Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Ảnh Đặng Đức Cương

GẶP LẠI BẠN CŨ,
LAN MAN ĐÔI ĐIỀU VỀ
”CÓ NHỮNG MÙA TRĂNG”

Baì Viết:
HỒ SĨ PHÙNG



Bạn bè thỉnh thoảng gặp nhau là thường song có lúc nhiêu khê, đằng đẵng. Chờ đủ duyên chăng? Duyên thì tôi và anh ở cùng quê, nhà gần nhau, cùng học Cường để, cả hai đều dạy học, tuy nhiên sở xa nhau. Trước kia tôi thường đọc bài của anh trên các tạp chí Văn, Bách Khoa, Trình bày… Tôi là một nhà giáo dạy văn, mơ ước đầu tiên khi có tiền là sắm dần một tủ sách. Bao lần tàn cư, chạy loạn chúng đều được đóng thùng mang theo đi, về. Thế rồi năm 75 đến tất cả đều buông bỏ, giao nạp. Rất lâu, rất lâu sau, mới dần gom lại được đôi phần. Cuộc sống khó khăn, tha phương cầu thực. Giấc mơ sách vở ngày một phôi pha, nhiều đêm vẫn chiêm bao, tưởng nhớ.

Năm nay 2014, mang tiếng ở Sài Gòn nhưng thuộc vùng sâu xa, mờ mịt. Tình cờ một người quen từ quê nhà gởi vào cho một quyển “Như Những Giọt Sương” của Mang Viên Long. Sách in đẹp quá, giấy trắng, chữ lớn thích hợp với người lớn tuổi. A ha! Mừng quá, ta lại gặp nhau rồi! Sau hơn 40 năm đằng đẵng. Đưa vội sách lên mũi còn nghe mùi mực mới, việc thường làm trước kia mỗi khi mua được quyển sách mới, ưng ý về. Nhìn bìa trước, bìa sau từ năm 2003 đến nay anh đã có 12 đầu sách, sức làm việc kinh quá, anh như chạy đua với thời gian còn lại. Thế mà mình vẫn ngủ quên, mù mờ. Nếu không có duyên may có quyển sách cầm trên tay thì chưa biết lúc nào gặp lại anh. Sách này (tháng 8/2013) anh tặng cho một giáo viên dạy văn cấp ba sau 75 ở trường An Nhơn, ngôi trường nhiều gắn bó, kỉ niệm. Thầy này tặng lại cho một giáo viên dạy văn khác bỏ việc về  quê. Và cuối cùng đến một thầy dạy văn khac “mất dạy” sau 75 như tôi và tác giả.
Mừng quá! Bạn mình vẫn khỏe, vẫn sáng tác đều tay sau hơn 30 năm ngừng nghỉ. Mạch văn của anh đối với tôi gián cách đã lâu. Trước khi thưởng thức món ăn mới hấp dẫn tôi tìm đọc lại vài trang cũ đầy ắp tình người, tâm trạng của thanh niên thời ấy. Và trong mớ sách cũ hư hao, mất mát đôi khi không dám nhìn như sợ chạm vào nỗi đau, may ra còn tập “Có Những Mùa Trăng” do tạp chí Văn xuất bản năm 1972 trong loạt sách “Một tác giả, Một tác phẩm” tương đối nguyên vẹn. Trang bìa trình bày đơn giản, vàng rực màu trăng. Bên đường chân trời là màu xanh, nhen nhóm chút hy vọng xa vời. Sách gồm sáu truyện ngắn,”Có Những Mùa Trăng”- truyện đầu tiên đặc sắc, dùng làm tên tập truyện.
Đất Bình Định, trăng Bình Định lung linh huyền ảo. Nói đến Bình Định là nói đến những vần thơ tuyệt diệu, những đêm trăng diễm tình của thi nhân Bình Định, cả nước đều biết đến. Nhưng trăng ở đây lại là trăng của một xóm trọ nghèo nơi thầy giáo Khiêm ở: “Trong khu vườn đã dựng lên mấy nóc nhà tạm bợ” và “những căn nhà đó xúm xít với nhau, tách rời những căn nhà chung quanh, do đó những người tới ở cũng gần gũi nhau hơn như thể cùng chung một nhà. Điều này làm Khiêm hài lòng hơn hết bởi từ lâu Khiêm không được sống trong một nơi có ít nhiều không khí thân mật của một gia đình. Có bà già để nhắc chuyện đời xưa, có đàn ông để bàn chuyện bậy bạ, có trẻ nhỏ
để chơi giỡn, có con gái để mượn tiền” – (trích “Có những mùa trăng” trang 9). Thị xã êm đẹp ngày nào giờ bị không khí chiến tranh, chết chóc bao trùm. Nông dân bỏ làng, bỏ ruộng kéo về thị xã chen chút, hình thành những xóm trọ, sống vất vả từng ngày. Trăng vẫn “sáng bong”, “chiếu xuyên qua những chòm lá sầu đông” soi rõ những phận người, những cảnh đời “nghèo khổ, tối ôm”. Những thanh niên
“… buông trôi cuộc đời không lí tưởng
Chưa một lần toan ao ước say mê
…Ba mươi tuổi vội thân gầy óc rỉ
… nhận diện mình lạc lõng già nua.”
Trần Huiền Ân ( Trời quê mộ mẹ )
Họ là hai người đàn bà “không ưa gì nhau nhưng vẫn thường chuyện trò tào lao với nhau nên thường cãi cọ”- “Có những mùa trăng” (trang 9). Họ là những người đàn ông, những người chồng “không lo làm ăn, say mê cờ bạc” hoặc “say sưa từ quán này đến quán nọ”. Họ là hai chị em, người chị bỏ quê lên thị xã may vá nuôi em ăn học. Lâu lâu nhớ mẹ về thăm “lại bị mẹ thúc đi” vì sợ “bị bắt lên núi”. Trăng sáng đẹp, lung linh làm Tánh, người chị “nhớ những mùa trăng ở quê, cả đêm nghe người nói chuyện, cười giỡn ngoài ngõ, không làm sao ngủ cả. Bây giờ không ai dám nhìn trăng nữa, người ta trốn mặt trăng. Ở quê thì chui xuống hầm, ở phố người ta giam mình trong nhà hưởng thụ xa xỉ” (trang 19).
Họ là hai trí thức trẻ, hai nhà giáo. Lúc bấy giờ thanh niên thường xa lánh chính trị, không muốn “dính vào”, vào học sư phạm ra làm thầy giáo là sự lựa chọn khôn khéo, an lành nhất. Hai nhà giáo ở đây thì Mẹo “sống bạt mạng buồn thảm” vừa lãnh lương ở ty về trong một buổi chiều đã thua sạch. “Mẹo đã bảo, mày nghĩ nếu tao không chui vào các sòng bài với lũ nó chẳng lẽ nằm nhà mà buồn, hay đi lơ ngơ mất hồn ngoài phố” (trang 17) Còn Khiêm, nhân vật chính “Khiêm nghĩ tới mấy năm đi dạy của mình, thấy quả là một sự chịu đựng ngoài sức. Nhiều lúc xôn xao vì nỗi bất bình của bạn bè đồng nghiệp về việc làm bất công ở ty, Khiêm lại càng thấy nản và ý tưởng bỏ nghề cứ lẩn quẩn trong óc” (trang 21). Đồng nghiệp thì “ngờ vực và tị hiềm” và “những cố gắng với nhiểu nhiệt thành của bọn mình cũng chẳng ích lợi gì” và “tiếng nói của bọn mình như gió thoảng vào sa mạc. Một cõi sa mạc sâu thẳm, khô cháy, hực lửa tham lam.” (trang 30). Ở đây người ta không thấy hình ảnh thầy, cô giáo đứng trên bục giảng, giảng những bài, những đoạn văn hay nhất tự chọn trong sách giáo khoa và những ánh mắt học sinh trong trẻo, những đôi tai lắng nghe, những nụ cười vỡ òa sung sướng… Giáo sư dạy văn mà!
Một thi sĩ, nhà văn, nhà giáo khác ở Tuy Hòa là anh Trần Huiền Ân lúc bấy giờ cũng diễn tả nỗi buồn chán, bất lực của nghề giáo trong truyện ngắn “Ba Nụ Cười Buổi Chiều”, (Bách khoa năm 71). Thầy cô ở đây làm nhiệm vụ với đúng thiên chức cao cà của nhà giáo là Giám thị trong một hội đồng thi. Có lẽ là hội đồng Giám thị kỳ thi tú tài. Thầy cô đã không làm tròn vai trò, trách nhiệm chính đáng của mình mà còn tiếp tay với cái xấu lan tràn. Thậm chí có người còn ở trong “tổ chức làm tiền”. “Lấy đề ra, giá bao nhiêu. Đưa bài vào giá bao nhiêu ?! ”. “Các giám thị mặc cả với nhau. Bên ngoài tường rào phụ huynh, thầy cô giáo khác chạy tới, chạy lui, kêu réo các giám thị phòng. Cảnh sát thì tiếp tay, không làm nhiệm vụ bảo vệ. Tình hình thật bát nháo, không thể có trong một môi trường giáo dục. Có phải thầy, cô nào cũng buông xuôi, bất lực vậy không?! Không. “Bởi vì, ngay ông cảnh sát sếp, khi dò danh sách cấm thi thấy có tên nằm chình ình trong đó.” Và hai vị giám thị từ Bình Định vào đã lập biên bản ngay cả vị quan chức.
Cũng diễn tả sự chua chat, bất lực của thầy giáo, nhà văn tài hoa, mệnh yểu, nhà giáo Y Uyên trong truyện ngắn “Người Đã Lên Tàu” đưa hình ảnh thầy Giảng tham gia hội thiện nguyện được trại sinh tín nhiệm cử “coi về việc phát tặng phẩm cho dân chúng”. Việc tưởng đơn giản, thích hợp với khả năng, uy tín của thầy giáo nhưng “Giảng thấy mình lầm lỡ” mọi việc cứ rối mù, rối tung, vượt qua sự kiểm soát của mình.
Và “trong đêm vắng của xóm sâu hút trong nỗi nghèo khổ tối om, Khiêm mơ hồ thấy đời mình cũng biền biệt như bóng tối”. Con người tìm an ủi, giải thoát ở đâu? Tình yêu chăng?! “Giữ tay Tánh trong tay mình, Khiêm có cảm tưởng như anh đã cầm giữ được tình yêu và niềm tin. Niềm hân hoan ngút lên trong lòng Khiêm tưởng đã tắt lịm, giá băng.”- “Có những mùa trăng” trang 24. Nhưng “cuộc sum họp dưới ánh trăng trong khoảng sân trước nhà, vì thế chỉ là một nỗi gắng gượng tạm bợ, một lãng quên với nhiều hoang mang của những người ở lại.” (trang 26). Ngày mai mọi người phải ra đi, Mẹo đi Phú Bổn, Khiêm về quê nghỉ hè. “Khiêm mỉm cười vu vơ với mình, nhớ tới nét mặt Tánh buồn thiu khi báo cho Khiêm biết nàng trở về quê vài hôm mới lên. Lúc đó Khiêm chưa thấy buồn sôi nổi bằng bây giờ. Nhìn mặt trăng lấp ló bên những tảng mây trắng, đêm vắng ngắt lạnh lẽo chung quanh, Khiêm mới thấy thực sự thương Tánh, nhớ Mẹo…” ( trang 32).
Và “con tim đã vui trở lại”. Tình thầy trò ấm áp hơn lên. Giọng thầy, lời thầy hồn hậu, đầy ắp yêu thương trong truyền đạt, đối nhân…



HỒ SĨ PHÙNG




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét