng vào chức vụ này nọ trong đảng thì không được; vì dân miền Nam có khỗ sở,
đói khát bao giờ đâu. Ngay những năm bão lụt hay nước lũ cũng có ai chết đói đâu
! Nếu giao cho chúng những chưc vụ quan trọng làm sao chúng làm được, lại nữa đa phần là dân chăn trâu, chữ nghĩa
không đầy lá mít. Không chịu được gian khỗ nên nếu cho chúng vào chiến trường
miền Nam, gặp dịp là chúng hồi chánh ngay.
Khi
biết là sẽ không bao giờ có tỗng tuyễn cử chúng coi thường đám tập kết ra mặt
luôn. Chỉ có những người sau này cầm đầu mặt trận giải phóng miền Nam thì được
ưu đãi. Còn những người khác nếu giỏi hoặc có những khả năng đặc biệt cũng được
xử dụng nhưng phải dăm năm mới được vào đoàn, và chục năm cúc cung tận tụy đễ
chúng tin cậy mới vào đảng được. Là đảng viên rồi thì tha hồ làm bậy; tham ô, hủ hoá…miễn là kín đáo một chút, đừng
lộ liễu qúa là ổn hết.
Những
người như chú tôi thì tối ngày ở nông trường như những người dân . Biết đám dân
này chán nản lắm rồi nên chúng sắp xếp đễ mọi người có gia đình. Chúng lựa một
số đảng viên nữ có phẫm chất trung thành với đảng, vừa làm vợ, vừa theo dõi tư
tưởng, nếu phát hiện chồng mình có tư tưởng phản động phải báo cáo ngay, nếu
chỉ chán nản thôi thì phải động viên tinh thần đễ những ngưòi tập kết này an
tâm sinh sống trên đất Bắc .
Tháng
ngày cứ lặng lẽ trôi đi, lâu qúa nên mọi người chẵng còn thắc mắc gì nữa, thế
là đảng công sản Việt Nam thành công và chuẫn bị thành lập mặt trận giải phóng
miền Nam. Chúng liên hệ với đám Miên cộng, Lào cộng đễ lập căn cứ ở vùng biên
giới Miên Việt, Lào Việt. Từ đó làm bàn đạp tấn công, quấy rối các xã ấp, tàn
sát một số người lấy tiếng nhưng bị chính phủ Ngô đình Diệm đập tan âm mưu này.
Đến khi chính quyền Ngô đình Diệm sụp đỗ, miền Nam Việt Nam bị rơi vào tình
trạng không có chính quyền vì sự tranh dành quyền lợi, chức vụ…Và bọn Việt cộng
lợi dụng cơ hội này, ráo riết hoạt động cho mặt trận giải phong miền Nam vững
mạnh hơn đễ tạo tiếng vang trên chính trường quốc tế. Chúng đã thành công và
các mật khu như Hố bò, Dương minh Châu, Cà mau… nhât là cục R bên xứ Miên…mỗi
ngày một kiên vững hơn. Nhưng bọn Việt công địa phương thì ban ngày là dân với
đầy đủ giấy chứng minh này nọ. Nhưng đêm về thì thành Việt cộng, mang súng ak bắt
dân chúng đi đắp mô, gài mìn trên đường, đi dân công…
Chính
quyền của tỗng thống Nguyễn văn Thiệu hành quân có kết qủa tốt nhưng không tiêu
diệt được địch quân vì nếu chúng thất bại, chúng rút sang Lào và Cambodge. Còn như vùng Năm căn, Cà mau quanh năm nước
ngâp, mình biết chúng ở đó mà đánh không nổi. Khoảng giữa năm 1971, tôi được
tham gia trận tấn công vào sào huyệt công quân ở trong rạch ông Trang, ông
Quyền gần căn cứ Hải quân Năm Căn, chương trình hành quân thật quy mô : Trước
ngày hành quân ba ngày đêm, pháo binh bạn, pháo binh căn cứ, pháo binh sư đoàn
21…pháo kích vào khu căn cứ địch liên tục. Xong ba ngày, sáng sớm ngày thứ tư, máy
bay oanh tạc suốt hai giờ rôì tàu của hai giang đoàn 42 & 45 ngăn chặn chở bộ binh vào đỗ bộ. Bên
ngoài có yễm trợ hải pháo của cac giang pháo hạm 329 , 330 , một số PCF cũng
nằm trong lực lượng trừ bị. Bộ binh tấn công trên bộ đễ các giang đoàn đỗ quân
xuống. Vào trong rạch khoảng mấy cây số là dụng địch ngay. Hành quân đến chiều
xem ra kết qủa không nhiều, mấy chiến đĩnh đi đầu bị bắn te tua. Phe ta vưà
chết vừa bị thương gần một chục; còn Việt cộng thì chúng bỏ xác đồng đội rút
vào sâu hơn, tịch thu được một mớ súng đạn. Phe ta rut quân về đễ máy bay oanh
tạc tiếp, sau đó là pháo binh làm việc.
Đây
không phải là lần đầu tiên hành quân vào rạch ông Trang, ông Quyền đâu. Trận
này là lần thứ ba đó mà vẫn không tiêu diệt được chúng. Trận chiến mỗi ngày một leo thang và kết cuộc
thì Tỗng thống Nguyễn Văn Thiệu làm nư với nước Mỹ. Người Mỹ cũng hy sinh khá
nhiều cho chiến trường Việt Nam; lại được bà Jane Fonda theo Việt Công sách
đông quần chúng Mỹ tẫy chay trận chiến Việt Nam. Dân chúng Mỹ nghe theo, biễu
tình đòi trả chồng con họ về…Quốc hội Mỹ nghe theo, căt phân nửa viện trợ cho
Việt Nam và người lính Việt Nam Cộng Hòa trở nên thê thảm nhất. Người lính
không có vũ khí thì sao, có súng mà không có đạn thì sao ???
Một
kết cuộc thật thê thảm, hàng trăm ngàn người đi cải tạo, hàng chục ngàn người
bỏ thây nơi rừng hoang nước độc. Hàng triệu người dân đen mất nhà, mât cửa vì
bị chính quyền ăn cướp giữa ban ngày; rồi sống vất vưởng trong những khu kinh
tế mới , ăn toàn khoai sắn…
Sau
hơn chục năm thì chú năm tôi cũng quen đi, chú có con, rồi cũng được cất nhăc
lên chức ấp đội viên. Một chức vụ có tiếng mà không có miếng, cũng chẳng quyền
hạn gì ngoại trừ được chấm công cao hơn và lao động ít hơn. Trong bước đầu khai
triễn xã hội chủ nghĩa theo mô hình :
CÁC TẶNG SỠ NĂNG,CÁC THỤ SỠ TRỊ.
Nghĩa
là làm theo năng lực, hưởng theo công điểm. Ai làm nhiều, siêng năng có nhiều
công điểm. Cuối tháng tính công điễm rồi phân phát thực phẫm, làm nhiều hưởng
nhiều, làm ít hưởng ít. Cứ thế tiến dần lên đên xã hội chủ nghì thì sẽ là:
CÁC TẶNG SỠ NĂNG.CÁC THỤ SỠ NHU
Đây
đích thực là xã hội chủ nghĩa, làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Điều đáng
nói là miền Bắc xã hôi chủ nghĩa mấy chục năm rồi, thêm cưỡng chiếm miền Nam
hơn ba mươi năm nữa mà có ai thấy được mô hình xã hội chủ nghĩa nào đâu ! Chỉ
thấy một đảng cướp với những hành động lưu manh, côn đồ chuyên hà hiếp, bóc lột
dân chúng, ăn cắp của công làm giàu cho
bản thân. Điều này tôi sẽ viết trong bài đảng cộng sản Việt Nam sau này .
Mãi
đến năm 1976 chú năm tôi mới được về Nam thăm gia đình, sợ chú đi không về nên nên
chính quyền không cho phép đem theo vợ con. Thật ra chú có thễ xin phép về vào
cuối năm 1975 nhưng vì không đủ tiền mua vé xe lửa nên lần lựa maĩ đến đầu năm
1976 mới vào. Xa quê hương hai mươi năm,
trong thâm tâm chú nghĩ chắc miền Nam cơ cực lắm; miền Bắc đói khỗ thế này thì
miền Nam khổ đến đâu. Chú bớt ra một ít tiền ăn dọc đường đễ mua một lít gạo
tám thơm , một keo nhỏ chừng hai trăm
gam đường cát trắng, ý của chú là mang về cúng ba thôi, vì hơn hai mươi năm
rồi, chắc ba chú đã ra người thiên cỗ . Còn qùa cáp thì đành chịu , biết làm
sao !!!
Rồi
chú cũng về đến quê hương, lúc này ba tôi đã dơì ra thành phố Sadec. Sau khi
chú năm ra đi, ba tôi thấy cứ sống như thế này thì sẽ chẵng bao giờ ngóc đầu lên
nỗi. Ông bàn với má :
_ Tui tính đi học nghề rồi mình dọn ra thành
phố làm ăn; chứ ở đây thì chẵng bao giờ khá được, con cái mình sẽ lại tay lấm
chân bùn suốt đời thôi.
_ Ba sấp nhỏ tính học nghề gì
_ Tôi sẽ học nghề thợ bạc, khoảng hai năm vừa
học, vừa làm là có tay nghề thôi.
_ Tùy ba nó tính sao cũng được, tui còn ít
vòng vàng hồi mới cưới ba nó mua tặng làm sính lễ, giờ bán đi lấy tiền ăn học
cũng được.
Không
cần đâu, má nó cứ giữ laị đễ khi mở tiệm mình chưng ra cũng đỡ lắm đó, không có mình vẫn phải mua mà. Tui tính bán
đi con Pháo, đễ lại con Xe thôi, mai mốt cần tiền mình bán nốt. Rồi ba tui bán
trâu xong, ra Sadec xin vào học nghê` và làm công cho chủ tiệm vàng Kim Khánh. Sau
khi hai bên thoả thuận, ba tôi ngày ngày siêng năng cần mẫn, dù chủ chỉ bắt làm
việc thôi, chưa dạy gì hết. Rôì sau đó được chỉ cho cách sửa chữa những đồ
trang sức bị hư hay làm lại kiễu khác. Sáu tháng trôi qua mà chưa học được gì
ra hồn, ba tui buồn mà không dám noí sợ bị đưỗi, bỗng một ngày ông chủ kêu ba
vào nói chuyện. Ba lo lắng dữ lắm, không biết lành dữ sao đây !
_ Sáu tháng qua chắc chú Hai buồn tui dữ lắm,
theo luật lệ của tôi là sáu tháng thử thách. Chú Hai rất siêng năng và kiên
nhẫn nữa. Vậy từ ngày mai chú sẽ chính thức là thợ tâp sự, sau chừng nửa năm
chú sẽ là thợ chính, cuối năm chú sẽ đủ khả năng làm việc một mình. Nhiêù người
học mấy năm cũng không giỏi được. Chú khéo tay, thông minh nên chỉ một năm là
tốt nghiệp. Ba tui mừng qúa đứng vái ông chủ, ỗng xua tay lia lịa:
_ Chú đừng làm vậy tui tỗn thọ.
Cuối
năm đó ba tui về nhà thu xếp bán trâu, bán nhà…một mặt lo mướn nhà ngoài phố. Luậy
huậy mà tết sắp tới rồi. Ba lựa cặp vịt xiêm năm ký đem biếu ông chủ tiệm vàng,
rôì hỏi han xem mua đồ nghề, tủ chưng ở đâu? Mở tiệm phải có những gì? Ông chủ
hướng dẫn tân tình, còn noí thêm :
_ Chú đừng lo, làm ăn mà có khó khăn gì cứ đến
găp tui . Nên nhớ làm ăn phải lấy chữ tín làm đầu. Đừng gian lân là thành công
thôi. Tháng ngày cứ trôi đi lặng lẽ, năm năm sau ba tôi mua dứt căn nhà mở tiệm
vàng. Một căn nhà bề ngang năm mét, sâu mười hai mét nằm trên đường Tống Phước
Hòa, thị xã Sadec. Nhờ uy tín của ba mà cơ sở làm ăn mỗi ngày một phát triễn
hơn. Thêm mười năm nữa ba tôi mua được
miếng đất khá lớn, ông xây biệt thự hai tầng lầu, có hàng raò cao hai mét bao
quanh, có sân thương đễ tiệc tùng vưi chơi, rất bề thế.
Chú
năm tôi về đến Sadéc là ra ngay bến đò đễ về nhà cũ. Mấy bà cô đi lấy chồng rôì, chẵng còn ai thân
thích nữa. Hỏi thăm mãi mới có người chỉ ra phố tìm chủ tiệm vàng Hữu Thành. Chú
đi ngược ra, đến nhà tôi lúc tôi vừa ở chỗ ba tôi về. Thấy chú xớ rớ trước nhà
tôi hỏi :
_ Chú kiếm ai ở đây ?
_ Cháu chỉ dùm chú nhà anh hai Thành, chú cám
ơn.
_ Chú là ai mà kiếm ông Hai Thành ?
_ Chú là em ruột cuả anh hai đó, chú thứ năm .
Tôi chưng hửng :
_ Cháu là con trai trưởng của ba cháu đó chú
Năm, nhà ba cháu đây .
Nhìn
căn nhà đồ sộ chú phán một câu :
_ Bộ ba mày bóc lột dữ lắm sao có căn nhà to
thế ? Nghe đến đây tôi muốn chửi thề qúa nhưng nghĩ lại lại thôi, tôi nói :
_ Ở trong này ai làm người nấy hưởng, không ai bóc lột ai, vì lấy tư cách gì mà bóc
lột người khác. Có khi chưa kịp bóc đã bị chúng uýnh cho phù mỏ . Nhà giờ không
có ai hết, vậy chũ Năm ra ngoài chợ ăn uống chút gì cho khỏi đói rôì con đưa
chú về nhà..
_ Vậy ba mày là tư sản mại bản hả.
_ Chú nói không có chung co gì hết, tư sản mại bản ở đâu ? Miền Nam ai làm nấy hưởng, không
ai bóc lột ai. Làm thì phải đóng thuế, thôi mình đi ăn chú Năm, đừng nói mấy
chuyện nhức đầu nữa, thấy chú ngần ngại tôi nói:
_ Chú đừng lo, con có tiền bao chú một bữa mà
. Tôi đưa chú vào quán phở DUNG phía bên kia đường bên chân cầu, nhìn sang chợ
Sadec. Tôi hỏi chú ăn phở gì ? Chú trả lời :
_ Cho chú một tô “Không người lái “.
_ Phở “không người lái”là phở gì ?
_ Thì là phở “ toàn quốc” đó. Loay hoay mãi tôi mới hiễu được là phở chỉ có nước
và bánh thôi, không có thịt.
Tôi kêu
hai tô tái nạm vè hành trần nước
beó . Chú muốn uống nước mà ngại không
dám kêu. Tôi hỏi :
_ Chú uống gì ?
_ Cho chú một ly sữa Honda ?
_ Sửa Honda là sữa gì ?
_ Chú đâu biết, thấy trên đường đi nhiều chỗ
đề sửa Honda nên chú mới biết chứ. Tôi hết cười nỗi, phải giải thích cho chú
nghe. Phở đem ra rôì, chú hít hà hương thơm rồi noí :
_ Cho chú ly café “sữa gì cũng được”. Tôi vừa
kêu xong chú lại nói:
_ Nhớ cho thêm mấy cục “rét” nữa . Tôi muốn
phát khùng luôn vì chả hiễu chú nói gì, tôi hỏi lai thì chú chỉ sang mấy người
uống café đá, nước ngọt…Tôi mới hiễu được cục rét là gì. Trời ơi, đá cục mà kêu
la cục rét !!!
Ăn
uống xong xuôi, tôi trả tiền và đưa chú về nhà. Ba má vẫn chưa về nên tôi chỉ
chú phòng tắm cho chú tắm rửa. Chú lạng qụang rôì la lên . Tôi chạy vào thì
nước nóng đang chảy, hơi nước bốc lên nghi ngút. Tôi tắt nước rồi chỉ cho chú
cách pha nước, chú nói không cần, tắm nước lạnh cho mát . Tắm xong chú giặt
quần aó luôn, tôi dẫn chú lên sân thượng phơi, rôì hai chú cháu ngôì trên đó
vưà tâm sự, vừa chờ ba má tôi về. Chú nói:
Ở
miền Bắc ít tiệm phở lắm vì chẵng ai có tiền mà ăn. Xương bò thì có, thịt thì
bạc nhạc thôi mà phải biết cách mới mua được một vài ký. Thịt ngon thì dành cho
đảng viên mua theo tem phiếu; nói vậy thôi chứ giết xong con bò rồi là phải lựa
những miếng ngon dâng cho các ngài, đem đến tận nhà . Còn lại thì các đảng viên
it tuỗi đang đến mua; chuồi ra ngoài chẵng có bao nhiêu nên mói có phở không
người lái, phở xu hào…Vẫn là phở nhưng thay vì tái, chín…thì là xu hào thái ra
kho măn mẵn chút, ăn cũng ngon hơn phở “toàn quốc” nhiều.
Tôi
nói chú Năm đừng nói giọng Bắc, hãy nói giọng miền Nam của chú; cũng đừng xaì
mấy từ miền Băc nưã. Dân trong này không ưa Việt cộng nên họ sẽ ghét chú. Nhiều
khi chú mua đồ, họ có mà không thèm bán cho chú đó, hay có bán thì cũng măc gấp
ba lần người khac. Đến đây thì ba má tôi về tới, hai chú cháu xuống đón ba má. Tôi
không nói gì, chú chạy đến ôm chầm lấy ba tôi :
- Anh Hai , rồi chú gục đầu trên vai ba khóc
nức nở. Tôi vôị nói :
_ Chú Năm đó ba. Ba nhìn kỹ một chút rồi hai
anh em lại ôm chầm lấy nhau.
Mọi
người ngồi ở phòng khách nói chuyện, chú đem gói đồ chú mang từ ngoài Bắc vô. Trân
trọng mở ra trình ba tôi :
_ Em vào thăm anh chị nhưng không có qùa cáp
gì hết, thật ra tụi em không có tiền; nếu có em đã vào sớm hơn. Em phải mang
theo cơm nắm, muối mè và nước uống cho cả cuộc hành trình. Ngoài tiền vé tàu, em
dành dụm mua được một lít gạo trắng và hai trăm gam đường cát trắng đem vào
cúng ba. Chú lấy ra một bọc nylon được gói cẫn thận đễ lên bàn và một keo
đường.
Chúng
tôi muốn cười mà không dám, ba tôi quay đi gạt nước mắt . Thoáng chút ông lấy
lại bình tĩnh nói :
_ Chú có lòng như vậy thì đễ lên bàn thờ ba má
rồi thắp nhang đi. Chú thắp ba nén nhang, khấn vái một lúc, cắm nhang vào bát, chú cuí
đầu lạy ba lạy.
Ba
tôi cũng thắp nhang kính cáo Cửu huyền thất tỗ ngày về của chú . Quay sang anh
em tôi ba giải thích :
_ Chỉ một lít gạo, một keo đường nhỏ thôi, nhưng
nó là cả một tấm long ,cả một gia sản chú đem từ mấy ngàn cây số vào đây. Qúy
hóa lắm , ba kễ cho các con nghe câu chuyện của người bạn bên đạo Chúa :
_ Trong lần quyên tiền cho người nghèo, có bà
góa kia có hai xu, bà dâng hết cho nhà thờ. Trong đó có một ông phú hộ cũng rất
hảo tâm; mỗi lần quyên góp ông cúng bạc trăm, có khi bạc ngàn nữa. Đến khi chết
hai người cùng được vào Thiên Đàng nhưng bà góa kia ngồi trước ông phú hộ mấy hàng
ghế. Ông thắc mắc nhưng không dám hỏi, một Thiên Thần đến mở sỗ công đức ra cho
ông xem, của ông dâng cúng đến mấy tờ; còn bà góa chỉ có mấy chử :Hai xu ; Thiên
thần nói là bà góa này đã dâng cúng cả một gia taì mà bà có được. Còn ông phú
hộ chỉ dâng cúng những phần dư gỉa thôi, vậy nên bà có công hơn . Anh em tôi hiễu
và không dám chọc chú nữa.
Mọi
người vưi vẻ ăn cơm tối, vừa bày đồ ăn ra chú hỏi :
_ Hôm nay nhà có tiệc hả ?
_ Đâu có tiệc tùng gì đâu, ngày nào cũng ăn
vậy mà chú. Chú nâng ly bia lên uống mây hớp rồi nói :
_ Sung sướng thật , bia gì mà uống vào đến
đâu mát ruột đến đấy, em cứ nghĩ mình đang ở trên Thiên Đàng anh Hai à . Tôi
chọt vô :
_ Chú muốn mấy cục rét không ?
_ Không cần đâu, rét lắm rồi; cả nhà không ai
hiễu gì. Tôi lấy đá cục giơ lên :
_ Đây chính là cục rét . Mọi người cười nói
vui vẻ .
Ăn
xong mọi người ra phòng khách ngồi uống nước, chú nói :
Phải
chi đất nước mình đỗi một ngàn năm nô lệ giặc Tàu thành một ngàn năm nô lệ giặc
Mỹ có phải sung sướng không ! Bây giờ Nhật, Đại Hàn,Thái lan …chỉ ngửi khói của
Việt Nam thôi . Thằng Trung quốc dã man thật đó, nó đày ải dân mình thành dân
ngu luôn, vậy mà đảng không mở mắt ra, lại còn cúc cung tận tụy cho tụi nó nữa,
hèn hạ qúa.
Ngoài
phố lũ trẻ đang ca bài ca cải cách :
“ Ai đã ra vùng Bình Long đất đỏ,
Thấy xe chở về thành phố khoai mì.
Cả khoai lang và tùm lum bông bí,
Cho người dân nghèo đăng ký mua về ăn.
Bác Hồ ơi, ăn khoai mì ngán lắm….”
Minh Kỳ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét