HOA TÂM TRONG VƯỜN ĐẠO
MANG
VIÊN LONG
Hơn 15 năm
cọng tác với tập san Vô Ưu, từ mỗi năm ra 2 số, đến hôm nay (2012) mỗi năm ra
được 4 số. Liên tục trong những năm ấy - tôi là người được BBT mời giữ trang
thơ “Vườn Hoa Tâm”, đã góp chút lòng, cùng chung Phật sự…Ở đây, xin “ngẩu
nhiên” ghi lại 1 bài trong hằng trăm bài viết cho VHT - như giữ lại một kỷ
niệm…
|
|
Mỗi
bài thơ, chúng ta có thể ví như một đóa hoa. Hoa tâm. Hoa thì muốn hồng nghìn
tía - hương sắc không đồng. Thơ ca cũng thế: Mỗi bài thơ là sắc hương của một
xúc cảm tâm hồn trước cuộc đời - truyền dẫn, sẻ chia, đưa ta đến cùng nỗi niềm
tâm sự buồn vui, khổ đau hay hạnh phúc với tác giả. Nói như Hoài Thanh – Hoài
Chân (đồng tác giả “Thi Nhân Việt Nam ”) thì mỗi bài thơ là “một
cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn (…) đi sâu vào hồn một người, ta sẽ gặp
hồn nòi giống; đi sâu vào hồn nòi giống, ta sẽ gặp hồn chung của loài người
(…)”
Vườn thơ Vô ưu là những cánh hoa Tâm hướng
về Đạo, hướng về nếp sống cao thượng của tứ vô lượng tâm, về chân lý giác ngộ -
giải thhoát; bởi vậy cùng có chung dòng suy tư, cảm nhận, ước mơ, tuy mỗi cách
diễn đạt có khác nhau…
Nguyên Thọ - Bùi Công Toa dặn dò :
“Rằm tháng tư em nhớ về thăm
Huế
Chiêm ngưỡng lễ đài mừng Phật Đản
Sanh
Hương trầm bay - Cờ giăng khắp
ngõ
Lòng hân hoan vui đón đấng cha
lành”
(…)
(Nhớ
Về)
Ngày Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản
sanh là ngày vui trọng đại của cả nhân loại - nhà thơ lão thành Tống Anh Nghị
gọi là “Ngày Nở Hoa Cuộc Đời” (nhà xuất bản Văn Nghệ - 1995). Người thơ
Huỳnh Ngọc Thành cũng đã hân hoan bày tỏ :
“… Trước Như Lai lòng con bừng
mở lối
Đản sanh về đưa trần gian trẫy
hội
Giữa thinh không nghe tiếng lòng
vang dội
Trái tim này đang thổn thức niềm
vui(…)”
Từ tháng ngày lịch sử ấy, cho
đến hôm nay - trải qua hơn 2500 năm thế gian đã được sống trong biển pháp nhiệm
mầu, trong giáo lý vi diệu; biết bao cuộc đời đã nở hoa, sống trong an lạc, tự
tại, giữa cõi nhân sinh vô thường, ưu phiền, điên đảo. Vĩnh Hiền qua bài “Hành
Giả” đã cảm nhận đôi điều về niềm hạnh phúc vô biên này:
“Chứa từng trận lửa vô thường,
Vùi chôn thăm thẳm con đường bản
lai
Từng cơn bụi đỗ lên vai
Huyễn sinh đã mấy lần phai sắc
vàng
Trên đầu dậy ánh dương quang
Vừa rơi lấp lóa
Thời gian diệu kỳ…”
Nguyễn Quốc Việt (P.d Thanh
Hải) diễn tả :
… “Mặt đất mừng vui
Muôn hoa bừng nở đón chào
Ngàn sóng hoan ca ngoài biển sáng
Và loài người yên lặng
Mở mắt, lắng nghe…”
Phật Đạo chỉ có một vị - đó
là vị giải thoát. Nhưng để đến được với “hương vị” cao quý, cảm nhận niềm vui
tuyệt đỉnh này, thì có vạn nẻo. Con đường nào đưa đến Giác ngộ, Giải thoát cũng
ngập tràn hương thơm:
“Không gian tím ngát
Bỗng ánh vàng chói chang
Xua tan mơ màng
Kìa ánh đạo huy hoàng
An lành thế gian
Ôi ! Anh sáng từ quang
Sống mãi
Đạo vàng…”
(Anh Vàng – Thiện Thạnh)
Mỗi bước chân đi, tuy không phải là nơi đến
- nhưng qua mỗi bước chân, là một niềm an vui, là sự vươn tới cần thiết cho
cuộc hành trình. Dương Tiến Lê đã có những bước đi như thế :
…”Người lại quay về với thế
gian
Tâm từ bi trải Ánh Đạo Vàng
Tát vơi bể khổ từ muôn kiếp
Bình minh rực sáng, bóng đêm tan”
(Người
Đã Đến Như Thế)
Tâm Linh có một hồn thơ rất dạt dào, phong
phú - bài “Mừng Đản Sanh” dài đến 52 câu thơ lục bát. Để dễ dàng sử dụng, Tâm Linh
viết cô đọng, sâu sắc hơn: Thơ khó hơn văn xuôi là vậy! Vườn thơ Vô ưu giới
thiệu đoạn mở đầu:
Ca Tỳ La Vệ năm xưa
Ma Da hoàng hậu sớm trưa nguyện
cầu
Phạm Vương lòng dạ lo âu
Chưa người kế vị tìm đâu được mà
Ngày đêm vui những thiết tha
Một hôm Hoàng hậu Ma Da mộng vàng
Cung
trời đâu xuất âm vang…”
Vào vườn thơ Vô ưu, có những bước đi vững vàng, mà cũng có những
bước chân thơ ngây rụt rè khẽ đến: Em Huệ Minh Thiện viết thơ cho tòa soạn: “…
cháu không biết bài cháu gởi có đạt không mà sao không thấy chú liên lạc gì đến
cháu cả?” - Vâng, thơ cháu rất có ý, nhưng cần tôi luyện thêm (về luật thơ) và
chắc lọc lại những suy tư, tình cảm cho sâu, cho mới nhé. Trích giới thiệu một
đoạn trong bài “Mừng Đức Phật ra đời” :
“Cách
đây hơn 2500 năm
Nơi
vườn Lâm Tỳ Ni
Hoa
Ưu Đàm rực rỡ
Tỏa
hương thơm ngào ngạt
Chim
chóc vui chuyền cành
Đón
mừng ngày trọng đại
-Ngày
Thế Tôn ra đời…”
Với sự thâm nhập giáo lý Phật pháp sâu sắc, lại có tâm kiên cố
nguyện bước theo con đường giải thoát của Đức Phật. Người thơ Thượng Đình Liễn
đã giãi bày tâm đạo của mình, qua hai bài “Trí Tâm” và “Tưởng Nghe Lời Phật”
khá sâu sắc:
“…Sắc
không thọ tưởng đều không
Ý
thân nhãn nhĩ cũng đồng như nhau
Chẳng
trước mà cũng chẳng sau
Không
già không chết không đau không sầu
Trí
tuệ thâm nhập vào sâu
Không
Tập diệt đạo có đâu khổ hành
Phật
dạy, c hỉ rõ rành rành
Trí
tuệ thông suốt vượt ghành sông mê
Reo
vui bờ giác dựa kề
Giác
Tâm, giác Tánh - ắt về Tây phương…”
(Trí Tâm)
Cảm nhận nghĩa Vô thường - tánh Không, để tin sâu vào Phật Pháp,
hướng dẫn đời mình dứt lìa khổ đau, phiền não, đạt đến An lạc, Giải thoát, có
nghìn vạn nẽo (pháp môn vô lượng) - Thanh Sơn (GĐPT Liên Hoa) có cảm nhận từ
một chiếc lá vàng:
“Nắng
chiều rọi xuống sân chùa
Bồ Đề
tỏa lá che em mát đầu
Bỗng
nhìn chiếc lá vàng rơi
Lòng
em chợt nghĩ thân người “có - không”
(Quay
về)
Phan Đình Huy (pd Nhuận Phát) đã bày tỏ tâm nguyện một cách kiên cố
:
“Lìa
bỏ trần lao, khoát áo vàng
Hồng
trần gửi lại chốn nhân gian
Theo
chân Đức Phật về Thiên Trúc
Tỏa
ngát hương quang cõi Lạc Bang
Rũ
sạch phong sương đến cửa Thiền
Lòng
trần đã đoạn đứt tình duyên
Vui
lời kinh kệ cùng chuông mõ
Xóa
sạch ưu phiền chốn đảo điên”
(Anh
Đào Vàng)
Ngày Khánh Đản của Đức Từ Phụ Thích Ca, người thơ Hàn Nhân gọi là
“Mùa Từ Bi Ngát Hương”.
Tên gọi tuy có nhiều, tùy theo “duyên khởi” - nhưng vẫn là niềm vui
mừng hân hoan, là niềm tin yêu vô bờ của những người con Phật:
“…Em
hãy tin
Mùa
hạ vẫn nồng nàn lời yêu thương
Mùa
từ bi ngát hương
Vầng
trăng thơm thuở ấy
Hoa
Ưu đàm
Sao
thiết tha rạn ngời đến vậy
Cho
ta đối diện cùng em
Từ
nẽo vô cùng…”
Pháp Phật sâu kín, nhiệm màu vô lượng, nhưng tùy căn cơ mà thọ
hành. Ngọc Lan cảm nhận nguồn Pháp nhũ linh diệu ấy từ “Pháp Hoa Kinh”.
“Hôm
nay gặp pháp nhiệm mầu
Nghe
qua con đã hồi đầu ăn năn
Tự
giác - tự ngộ, bao năm
Sống
theo chánh pháp Phật hằng tại tâm
Xa
lìa ác nghiệp ngàn năm
Nhớ
ơn Phật Tổ gieo mầm Vô ưu…”
Với thể thơ Thất ngôn bát cú - Đường luật, có nhiều quy định ràng
buộc, tuy vậy Hải Nhiêu đã “Mừng Khánh Đản” bằng bài thơ Đường tương đối hoàn
chỉnh. Nhất là lời thơ nồng nàn Đạo vị:
“Mừng
đón Đản sinh Đức Thích Ca,
Bao
niềm hỷ lạc đến mọi nhà…
Tu
tâm, dưỡng tánh - xua tam độc,
Niệm
Phật, trì kinh - đón lục hòa!
Phật
tử thành tâm chuyên học tập,
Tăng
Ni quyết chí đuổi tà ma…
Hồng
ân Tam bảo thường gia hộ,
An
lạc tại đây - cõi Ta bà!”
Thư gởi tòa soạn, Lương Nhẫn viết “…
nhưng cháu tin rằng thơ của cháu rất chân thật, rất gần gũi với đời sống con
người, là những vấn đề bức xúc của xã hội”. Vâng, đúng như vậy - nhưng “Lời sám
hối muộn màng” xem ra nặng trĩu nhiều vấn đề; mà thơ ca không có phép màu
chuyển tải hết cùng một lúc. Phải biết khắc chạm, chọn lọc, để xúc cảm nhẹ
nhàng, kín đáo đi vào thơ… Bài “Vô ưu” có nhiều ý hay:
“Vô
ưu là hết khổ đau
Vô ưu
là hết âu sầu khóc than
Cuộc
đời an lạc, hân hoan
Dẫu
nghèo, dẫu khổ - Phượng loan sum vầy…”
Những “thắc mắc” của Huệ Minh Quang là không nên có. Vườn thơ Vô Ưu
được nhiều người làm thơ đóng góp, vun quén, chăm sóc thì càng phong phú, tốt
đẹp - chứ có sao ? Hãy chân thành ghi
lại cảm xúc, suy tư về Đạo, và tiếp tục gởi về. Bài “Nhớ ơn Ngài” rất chân
thật, nhưng phải sâu sắc, mới lạ, thấm đượm hương thơ nhiều hơn. Hoa có sắc, có
hương thì càng quý. Xin trích giới thiệu vào vườn thơ hai cánh hoa dễ thương
vậy:
“Con
muôn vàn kính lạy,
Đấng
Điều ngự trượng phu…
Nơi
Bồ Đề đạo tràng,
Khai
ánh vàng mở lối!
…
Trước lư trầm khói tỏa
Khấn
nguyện nơi tâm mình
Đạo
vàng lan rộng mãi
Cho
đất trời quang minh.”
Hai đóa hoa mộc mạc nhưng hương sắc đậm đà của Trương Duy Nhất gởi
về, cho ta niềm đồng cảm chân thành:
“…Mênh
mông trời đất khôn cùng
Lấy
ai làm bạn chỉ đường dùm con
Thuyền
từ Bát Nhã sắc son
Đây
rồi bờ giác, lối con trông chờ
Từ
đây đã có lối về
Con
nguyện giữ trọn lời thề hiến dâng…”
(Lối
Đi Về)
Cùng với cảm nhận “Lối Đi Về” của TD Nhất, Thiện Vân có “Lối về Nhà
Xưa” :
…”Suốt
ngày vắng lặng cõi Tâm
Dứt
bỏ nguồn duyên, bỏ việc trần
Thuyền
Từ nhuận gội đức vô lậu
Men
dấu đường xưa, mãi tới nhà…”
Thơ không nên quá trau chuốt, chỉ chú ý tới cái hình thức - ngôn từ
sao cho kêu, êm tai ; nhưng tư tưởng, cảm xúc thì nông cạn, hời hợt, lập lại.
Giống như hoa - không hề cần đẽo gọt; đúng tiết, đúng kỳ thi khai nở, ngát
hương … Bài “Hành Thiền” của Dzạ Trầm Thảo tuy chỉ 4 câu (4 chữ) mà có khá nhiều
ý :
“Bước
chân thanh thản
Trên
nẽo đường trần
Xa
dầu vạn dặm
Tâm
mãi còn tâm…”
Nguyễn Đình Hãn, qua bài thất ngôn bát cú - bày tỏ “tâm đạo” bằng
lới “Tự sự” chân thành: “Đạo thường xử thế tỏ lòng nhân” :
“Vui
chốn nhân gian đã lục tuần
Lâng
lâng hồi tưởng chuỗi dài xuân
Bao
phen chìm nỗi lòng không núng
Mấy
độ phong ba dạ chẳng sờn
Đổi
mới góp công xây cuộc sống
Đạo
thường xử thế tỏ lòng nhân
Kiên
trinh bản lĩnh tâm hồn “lính”
Thanh
thản tiêu dao giữa cõi trần”
Nói thơ không nên quá trau chuốt - nhưng thơ không phải tả cảnh, tả
tình một cách giản dị lộ liễu đến tầm thường, những cảnh tình xúc cảm phải thấm
thấu qua trái tim nhạy cảm, tinh tế, chân thành, để chuyển thành lời thơ từ
trái tim đang thôi thúc. Bài “Chùa Xuân” của Tâm Nhiên phần nào đạt đến yêu cầu
đó :
“Lên
chùa hái một lá cây
Đêm
về để nhớ riêng ngày gặp nhau
Lá
xanh như thể mộng đầu
Đời
xanh như thể nghìn câu kinh vàng…”
Và bài “Tôn Giả Ca Diếp” của Mãn Đường Hồng là một trong những bài
Đường luật hay: là đóa hoa Tâm dạt dào hương sắc:
“Phật
chìa ra trước đóa hoa tươi
Chỉ
có mình ông mỉm nụ cười
Kiến
tánh viên thông Thiền rạng chiếu
Minh
tâm liễu ngộ pháp ngời soi
Vô
ngôn chẳng khác âm rền đất
Bất
tự mà như chữ trải trời
Y bát
Như Lai truyền nhận lấy
Độ
sanh hoằng pháp nhập dòng đời”
Bài ngũ ngôn tứ tuyệt của Đỗ Thiền Đăng – hai mươi từ, mà như mở ra
khoảng trời thơ ngọt ngào hương sắc :
“Áo
người Mai hoa sắc
Thanh
thoát hương Từ bi
Giọt
giọt vàng thắm đượm
Phật
ý bất tư nghì…”
Đường vào vườn thơ Vô ưu có muôn hướng, cũng như lối tìm vào Đạo
cũng vô biên (Vạn pháp là Phật pháp). Thái Sơn qua bài “Nhớ Xuân Xưa” bắt đầu
từ người Mẹ yêu quý :
…”Ngày
ấy Mẹ già hong tóc bạc
Đượm
màu mây trắng đỉnh Trường Sơn
Mẹ
ơi, nhớ lắm vườn hoa cũ
Nhận định về thơ, có lần ông Phạm Thượng Chi đã phát biểu: “…Thơ là tiếng kêu tự nhiên của Tâm, nhưng
phần gia công nhiều, mà tự nhiên ít – quả là một bức tranh cảnh
vật!”. (Nam Phong Tạp chí – Số 5-1917).Đến với vườn thơ Vô ưu, hầu hết đều
có tấm chân tình - đó là đều quan yếu, tuy nhiên cũng nên trau luyện thêm nghệ
thuật (luật thơ/ từ ngữ /nhạc thơ/ tư tưởng & tình cảm diễn đạt) còn cần
quan tâm hơn để bài thơ có thể chuyển tải và truyện đạt được nhiều hơn đến với
người đọc.
Minh Quang trải lòng thương
tưởng đến ngay cả với những cánh chim rừng thật hồn hậu :
“Ôi
tiếng chim rừng gọi
Đong
từng giọt thời gian
Từ
buổi còn hồng hoang
Và cả
ngàn sau nữa
Tiếng
chim đưa ngày tan
Tiếng
chim reo ngày mới
Ta
yêu quý vô vàn
Chim
rừng ơi ở lại “
(Chim
Rừng ơi ở lại)
Chúng ta đều nhận thức rằng: “Ở đời không có chi nên đứng nguyên một chỗ, và nghệ thuật sẽ tê
liệt, nếu không đổi mới” (theo Anmand Sully –
Pruddhomme) - nhưng “đổi mới” là không cầu kỳ, lập dị - mà phải bắt nguồn từ
xúc cảm tuyệt vời sâu lắng của trái tim tha thiết với cuộc đời, với thơ ca. Đổi
mới hình thức (tạm gọi là “tân hình thức”) mà nội dung bên trong (phần tư tưởng
& cảm xúc) chẳng có gì mới lạ, hàm súc, cần thiết để trao gởi đến cho người
đọc như một thông điệp; không dựa vào các yêu cầu thiết yếu không thể phủ nhận
của con Người là nhân phẩm, truyền thống, đạo lý (…) cũng chỉ là “trò chơi” của
những kẻ nhàn rổi…
Người thơ Nguyễn Long (pd
Diệu Phụng) đã bắt đầu từ ý tưởng chân thực ấy tuy phần nghệ thuật thơ của đạt
như ý:
Gieo
hạt giống xuống ruộng Lam
Mai
kia mốt nọ hoa Đàm mọc lên
Chắc
chiu mưa nắng hồn nhiên
Cây
xanh lá tốt, hoa hiền thơm hương”
(Hoa
Đàm Ngày đàm Đạo)
Lê Thành Văn với “Lên Chùa” nhẹ nhàng, thanh thoát:
“Lên
chùa hái lộc đầu xuân
Tiếng
kinh niệm Phật như gần như xa
Khói
trầm hương tỏa la đà
Bóng
chiều lơ lửng ráng pha sắc hồng”
Trong
niềm hỷ lạc vô biên ấy, Nguyên Minh “Nguyện Cầu”:
…Khổ đau lui dần vào bóng tối
Cho tình nhân loại nở hoa thiêng
Quê hương gấm vóc thêm tươi thắm
Nhân loại mừng reo thoát bóng đêm!”
Mỗi
bài thơ là một tâm sự, một cảnh đời – Q.T.K.T viết bài “Xuân nay vắng nhà” là
tâm tình chung của người xuất gia - gởi về Mẹ :
“Mai vàng nở rộ, Cúc đơm hoa
Gửi gió lời thương đến Mẹ già
Bao mùa thay lá bao mùa nhớ
Con mãi tha phương - mãi cách xa”
Vườn Thơ Vô Ưu luôn mở rộng đôi cánh cửa để đón nhận từng
cánh hoa của người thơ, của tình Đạo hữu, để ngày càng phong phú, khởi sắc -
góp phần chia sẻ, cảm thông, tạo niềm tin tưởng an lạc trên bước đường tu học,
trong cuộc sống vốn dĩ đã nhiều khổ đau, bất hạnh….
Xin
gửi lời cám ơn chân thành đến quý đạo hữu, quý nhà thơ, và hẹn gặp nơi vườn thơ
Vô ưu yêu quý của chúng ta.
Mừng nhau ánh mắt nụ cười
Vô ưu khởi sắc vạn ngời niềm tin
Ưu Đàm hoa nở ngát xinh
Mừng thiên niên kỷ bao tình vấn vương
Xuân sang én liệng, bao tình
Mới tinh trang giấy, cao nguyên khởi nguồn…”
(Nguyên Thọ- Bùi Công Toa)
(Vô Ưu số 15 tháng
5-2003)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét