GẶP LẠI BẠN
CŨ,
LAN MAN ĐÔI
ĐIỀU VỀ
”CÓ NHỮNG MÙA TRĂNG”
”CÓ NHỮNG MÙA TRĂNG”
Baì Viết:
HỒ SĨ PHÙNG
Bạn bè thỉnh thoảng gặp nhau là thường
song có lúc nhiêu khê, đằng đẵng. Chờ đủ duyên chăng? Duyên thì tôi và anh ở
cùng quê, nhà gần nhau, cùng học Cường để, cả hai đều dạy học, tuy nhiên sở xa
nhau. Trước kia tôi thường đọc bài của anh trên các tạp chí Văn, Bách Khoa,
Trình bày… Tôi là một nhà giáo dạy văn, mơ ước đầu tiên khi có tiền là sắm dần
một tủ sách. Bao lần tàn cư, chạy loạn chúng đều được đóng thùng mang theo đi, về.
Thế rồi năm 75 đến tất cả đều buông bỏ, giao nạp. Rất lâu, rất lâu sau, mới dần
gom lại được đôi phần. Cuộc sống khó khăn, tha phương cầu thực. Giấc mơ sách vở
ngày một phôi pha, nhiều đêm vẫn chiêm bao, tưởng nhớ.
Năm nay 2014, mang tiếng ở Sài Gòn nhưng
thuộc vùng sâu xa, mờ mịt. Tình cờ một người quen từ quê nhà gởi vào cho một
quyển “Như Những Giọt Sương” của Mang
Viên Long. Sách in đẹp quá, giấy trắng, chữ lớn thích hợp với người lớn tuổi. A
ha! Mừng quá, ta lại gặp nhau rồi! Sau hơn 40 năm đằng đẵng. Đưa vội sách lên
mũi còn nghe mùi mực mới, việc thường làm trước kia mỗi khi mua được quyển sách
mới, ưng ý về. Nhìn bìa trước, bìa sau từ năm 2003 đến nay anh đã có 12 đầu
sách, sức làm việc kinh quá, anh như chạy đua với thời gian còn lại. Thế mà mình
vẫn ngủ quên, mù mờ. Nếu không có duyên may có quyển sách cầm trên tay thì chưa
biết lúc nào gặp lại anh. Sách này (tháng 8/2013) anh tặng cho một giáo viên
dạy văn cấp ba sau 75 ở trường An Nhơn, ngôi trường nhiều gắn bó, kỉ niệm. Thầy
này tặng lại cho một giáo viên dạy văn khác bỏ việc về quê. Và cuối cùng đến một thầy dạy văn khac
“mất dạy” sau 75 như tôi và tác giả.
Mừng quá! Bạn mình vẫn khỏe, vẫn sáng
tác đều tay sau hơn 30 năm ngừng nghỉ. Mạch văn của anh đối với tôi gián cách
đã lâu. Trước khi thưởng thức món ăn mới hấp dẫn tôi tìm đọc lại vài trang cũ
đầy ắp tình người, tâm trạng của thanh niên thời ấy. Và trong mớ sách cũ hư
hao, mất mát đôi khi không dám nhìn như sợ chạm vào nỗi đau, may ra còn tập “Có Những Mùa Trăng” do tạp chí Văn xuất
bản năm 1972 trong loạt sách “Một tác giả, Một tác phẩm” tương đối nguyên vẹn.
Trang bìa trình bày đơn giản, vàng rực màu trăng. Bên đường chân trời là màu
xanh, nhen nhóm chút hy vọng xa vời. Sách gồm sáu truyện ngắn,”Có Những Mùa
Trăng”- truyện đầu tiên đặc sắc, dùng làm tên tập truyện.
Đất Bình Định, trăng Bình Định lung linh
huyền ảo. Nói đến Bình Định là nói đến những vần thơ tuyệt diệu, những đêm
trăng diễm tình của thi nhân Bình Định, cả nước đều biết đến. Nhưng trăng ở đây
lại là trăng của một xóm trọ nghèo nơi thầy giáo Khiêm ở: “Trong khu vườn đã
dựng lên mấy nóc nhà tạm bợ” và “những căn nhà đó xúm xít với nhau, tách rời
những căn nhà chung quanh, do đó những người tới ở cũng gần gũi nhau hơn như
thể cùng chung một nhà. Điều này làm Khiêm hài lòng hơn hết bởi từ lâu Khiêm
không được sống trong một nơi có ít nhiều không khí thân mật của một gia đình.
Có bà già để nhắc chuyện đời xưa, có đàn ông để bàn chuyện bậy bạ, có trẻ nhỏ
để chơi giỡn, có con gái để mượn tiền” – (trích “Có
những mùa trăng” trang 9). Thị xã êm đẹp ngày nào giờ bị không khí chiến tranh,
chết chóc bao trùm. Nông dân bỏ làng, bỏ ruộng kéo về thị xã chen chút, hình
thành những xóm trọ, sống vất vả từng ngày. Trăng vẫn “sáng bong”, “chiếu xuyên
qua những chòm lá sầu đông” soi rõ những phận người, những cảnh đời “nghèo khổ,
tối ôm”. Những thanh niên
“…
buông trôi cuộc đời không lí tưởng
Chưa
một lần toan ao ước say mê
…Ba
mươi tuổi vội thân gầy óc rỉ
…
nhận diện mình lạc lõng già nua.”
Trần Huiền Ân ( Trời quê mộ mẹ )
Họ là hai người đàn bà “không ưa gì nhau
nhưng vẫn thường chuyện trò tào lao với nhau nên thường cãi cọ”- “Có những mùa
trăng” (trang 9). Họ là những người đàn ông, những người chồng “không lo làm
ăn, say mê cờ bạc” hoặc “say sưa từ quán này đến quán nọ”. Họ là hai chị em, người
chị bỏ quê lên thị xã may vá nuôi em ăn học. Lâu lâu nhớ mẹ về thăm “lại bị mẹ
thúc đi” vì sợ “bị bắt lên núi”. Trăng sáng đẹp, lung linh làm Tánh, người chị
“nhớ những mùa trăng ở quê, cả đêm nghe người nói chuyện, cười giỡn ngoài ngõ,
không làm sao ngủ cả. Bây giờ không ai dám nhìn trăng nữa, người ta trốn mặt
trăng. Ở quê thì chui xuống hầm, ở phố người ta giam mình trong nhà hưởng thụ
xa xỉ” (trang 19).
Họ là hai trí thức trẻ, hai nhà giáo.
Lúc bấy giờ thanh niên thường xa lánh chính trị, không muốn “dính vào”, vào học
sư phạm ra làm thầy giáo là sự lựa chọn khôn khéo, an lành nhất. Hai nhà giáo ở
đây thì Mẹo “sống bạt mạng buồn thảm” vừa lãnh lương ở ty về trong một buổi
chiều đã thua sạch. “Mẹo đã bảo, mày nghĩ nếu tao không chui vào các sòng bài
với lũ nó chẳng lẽ nằm nhà mà buồn, hay đi lơ ngơ mất hồn ngoài phố” (trang 17)
Còn Khiêm, nhân vật chính “Khiêm nghĩ tới mấy năm đi dạy của mình, thấy quả là
một sự chịu đựng ngoài sức. Nhiều lúc xôn xao vì nỗi bất bình của bạn bè đồng
nghiệp về việc làm bất công ở ty, Khiêm lại càng thấy nản và ý tưởng bỏ nghề cứ
lẩn quẩn trong óc” (trang 21). Đồng nghiệp thì “ngờ vực và tị hiềm” và “những
cố gắng với nhiểu nhiệt thành của bọn mình cũng chẳng ích lợi gì” và “tiếng nói
của bọn mình như gió thoảng vào sa mạc. Một cõi sa mạc sâu thẳm, khô cháy, hực
lửa tham lam.” (trang 30). Ở đây người ta không thấy hình ảnh thầy, cô giáo
đứng trên bục giảng, giảng những bài, những đoạn văn hay nhất tự chọn trong
sách giáo khoa và những ánh mắt học sinh trong trẻo, những đôi tai lắng nghe,
những nụ cười vỡ òa sung sướng… Giáo sư dạy văn mà!
Một thi sĩ, nhà văn, nhà giáo khác ở Tuy
Hòa là anh Trần Huiền Ân lúc bấy giờ cũng diễn tả nỗi buồn chán, bất lực của
nghề giáo trong truyện ngắn “Ba Nụ Cười Buổi Chiều”, (Bách khoa năm 71). Thầy
cô ở đây làm nhiệm vụ với đúng thiên chức cao cà của nhà giáo là Giám thị trong
một hội đồng thi. Có lẽ là hội đồng Giám thị kỳ thi tú tài. Thầy cô đã không
làm tròn vai trò, trách nhiệm chính đáng của mình mà còn tiếp tay với cái xấu
lan tràn. Thậm chí có người còn ở trong “tổ chức làm tiền”. “Lấy đề ra, giá bao
nhiêu. Đưa bài vào giá bao nhiêu ?! ”. “Các giám thị mặc cả với nhau. Bên ngoài
tường rào phụ huynh, thầy cô giáo khác chạy tới, chạy lui, kêu réo các giám thị
phòng. Cảnh sát thì tiếp tay, không làm nhiệm vụ bảo vệ. Tình hình thật bát
nháo, không thể có trong một môi trường giáo dục. Có phải thầy, cô nào cũng
buông xuôi, bất lực vậy không?! Không. “Bởi vì, ngay ông cảnh sát sếp, khi dò
danh sách cấm thi thấy có tên nằm chình ình trong đó.” Và hai vị giám thị từ
Bình Định vào đã lập biên bản ngay cả vị quan chức.
Cũng diễn tả sự chua chat, bất lực của
thầy giáo, nhà văn tài hoa, mệnh yểu, nhà giáo Y Uyên trong truyện ngắn “Người
Đã Lên Tàu” đưa hình ảnh thầy Giảng tham gia hội thiện nguyện được trại sinh
tín nhiệm cử “coi về việc phát tặng phẩm cho dân chúng”. Việc tưởng đơn giản,
thích hợp với khả năng, uy tín của thầy giáo nhưng “Giảng thấy mình lầm lỡ” mọi
việc cứ rối mù, rối tung, vượt qua sự kiểm soát của mình.
Và “trong đêm vắng của xóm sâu hút trong
nỗi nghèo khổ tối om, Khiêm mơ hồ thấy đời mình cũng biền biệt như bóng tối”.
Con người tìm an ủi, giải thoát ở đâu? Tình yêu chăng?! “Giữ tay Tánh trong tay
mình, Khiêm có cảm tưởng như anh đã cầm giữ được tình yêu và niềm tin. Niềm hân
hoan ngút lên trong lòng Khiêm tưởng đã tắt lịm, giá băng.”- “Có những mùa trăng”
trang 24. Nhưng “cuộc sum họp dưới ánh trăng trong khoảng sân trước nhà, vì thế
chỉ là một nỗi gắng gượng tạm bợ, một lãng quên với nhiều hoang mang của những
người ở lại.” (trang 26). Ngày mai mọi người phải ra đi, Mẹo đi Phú Bổn, Khiêm
về quê nghỉ hè. “Khiêm mỉm cười vu vơ với mình, nhớ tới nét mặt Tánh buồn thiu
khi báo cho Khiêm biết nàng trở về quê vài hôm mới lên. Lúc đó Khiêm chưa thấy
buồn sôi nổi bằng bây giờ. Nhìn mặt trăng lấp ló bên những tảng mây trắng, đêm
vắng ngắt lạnh lẽo chung quanh, Khiêm mới thấy thực sự thương Tánh, nhớ Mẹo…” (
trang 32).
Và “con tim đã vui trở lại”. Tình thầy
trò ấm áp hơn lên. Giọng thầy, lời thầy hồn hậu, đầy ắp yêu thương trong truyền
đạt, đối nhân…
HỒ SĨ PHÙNG

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét