Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015


                     HOA TÂM TRONG VƯỜN ĐẠO

                               MANG VIÊN LONG

               Hơn 15 năm cọng tác với tập san Vô Ưu, từ mỗi năm ra 2 số, đến hôm nay (2012) mỗi năm ra được 4 số. Liên tục trong những năm ấy - tôi là người được BBT mời giữ trang thơ “Vườn Hoa Tâm”, đã góp chút lòng, cùng chung Phật sự…Ở đây, xin “ngẩu nhiên” ghi lại 1 bài trong hằng trăm bài viết cho VHT - như giữ lại một kỷ niệm…





Mỗi bài thơ, chúng ta có thể ví như một đóa hoa. Hoa tâm. Hoa thì muốn hồng nghìn tía - hương sắc không đồng. Thơ ca cũng thế: Mỗi bài thơ là sắc hương của một xúc cảm tâm hồn trước cuộc đời - truyền dẫn, sẻ chia, đưa ta đến cùng nỗi niềm tâm sự buồn vui, khổ đau hay hạnh phúc với tác giả. Nói như Hoài Thanh – Hoài Chân (đồng tác giả “Thi Nhân Việt Nam”) thì mỗi bài thơ là “một cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn (…) đi sâu vào hồn một người, ta sẽ gặp hồn nòi giống; đi sâu vào hồn nòi giống, ta sẽ gặp hồn chung của loài người (…)”
     Vườn thơ Vô ưu là những cánh hoa Tâm hướng về Đạo, hướng về nếp sống cao thượng của tứ vô lượng tâm, về chân lý giác ngộ - giải thhoát; bởi vậy cùng có chung dòng suy tư, cảm nhận, ước mơ, tuy mỗi cách diễn đạt có khác nhau…
     Nguyên Thọ - Bùi Công Toa dặn dò :
               “Rằm tháng tư em nhớ về thăm Huế
               Chiêm ngưỡng lễ đài mừng Phật Đản Sanh
               Hương trầm bay - Cờ giăng khắp ngõ
               Lòng hân hoan vui đón đấng cha lành”
               (…)
               (Nhớ Về)
     Ngày Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đản sanh là ngày vui trọng đại của cả nhân loại - nhà thơ lão thành Tống Anh Nghị gọi là “Ngày Nở Hoa Cuộc Đời” (nhà xuất bản Văn Nghệ - 1995). Người thơ Huỳnh Ngọc Thành cũng đã hân hoan bày tỏ :
               “… Trước Như Lai lòng con bừng mở lối
               Đản sanh về đưa trần gian trẫy hội
               Giữa thinh không nghe tiếng lòng vang dội
               Trái tim này đang thổn thức niềm vui(…)”
     Từ tháng ngày lịch sử ấy, cho đến hôm nay - trải qua hơn 2500 năm thế gian đã được sống trong biển pháp nhiệm mầu, trong giáo lý vi diệu; biết bao cuộc đời đã nở hoa, sống trong an lạc, tự tại, giữa cõi nhân sinh vô thường, ưu phiền, điên đảo. Vĩnh Hiền qua bài “Hành Giả” đã cảm nhận đôi điều về niềm hạnh phúc vô biên này:
               “Chứa từng trận lửa vô thường,
               Vùi chôn thăm thẳm con đường bản lai
               Từng cơn bụi đỗ lên vai
               Huyễn sinh đã mấy lần phai sắc vàng
               Trên đầu dậy ánh dương quang
               Vừa rơi lấp lóa
               Thời gian diệu kỳ…”
     Nguyễn Quốc Việt (P.d Thanh Hải) diễn tả :
               … “Mặt đất mừng vui
               Muôn hoa bừng nở đón chào
               Ngàn sóng hoan ca ngoài biển sáng
               Và loài người yên lặng
               Mở mắt, lắng nghe…”
     Phật Đạo chỉ có một vị - đó là vị giải thoát. Nhưng để đến được với “hương vị” cao quý, cảm nhận niềm vui tuyệt đỉnh này, thì có vạn nẻo. Con đường nào đưa đến Giác ngộ, Giải thoát cũng ngập tràn hương thơm:
               “Không gian tím ngát
               Bỗng ánh vàng chói chang
               Xua tan mơ màng
               Kìa ánh đạo huy hoàng
               An lành thế gian
               Ôi ! Anh sáng từ quang
               Sống mãi
               Đạo vàng…”
     (Anh Vàng – Thiện Thạnh)
     Mỗi bước chân đi, tuy không phải là nơi đến - nhưng qua mỗi bước chân, là một niềm an vui, là sự vươn tới cần thiết cho cuộc hành trình. Dương Tiến Lê đã có những bước đi như thế :
               …”Người lại quay về với thế gian
               Tâm từ bi trải Ánh Đạo Vàng
               Tát vơi bể khổ từ muôn kiếp
               Bình minh rực sáng, bóng đêm tan”
                                                         (Người Đã Đến Như Thế)
     Tâm Linh có một hồn thơ rất dạt dào, phong phú - bài “Mừng Đản Sanh” dài đến 52 câu thơ lục bát. Để dễ dàng sử dụng, Tâm Linh viết cô đọng, sâu sắc hơn: Thơ khó hơn văn xuôi là vậy! Vườn thơ Vô ưu giới thiệu đoạn mở đầu:
               Ca Tỳ La Vệ năm xưa
               Ma Da hoàng hậu sớm trưa nguyện cầu
               Phạm Vương lòng dạ lo âu
               Chưa người kế vị tìm đâu được mà
               Ngày đêm vui những thiết tha
               Một hôm Hoàng hậu Ma Da mộng vàng
Cung trời đâu xuất âm vang…”
Vào vườn thơ Vô ưu, có những bước đi vững vàng, mà cũng có những bước chân thơ ngây rụt rè khẽ đến: Em Huệ Minh Thiện viết thơ cho tòa soạn: “… cháu không biết bài cháu gởi có đạt không mà sao không thấy chú liên lạc gì đến cháu cả?” - Vâng, thơ cháu rất có ý, nhưng cần tôi luyện thêm (về luật thơ) và chắc lọc lại những suy tư, tình cảm cho sâu, cho mới nhé. Trích giới thiệu một đoạn trong bài “Mừng Đức Phật ra đời” :
“Cách đây hơn 2500 năm
Nơi vườn Lâm Tỳ Ni
Hoa Ưu Đàm  rực rỡ
Tỏa hương thơm ngào ngạt
Chim chóc vui chuyền cành
Đón mừng ngày trọng đại
-Ngày Thế Tôn ra đời…”
Với sự thâm nhập giáo lý Phật pháp sâu sắc, lại có tâm kiên cố nguyện bước theo con đường giải thoát của Đức Phật. Người thơ Thượng Đình Liễn đã giãi bày tâm đạo của mình, qua hai bài “Trí Tâm” và “Tưởng Nghe Lời Phật” khá sâu sắc:
“…Sắc không thọ tưởng đều không
Ý thân nhãn nhĩ cũng đồng như nhau
Chẳng trước mà cũng chẳng sau
Không già không chết không đau không sầu
Trí tuệ thâm nhập vào sâu
Không Tập diệt đạo có đâu khổ hành
Phật dạy, c hỉ rõ rành rành
Trí tuệ thông suốt vượt ghành sông mê
Reo vui bờ giác dựa kề
Giác Tâm, giác Tánh - ắt về Tây phương…”
                                              (Trí Tâm)
Cảm nhận nghĩa Vô thường - tánh Không, để tin sâu vào Phật Pháp, hướng dẫn đời mình dứt lìa khổ đau, phiền não, đạt đến An lạc, Giải thoát, có nghìn vạn nẽo (pháp môn vô lượng) - Thanh Sơn (GĐPT Liên Hoa) có cảm nhận từ một chiếc lá vàng:
Nắng chiều rọi xuống sân chùa
Bồ Đề tỏa lá che em mát đầu
Bỗng nhìn chiếc lá vàng rơi
Lòng em chợt nghĩ thân người “có - không”
                                              (Quay về)
Phan Đình Huy (pd Nhuận Phát) đã bày tỏ tâm nguyện một cách kiên cố :
Lìa bỏ trần lao, khoát áo vàng
Hồng trần gửi lại chốn nhân gian
Theo chân Đức Phật về Thiên Trúc
Tỏa ngát hương quang cõi Lạc Bang
Rũ sạch phong sương đến cửa Thiền
Lòng trần đã đoạn đứt tình duyên
Vui lời kinh kệ cùng chuông mõ
Xóa sạch ưu phiền chốn đảo điên”
                                              (Anh Đào Vàng)
Ngày Khánh Đản của Đức Từ Phụ Thích Ca, người thơ Hàn Nhân gọi là “Mùa Từ Bi Ngát Hương”.
Tên gọi tuy có nhiều, tùy theo “duyên khởi” - nhưng vẫn là niềm vui mừng hân hoan, là niềm tin yêu vô bờ của những người con Phật:
“…Em hãy  tin
Mùa hạ vẫn nồng nàn lời yêu thương
Mùa từ bi ngát hương
Vầng trăng thơm thuở ấy
Hoa Ưu đàm
Sao thiết tha rạn ngời đến vậy
Cho ta đối diện  cùng em
Từ nẽo vô cùng…”
Pháp Phật sâu kín, nhiệm màu vô lượng, nhưng tùy căn cơ mà thọ hành. Ngọc Lan cảm nhận nguồn Pháp nhũ linh diệu ấy từ “Pháp Hoa Kinh”.
“Hôm nay gặp pháp nhiệm mầu
Nghe qua con đã hồi đầu ăn năn
Tự giác - tự ngộ, bao năm
Sống theo chánh pháp Phật hằng tại tâm
Xa lìa ác nghiệp ngàn năm
Nhớ ơn Phật Tổ gieo mầm Vô ưu…”
Với thể thơ Thất ngôn bát cú - Đường luật, có nhiều quy định ràng buộc, tuy vậy Hải Nhiêu đã “Mừng Khánh Đản” bằng bài thơ Đường tương đối hoàn chỉnh. Nhất là lời thơ nồng nàn Đạo vị:

Mừng đón Đản sinh Đức Thích Ca,
Bao niềm hỷ lạc đến mọi nhà…
Tu tâm, dưỡng tánh - xua tam độc,
Niệm Phật, trì kinh - đón lục hòa!
Phật tử thành tâm chuyên học tập,
Tăng Ni quyết chí đuổi tà ma…
Hồng ân Tam bảo thường gia hộ,
An lạc tại đây - cõi Ta bà!”
          Thư gởi tòa soạn, Lương Nhẫn viết “… nhưng cháu tin rằng thơ của cháu rất chân thật, rất gần gũi với đời sống con người, là những vấn đề bức xúc của xã hội”. Vâng, đúng như vậy - nhưng “Lời sám hối muộn màng” xem ra nặng trĩu nhiều vấn đề; mà thơ ca không có phép màu chuyển tải hết  cùng một lúc.  Phải biết khắc chạm, chọn lọc, để xúc cảm nhẹ nhàng, kín đáo đi vào thơ… Bài “Vô ưu” có nhiều ý hay:
“Vô ưu là hết khổ đau
Vô ưu là hết âu sầu khóc than
Cuộc đời an lạc, hân hoan
Dẫu nghèo, dẫu khổ - Phượng loan sum vầy…”
Những “thắc mắc” của Huệ Minh Quang là không nên có. Vườn thơ Vô Ưu được nhiều người làm thơ đóng góp, vun quén, chăm sóc thì càng phong phú, tốt đẹp -  chứ có sao ? Hãy chân thành ghi lại cảm xúc, suy tư về Đạo, và tiếp tục gởi về. Bài “Nhớ ơn Ngài” rất chân thật, nhưng phải sâu sắc, mới lạ, thấm đượm hương thơ nhiều hơn. Hoa có sắc, có hương thì càng quý. Xin trích giới thiệu vào vườn thơ hai cánh hoa dễ thương vậy:
Con muôn vàn kính lạy,
Đấng Điều ngự trượng phu…
Nơi Bồ Đề đạo tràng,
Khai ánh vàng mở lối!
… Trước lư trầm khói tỏa
Khấn nguyện nơi tâm mình
Đạo vàng lan rộng mãi
Cho đất trời quang minh.”
Hai đóa hoa mộc mạc nhưng hương sắc đậm đà của Trương Duy Nhất gởi về, cho ta niềm đồng cảm chân thành:
“…Mênh mông trời đất khôn cùng
Lấy ai làm bạn chỉ đường dùm con
Thuyền từ Bát Nhã sắc son
Đây rồi bờ giác, lối con trông chờ
Từ đây đã có lối về
Con nguyện giữ trọn lời thề hiến dâng…”
                                               (Lối Đi Về)
Cùng với cảm nhận “Lối Đi Về” của TD Nhất, Thiện Vân có “Lối về Nhà Xưa” :
…”Suốt ngày vắng lặng cõi Tâm
Dứt bỏ nguồn duyên, bỏ việc trần
Thuyền Từ nhuận gội đức vô lậu
Men dấu đường xưa, mãi tới nhà…”
Thơ không nên quá trau chuốt, chỉ chú ý tới cái hình thức - ngôn từ sao cho kêu, êm tai ; nhưng tư tưởng, cảm xúc thì nông cạn, hời hợt, lập lại. Giống như hoa - không hề cần đẽo gọt; đúng tiết, đúng kỳ thi khai nở, ngát hương … Bài “Hành Thiền” của Dzạ Trầm Thảo tuy chỉ 4 câu (4 chữ) mà có khá nhiều ý :
“Bước chân thanh thản
Trên nẽo đường trần
Xa dầu vạn dặm
Tâm mãi còn tâm…”
Nguyễn Đình Hãn, qua bài thất ngôn bát cú - bày tỏ “tâm đạo” bằng lới “Tự sự” chân thành: “Đạo thường xử thế tỏ lòng nhân” :
“Vui chốn nhân gian đã lục tuần
Lâng lâng hồi tưởng chuỗi dài xuân
Bao phen chìm nỗi lòng không núng
Mấy độ phong ba dạ chẳng sờn
Đổi mới góp công xây cuộc sống
Đạo thường xử thế tỏ lòng nhân
Kiên trinh bản lĩnh tâm  hồn “lính”
Thanh thản tiêu dao giữa cõi trần”
Nói thơ không nên quá trau chuốt - nhưng thơ không phải tả cảnh, tả tình một cách giản dị lộ liễu đến tầm thường, những cảnh tình xúc cảm phải thấm thấu qua trái tim nhạy cảm, tinh tế, chân thành, để chuyển thành lời thơ từ trái tim đang thôi thúc. Bài “Chùa Xuân” của Tâm Nhiên phần nào đạt đến yêu cầu đó :
Lên chùa hái một lá cây
Đêm về để nhớ riêng ngày gặp nhau
Lá xanh như thể mộng đầu
Đời xanh như thể nghìn câu kinh vàng…”
Và bài “Tôn Giả Ca Diếp” của Mãn Đường Hồng là một trong những bài Đường luật hay: là đóa hoa Tâm dạt dào hương sắc:
Phật chìa ra trước đóa hoa tươi
Chỉ có mình ông mỉm nụ cười
Kiến tánh viên thông Thiền rạng chiếu
Minh tâm liễu ngộ pháp ngời soi
Vô ngôn chẳng khác âm rền đất
Bất tự mà như chữ trải trời
Y bát Như Lai truyền nhận lấy
Độ sanh hoằng pháp nhập dòng đời”
Bài ngũ ngôn tứ tuyệt của Đỗ Thiền Đăng – hai mươi từ, mà như mở ra khoảng trời thơ ngọt ngào hương sắc :
“Áo người Mai hoa sắc
Thanh thoát hương Từ bi
Giọt giọt vàng thắm đượm
Phật ý bất tư nghì…”
Đường vào vườn thơ Vô ưu có muôn hướng, cũng như lối tìm vào Đạo cũng vô biên (Vạn pháp là Phật pháp). Thái Sơn qua bài “Nhớ Xuân Xưa” bắt đầu từ người Mẹ yêu quý :
…”Ngày ấy Mẹ già hong tóc bạc
Đượm màu mây trắng đỉnh Trường Sơn
Mẹ ơi, nhớ lắm vườn hoa cũ
Tay mẹ – vườn xuân đẹp cuối đời…”
Nhận định về thơ, có lần ông Phạm Thượng Chi đã phát biểu: “…Thơ là tiếng kêu tự nhiên của Tâm, nhưng phần gia công nhiều, mà  tự nhiên ít – quả là một bức tranh cảnh vật!”. (Nam Phong Tạp chí – Số 5-1917).Đến với vườn thơ Vô ưu, hầu hết đều có tấm chân tình - đó là đều quan yếu, tuy nhiên cũng nên trau luyện thêm nghệ thuật (luật thơ/ từ ngữ /nhạc thơ/ tư tưởng & tình cảm diễn đạt) còn cần quan tâm hơn để bài thơ có thể chuyển tải và truyện đạt được nhiều hơn đến với người đọc.
 Minh Quang trải lòng thương tưởng đến ngay cả với những cánh chim rừng thật hồn hậu :
Ôi tiếng chim rừng gọi
Đong từng giọt thời gian
Từ buổi còn hồng hoang
Và cả ngàn sau nữa
Tiếng chim đưa ngày tan
Tiếng chim reo ngày mới
Ta yêu quý vô vàn
Chim rừng ơi ở lại “
                          (Chim Rừng ơi ở lại)
Chúng ta đều nhận thức rằng: “Ở đời không có chi nên đứng nguyên một chỗ, và nghệ thuật sẽ tê liệt, nếu không đổi mới (theo Anmand Sully – Pruddhomme) - nhưng “đổi mới” là không cầu kỳ, lập dị - mà phải bắt nguồn từ xúc cảm tuyệt vời sâu lắng của trái tim tha thiết với cuộc đời, với thơ ca. Đổi mới hình thức (tạm gọi là “tân hình thức”) mà nội dung bên trong (phần tư tưởng & cảm xúc) chẳng có gì mới lạ, hàm súc, cần thiết để trao gởi đến cho người đọc như một thông điệp; không dựa vào các yêu cầu thiết yếu không thể phủ nhận của con Người là nhân phẩm, truyền thống, đạo lý (…) cũng chỉ là “trò chơi” của những kẻ nhàn rổi…
 Người thơ Nguyễn Long (pd Diệu Phụng) đã bắt đầu từ ý tưởng chân thực ấy tuy phần nghệ thuật thơ của đạt như ý:
Gieo hạt giống xuống ruộng Lam
Mai kia mốt nọ hoa Đàm mọc lên
Chắc chiu mưa nắng hồn nhiên
Cây xanh lá tốt, hoa hiền thơm hương”
                          (Hoa Đàm Ngày đàm Đạo)
Lê Thành Văn với “Lên Chùa” nhẹ nhàng, thanh thoát:
Lên chùa hái lộc đầu xuân
Tiếng kinh niệm Phật như gần như xa
Khói trầm hương tỏa la đà
Bóng chiều lơ lửng ráng pha sắc hồng”
Trong niềm hỷ lạc vô biên ấy, Nguyên Minh “Nguyện Cầu”:
…Khổ đau lui dần vào bóng tối
Cho tình nhân loại nở hoa thiêng
Quê hương gấm vóc thêm tươi thắm
Nhân loại mừng reo thoát bóng đêm!”
Mỗi bài thơ là một tâm sự, một cảnh đời – Q.T.K.T viết bài “Xuân nay vắng nhà” là tâm tình chung của người xuất gia - gởi về Mẹ :
“Mai vàng nở rộ, Cúc đơm hoa
Gửi gió lời thương đến Mẹ già
Bao mùa thay lá bao mùa nhớ
Con mãi tha phương - mãi cách xa”
Vườn Thơ Vô Ưu  luôn mở rộng đôi cánh cửa để đón nhận từng cánh hoa của người thơ, của tình Đạo hữu, để ngày càng phong phú, khởi sắc - góp phần chia sẻ, cảm thông, tạo niềm tin tưởng an lạc trên bước đường tu học, trong cuộc sống vốn dĩ đã nhiều khổ đau, bất hạnh….
Xin gửi lời cám ơn chân thành đến quý đạo hữu, quý nhà thơ, và hẹn gặp nơi vườn thơ Vô ưu yêu quý của chúng ta.
Mừng nhau ánh mắt nụ cười
ưu khởi sắc vạn ngời niềm tin
Ưu Đàm hoa nở ngát xinh
Mừng thiên niên kỷ bao tình vấn vương
Xuân sang én liệng, bao tình
Mới tinh trang giấy, cao nguyên khởi nguồn…”

                                                                     (Nguyên Thọ- Bùi Công Toa)
     (Vô Ưu số 15 tháng 5-2003)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét