CHA TÔI VÀ CÂY
ĐÀN MANDOLINE
Truyện Ngắn
LÊ MINH THẾ
Má
tôi kể rằng có một ngày nọ, cha tôi đã gánh hai bao bạc Tín phiếu để đi mua heo
về xẻ thịt bán lại. Tín phiếu là đồng bạc được lưu hành thời 9 năm kháng chiến.
Mua con heo nhỏ mà phải gánh đến hai bao bạc mới đủ.
Hồi đó, đồng Tín phiếu bị
mất giá đến mỗi phải có một ngàn đồng mới mua được mỗi tán đường đen hình móng
ngựa. Năm bảy ngày sau chuyến đi mua heo ấy, cha tôi trở về và trái với sự mong
đợi của má tôi, trên tay cha tôi chỉ vỏn vẹn có cây đàn Mandoline bé xíu màu mận
đỏ. Giải thích cho sự việc kỳ lạ này, cha tôi bảo rằng ông bị Tây nó rượt, con đò
bị chìm khi vượt sông vào ban đêm, hai bao bạc cũng bởi đó mà cuốn theo dòng nước
chảy xiết. Ông cười và chỉ vào cây đàn, nói rằng người bạn thấy bị mất của, nên
cho mượn cây đàn mang về chơi cho đỡ buồn. Mãi sau này, khi má tôi sinh thêm đứa
em gái, cha tôi mới thú thật rằng ông đã mua cây đàn với gia hai bao bạc, chứ
không có chuyện Tây rượt chìm đò nào cả.
Kể
xong câu chuyện, mà tôi cho rằng tính nghệ sĩ của cha tôi không biết đã
có tự khi nào nên má tôi phải chấp nhận, coi như chuyện đã rồi, bởi nghệ
sĩ là bản tính của cha tôi chăng. Thế rồi, tôi cũng lớn dần theo năm tháng trong tiếng đàn Mandoline ngày một réo rắc hơn
của cha tôi. Nhớ những đêm trăng sáng, trên chiếc chõng tre đặt giữa sân nhà, tôi
nằm nghe cha tôi chơi đàn. Thỉnh thoảng, ông lại cất giọng hát lên những bài ca
thời chưa chiến tranh, những câu hát đã ru tôi vào giấc ngủ. Dần dà, tôi cũng
quen hẳn cái câu chuyện cây đàn do Tây rượt chìm đò mà má tôi thường kể khi có
hàng xóm nào đó lâu lâu ghé chơi.
Sau
ngày đình chiến, biết không thể sinh sống được nơi vùng quê người đông đất chật,
cha má tôi bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, bồng trống con cái theo đoàn người tìm lên
cao nguyên để lập nghiệp. Đó là chuyến đi dài ngày và đầy những gian nan. Bởi
khi ấy, từ Bình Định lên đến Kontum không có phương tiện nào khác ngoài đôi chân
của mình. Thế rồi, đôi quang gánh chất đầy những vật lĩnh kỉnh của má tôi báo
hiệu ngày lên đường đã đến.
Sau
khi ăn được lưng chén cơm dưới ánh sáng lù mù của ngọn đèn dầu phộng, tôi vừa mặc
thêm chiếc áo ấm vừa dỗ dành con em gái đang
tru tréo vì bị đánh thức bất thường. Thế là cả nhà tôi lên đường khi bóng đêm còn
dày đặc xung quanh. Con em gái được cha tôi cõng trên lưng, đôi quang gánh là
phần của má tôi. Còn tôi, cây đàn Mandoline và cái túi xách nhỏ được quành vào
cổ, dĩ nhiên là phải tự đi chính bằng đôi chân của mình. Sau này tôi mới nghiệm
ra rằng, cây đàn, cái túi xách cùng những bước đi đầu tiên, hình như là dấu hiệu
báo trước cuộc hành trình đầy trắc trở trên con đường thiên lý của cuộc đời mình
về phía những chân trời xa lạ.
Chiều
tối ngày hôm ấy, cả nhà tôi đã đến một nơi mà má tôi gọi là Phú Phong. Trong cái
không gian mờ tỏ ấy, những cơn gió lạ không biết từ đâu thổi tới ào ào khiến tôi
vô cùng kinh hãi. Cha tôi vội vàng an ủi và giải thích với tôi rằng, gió từ biển Đông thổi vào đất liền và bị cản lại bỡi
dãy núi phía trước mặt, nên tạo ra rất nhiều gió. Có lẽ Phú Phong là cái tên được
đặt ra từ sự việc này. Ở đây, ngoài những cánh ruộng là vài ba căn nhà thấp nhỏ
nằm sát đường quốc lộ. Cha tôi quyết định cho cả nhà nghỉ qua đêm tại nơi này để
lấy sức cho chuyến vượt đèo An Khê vào sáng mai. Má tôi đã chọn được một chỗ ngũ
cho cả nhà. Đó là một nền đất dưới mái hiên lợp lá của một căn nhà nhỏ hình như
vắng chủ. Sau khi mò mẫm ăn vội nắm xôi trong bóng tối, tôi ngả lưng cạnh cha tôi
còn đang nằm hút thuốc và rồi ngủ thiếp đi, có lẽ vì sự mệt mỏi tột độ của cả một
ngày đường đi bộ dưới cái nắng chói chang.
Ngoài trời, từng cơn gió mang hơi lạnh từ phía núi vẫn luồn qua mái lá và len lỏi
vào sâu trong tâm hồn non nớt của tôi. Vào khoảng nửa đêm, cả nhà tôi bổng thức
giấc. Chiếc mền cũ nát mà chúng tôi đang đắp
đã bị ai đó lấy mất từ khi nào. Cha tôi càu nhàu mấy câu gì đó rồi ôm tôi
vào lòng, tiếp tục giấc ngủ dở dang. Con em gái tôi được má tôi vỗ về bằng những
câu than thở ngắn dài. Ôi cái đêm đầu tiên xa xứ của tôi là như thế đấy. Tôi vói
tay kéo cây đàn Mandoline ép sát vào người trước khi giấc ngủ nhấn chìm tôi
trong hơi ấm của vòng tay cha tôi.
Trời
còn tờ mờ sương, hai anh em tôi được má tôi đánh thức. Cha tôi bảo phải đi sớm
cho mát, vượt đèo mệt nhọc lắm. Má tôi vừa đưa nắm cơm nếp đã khô đét, vừa cài
lại mấy cái khuy áo cho tôi và nói rằng, An Khê là cái đèo nguy hiểm, dặn tôi
phải đứng cẩn thận. Có lẽ trong tôi lúc ấy, khái niệm về đèo là một cái gì ghê
gớm. Nhưng không, những đồi núi nối tiếp nhau, những vực sâu thăm thẳm cạnh con
đường quanh co khúc khủy, chừng như đi lên đụng phải mây… tất cả dần hiện ra trước
mắt tôi như một bức tranh kỳ thú mà tôi chưa từng gặp. Không hiểu những người đồng
hành cùng cảnh ngộ với cha má tôi đã nghĩ gì khi gọi đùa tôi là chú nghệ sĩ nhóc.
Có lẽ, với hình ảnh cây đàn, cái túi xách
và những bước đi như nhảy chân chim đã tạo nên cái vẻ bên ngoài của tôi
như thế chăng. Mặc kệ họ, tôi không cần quan tâm, tôi chỉ biết rằng cảnh sắc núi
non hùng vĩ của núi rừng đã xâm chiếm hết tâm trí tôi. Tôi cũng mặc cho cái đói,
cái khát và đôi bàn chân đau nhức đang hành hạ tôi đến lả người.
Thế
là cả nhà tôi đã vượt hết con đèo bằng sức chịu đựng phi thường của đôi chân
trong một ngày tròn. Chiều xuống lúc nào không hay, cả nhà tôi phải chấp nhận một
đêm màn trời chiếu đất bên vệ đường. Tôi nằm lăn ra đám cỏ, nhìn lên bầu trời đầy
sao và tự nhiên nhớ về căn nhà ở quê hương một cách lạ kỳ. Tôi gối đầu lên cây đàn
và ngủ thiếp đi, mặc cho tiếng kêu khóc của con em gái tôi, tiếng dỗ dành của má
tôi cùng tiếng cha tôi đang trao đổi với ai đó về chuyện xe cộ.
Sáng
sớm hôm sau, đúng như điều tôi đã nghe lúc tối, anh em tôi được bế lên xe. Tôi đã
không thể nào tưởng tượng được cái cảnh rất nhiều người chen chúc trong một khoảng
không gian bó hẹp mà người ta gọi là thùng xe. Cả nhà tôi bị dồn vào một góc và
cố gắng chịu đựng cái ngột ngạt bốc ra từ hơi nóng của chừng ấy con người. Rồi
xe cũng ì ạch lăn bánh, nặng nề và chậm chạp, có lẽ do nó đeo trên mình cái bình
lửa to tướng. Má tôi nói rằng, xe chạy được là nhờ cái bình to ấy, bằng cách đốt
than củi để lấy hơi nóng. Có người lại bảo đó là loại xe lê đi như một lão già lụ khụ trong tiếng cười
nói, cãi vả cùng những tiếng quát tháo của thằng cha “ lơ ” đu bám phía sau, tôi
phải nhắm mắt lại cố tìm cho mình một giấc ngủ giữa vô vàn những âm thanh hỗn độn.
Phải mất cả ngày trời, cái khối sắt nặng nề nhả khói đen mù mịt ấy mới bò được
tới chân đèo Mang Yang. Tất cả các hành khách chúng tôi lại qua đêm dưới chân đèo
để rồi mờ sáng, lại tiếp tục vượt con đèo thứ hai của đoạn. Con đèo này không dài
nhưng độ dốc lớn, xe cộ không chở gì mới lên đèo được. Đến giữa trưa, khi hết đoạn
đèo, chúng tôi mới được tiếp tục lên xe trong cơn đói khát mỏi mệt, lại tiếp tục
ngửi khói, tiếp tục ngợp thở vì hơi nóng cùng với đủ loại âm thanh hổ lốn của cái
xe chết tiệt này.
Cuối
cùng, chiếc xe nặng nề đó cũng đến được Pleiku vào lúc nửa đêm. Khi ấy, người
ta gọi nơi này là cái trạm nghỉ chân của khách lữ hành bởi sự hoang sơ của buổi
đầu hình thành phố chợ. Mãi đến sau này, tôi mới xác định được cái trạm nghỉ chân
ấy là ngã ba Diệp Kính. Cũng chính tại nơi này cả nhà chúng tôi được ăn một bữa cơm “ tiệm ” đầu tiên trong cuộc đời dưới
ánh đèn măng –xông của một cái quán ọp ẹp. Ăn xong bữa cơm có cá chiên, có thịt
heo luộc thơm phức, cha tôi đưa cả nhà đến một góc tối để nghỉ đêm. Cũng chỉ là
mái hiên, nền đất, thế mà chúng tôi đã ngủ một giấc ngon lành trong vòng tay ấm
áp của cha má tôi. Và chuyện không ngờ đã đến, cái túi xách cùng cây đàn, đã từng
theo tôi trong suốt cuộc hành trình cũng lặng lẽ biến mất. Cha tôi chỉ biểu lộ
nỗi buồn qua nét mặt và luôn luôn vỗ về
an ủi tôi khi thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên đôi má ửng đỏ vì nắng của thằng
con trai còn non nớt. Tôi tự trách mình quá đỗi, bởi cái vật vô giá là cây đàn
của cha tôi đã không giữ được và có lẽ, nỗi dằn vặt đau xót này sẽ luôn đeo bám
tôi dai dẳng cho đến suốt cuộc đời mình.
Lại
thêm một ngày đi bộ nữa mới đến được
Kontum, vùng đất mà cha má tôi đã dự định sinh cơ lập nghiệp tại đây. Má tôi đã
tỏ ra vô cùng mệt mỏi, con em tôi gầy rạc hẳn ra và rất may là không đau ốm gì.
Còn tôi, ngoài sự dằn vặt về mất mát vừa rồi, tôi chỉ bị đau chân. Chúng sưng vù
lên đến độ không bước đi được nữa. Nhiều đoạn đường cha tôi phải gồng lên, vừa
bồng con em gái vừa cõng tôi trên lưng. Tôi không hiểu được bởi sức mạnh nào mà
cả nhà tôi đã vượt qua một chặng đường xa và nhọc nhằn như vậy.
Thế
là cha má tôi đã chọn một vùng quê, hơi xa phố chợ Kontum một tí. Căn nhà tranh
vách nứa cùng những bữa cơm rau độn sắn khoai cũng dần dần ổn định được cuộc sống
của cả nhà tôi. Ngày ngày, cha tôi đi làm thuê, cuốc mướn… Má tôi lặn lội ngoài
bờ suối, mò cua bắt ốc hoặc hái rau má mọc hoang đem ra chợ bán. Vào mùa mưa,
cha má tôi cùng vào rừng bẻ măng le. Buổi tối, cha tôi ngội luộc măng bằng cái
nồi bên bếp lửa, má tôi cùng hai anh em tôi thi nhau lột vỏ măng mới bẻ từ trên
rừng về. Rồi đời sống của cả nhà tôi cũng dần đỡ ra, không còn cảnh ăn độn mà bữa
cơm nào cũng có cá hay thịt. Tôi cũng được đi học lại, mặc dù hơi đối sức vì sự
gián đoạn bởi chuyến đi. Con em gái tôi cũng đã bắt đầu đến trường.
* *
*
Một
ngày kia, cha tôi cỡi về một con ngựa to. Từ ngoài cổng đi vào, trông ông như một
kỵ sĩ thời xưa. Anh em tôi ùa chạy đến và rụt rè vuốt ve chú ngựa. Sau khi xuống
ngựa, buộc dây cương vào gốc cây ở góc sân, cha tôi bước vô nhà và không quên căn
dặn anh em tôi là phải cẩn thận kẻo con ngựa nó đá. Thế rồi hai hôm sau, cha má
tôi lên ngựa thật sớm, nói là đi chợ mua sắm hàng hóa gì đó. Má tôi còn căn dặn
o83 nhà nhớ trong chừng con em. Xế trưa, cha má tôi mới về với hai bao hàng lớn
cột bên hông lưng ngựa. Chúng tôi vui mừng khôn xiết với bao nhiêu là thứ hàng
hóa được bày ra giữa nhà. Con em gái tôi cứ săm soi hết thứ này đến thứ khác và
luôn miệng tíu tít hỏi má tôi là những thứ này để làm gì, cái kia có ăn được không…
Đếm ấy tôi không ngủ được, cứ thao thức mãi vì câu nói quyết định của cha tôi rằng
sẽ cho tôi đi cùng ông theo chuyến hàng vào tận các làng đồng bào thiểu số mà tôi
chưa hình dung được gần xa thế nào.
Chuyến
đi hàng bằng ngựa của cha con tôi được khởi hành từ khi mặt trời còn tờ mờ sáng.
Thế là tôi được ngồi yên trong vòng tay của cha tôi trên lưng ngựa cùng với những
bao hàng đeo ở hai bên. Sau vài giờ đi ngựa, cha con tôi đã đến nơi. Đó là một ngôi làng người thiểu số
nằm trên triền đồi có con đường dốc thoai thoải đi xuyên qua rặng cây um tùm.
Trước khi đến làng, cha tôi dừng chú ngựa lại cho nó uống nước ở một cái vũng
nhỏ, dưới mấy cái máng tre dẫn từ trong lùm cây phía triền dốc. Cha tôi gọi đó
là cái giọt nước và nói rằng đồng bào dân tộc thiểu số ở cao nguyên bao giờ cũng
lập làng tại những nơi có nguồn nước
trong lành như thế này. Họ sẽ bỏ làng nếu nguồn nước của họ bị cạn kiệt hoặc nhiễm bẩn. Sau khi xuống
ngựa rửa ráy mặt mũi chân tay, tôi được bế ngay lên ngựa, rồi cùng cha tôi đi vào
làng. Hình như cha tôi đã quá quen thuộc với mọi người ở đây. Gặp ai, họ cũng xí
xô xí là những câu gì đó cùng với cái gật đầu
hoặc nụ cười trên môi. Ngôi nhà sàn mà cha tôi cho ngựa dừng lại cũng như những ngôi nhà khác, tất cả hầu như
nằm kề với nhau và chẳng có rào dậu gì để phân biệt sự riêng lẻ của từng gia đình.
Người chủ nhà có lẽ cũng trạc tuổi với cha tôi, nhưng vóc dáng rất khỏe mạnh.
Thấy cha con tôi, ông vừa buốc xuống cái thang gỗ, vừa cười cười nói nói bằng những câu tiếng địa phương mà tôi không
thể nào hiểu nổi. Cha tôi dắt tay tôi lên cầu tháng và cho biết ông chủ nhà là
người bạn rất thân của cha tôi. Cùng với cậu con trai đã lớn, ông chủ nhà giúp
cha tôi chuyển hết số hàng lên ngôi nhà sàn. Ông còn sai cậu con trai mang con
ngựa đi đâu đó để nó tự kiếm ăn và ra
ngoài rẫy lúa gọi vợ ông ta về tiếp khách.
Sau
khi đã ngồi xuống bên bếp lựa còn đỏ than ở giữa nhà, cha tôi lấy ra một chai rượu
trắng, một gói cá khô, mấy con mực và mời ông chủ ngồi lại. Ông chủ nhà đang nướng
mực và cá khô trên bếp than, hình như nhớ ra điều gì, ông đứng ngay dậy, vói
tay lấy từ cái giàn tre trên mấy miếng đen đen hình như là thịt khô. Cha tôi giải
thích rằng, ông chủ nhà đã để dành cho cha tôi một ít thịt rừng bằng cách treo
trên giàn bếp như thế, chỉ việc nướng lên là có thể ăn được… Tôi ngồi bên cạnh
cha tôi, lặng lẽ nhai những miếng thịt rừng và nhất là mực khô, món tôi khoái
khẩu từ khi còn bé ở dưới quê. Chừng nửa cuộc rượu cùng những câu chuyện mà tôi
không hiểu gì cả khi thì tiếng địa phương, khi thì tiếng kinh, cha tôi bỗng sai
tôi mở bao hàng lấy ra một gói lớn và trao cho ông chủ nhà. Đó là một gói quà mà
má tôi đã cẩn thận gói sẵn từ đêm qua. Ông chủ nhà tự tay mở gói quà và trố mắt
kinh ngạc, miệng líu lo những câu khó hiểu cùng với nụ cười rạng rỡ. Trước mắt
tôi, ông chủ nhà chắc vui lắm khi cầm trên tay mấy bộ quần áo trẻ con, hai bộ
quần áo người lớn, và nào xà phòng, lượt chải tóc… có cả một cái gương soi mặt.
Cha tôi còn sai tôi lấy thêm cho ông ấy một ít muối và một bì cá khô. Mặc cho sự
vui mừng của người chủ nhà đang huyên thuyên với cha tôi, tôi đảo mắt nhìn
quanh căn nhà và thôi không ăn món thịt rừng có cái mùi ngây ngấy ấy. Tôi chỉ
thích ăn món cơm nếp được nấu từ cái ống nứa, nhưng bụng tôi cũng đã căn ra rồi.
Tôi đứng dậy và ngỏ ý với cha tôi là muốn đi tiểu tiện. Tôi bước ra cửa, sau cái
gật đầu của cha tôi. Bất giác, tôi phát hiện ở trong góc tối của căn nhà hình
như có một cây đàn Mandoline được treo chồng bên trong một chiếc áo cũ. Tôi đứng
tiểu tiện bên dưới nhà sàn của người chủ nhà mà lòng phân vân quá sức. Tự nhiên
bao nhiêu hình ảnh của chuyến đi ngày nào từ vùng quê lên đây, chập chờn trong
trí nhớ của tôi. Tôi mạnh dạn báo cho cha tôi biết sự phát hiện về cây đàn vừa
rồi.
Nét
mặt cha tôi bỗng lộ vẻ vui mừng, ông dùng tiếng địa phương để nói với người chủ
nhà. Vậy là, như một cái lò xo, ông chủ nhà đứng ngay dậy, bước tới lấy cây đàn
rồi nhẹ nhàng đặt vào tay tôi với những câu gì đó. Để cho tôi hiểu, cha tôi đã
dịch lại nguyên văn câu nói của ông ta là “ con mình nó muốn cái gì là phải cho
nó cái đó ”. Tôi cầm cây đàn Mandoline trên tay, dẫu không còn sợi dây nào, lòng
tôi bỗng dưng vô cùng xúc động. Hai hàng nước mắt đã lăn trên má tôi từ lúc nào
không rõ. Tôi ngước nhìn cha tôi rồi nhìn xuống cây đàn và bỗng dưng những vằn
vặt ray rứt đã không còn trong tôi nữa.
* *
*
Cha
tôi giờ đã qua đời, cây đàn Mandoline ngày nào đem về từ cái làng đồng thiểu số
ấy cũng không còn nữa và còn chăng chỉ là những dấu ấn sâu sắc trong lòng tôi.
Những dấu ấn mang đậm tình yêu, niềm tin và cả sức mạnh từ người cha kính yêu của
tôi. Tất cả đã cho tôi những nước đi vững vàng trong suốt cuộc hành trình đầy nhọc nhằn gian khó bằng đôi chân non nớt
yếu mềm của chính mình.
Kontum,
tháng 3-2004
Lê Minh Thế

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét