TƯỞNG NHƯ ĐÃ QUEN NHAU
Tạp Bút
VÕ CÔNG LIÊM
Mùa xuân năm đó Tri cùng đồng đội được lệnh
chuyển trại về một nơi xa hơn, nơi rừng thiêng nước độc của miền sơn cước phương
bắc. Tri biết đây là con đường khổ nhục còn hơn cả tù chung thân khổ sai. Tri
buồn lắm và xem món nợ non sông chưa trả xong. Đoàn người rã ngũ ngoan ngoãn bước
đi theo họng súng kềm, họ chậm rãi sắp hàng
một, tiến về phiá những chiếc xe ’cam-nhông’ nặng nề, nằm bất động trên con đường
đất nhỏ hẹp dẫn ra lộ chính, xe sơn màu cứt ngựa, hai bên hông xe và đuôi xe kẻ
những hàng số màu trắng như số tù nhân sau lưng áo.
Tiếng tu-hyút ré lên thúc dục.
Tri bước đi bình thường, trong đầu mang một tâm tư chán nản, những khẩu lệnh,
những con số, những danh xưng tất cả đều xa lạ và quái dị đối với Tri lúc nầy. Đưa
chân bước vào thùng xe, Tri kiếm chỗ ngồi khiêm nhường trong lòng xe như muốn
che giấu gương mặt đưa đám của mình, hắn nhắm mắt nhớ về người mẹ già, rưng rưng
nước mắt khi đưa tiển, tấm bạt phủ kín
thân xe, lại thêm cảnh mờ sáng khó nhận ra bao nhiêu ’anh hùng lỡ vận’ ngồi
trong khoang xe cùng với Tri. Hắn gục đầu lắng nghe trời về sáng. Chẳng bao lâu
thì xe bắt đầu nổ máy, tiếng máy rì rào bên tai dể đưa giấc ngủ trở lại, mà thực
như thế; đêm hôm qua ’lên lớp’ làm bản kiểm điểm rồi ăn vội củ sắn, hớp miếng nước
lạnh chứa trong thùng dầu hỏa rồi nhanh chân kiếm chỗ đặt lưng, xung quanh chỗ
nằm là tiếng chào xáo, thằng khóc, thằng cười khó mà dỗ giấc ngủ, nhất là nơi
không đủ dưỡng khí để thở. Tri đành chong con mắt cho tới sáng.
Xe chuyển bánh một cách mệt nhọc, lượng người ngồi trong xe như nêm cứng
khó di động tứ chi, sườn xe kêu răng rắc, uốn éo theo bánh lăn, chao nghiêng cả
xe lẫn người; chừng một đoạn ngắn thì xe ra khỏi đường đất, xe sang số chạy khoẻ
như điền kinh lấy nước rút, có lúc thì giảm tốc độ để tránh ổ gà, nhiều lần như
thế Tri và đồng đội nhún người lên đụng phải trần xe.Nhưng chẳng phải oán, ngồi
ôm hận.
Chạy được tiếng đồng hồ thì bên ngoài trời chuyển mưa, cảnh sáng ban
mai trở về cảnh tối ban đêm, đám người ngồi trong thùng xe, cúi đầu như đang đọc kinh cầu nguyện ở nhà thờ, có kẻ
gục đầu ngủ gà, ngủ gật theo nhịp lắc lư của xe, miệng ấm ớ như mê sảng. Mặc
cho bên ngoài có gió mưa, cả bọn ngồi êm trong thế bị động, chả cụ quậy gì được
nữa họ như con heo nằm trong rọ chả thiết một gì. Ngồi chịu trận. Khóc âm thầm
trong đáy tim.
Mưa rơi, dội lên tấm bạt, nước mưa lọt qua khe hở, bắn vào bụng xe, ướt
đầu và quần áo của những kẻ chiến bại. Mỗi lúc mỗi nặng hạt, xối ào ạt vào xe,
xe điên cuồng phóng mình chống lại cơn mưa dữ. Củ sắn chiều hôm qua coi như không
còn xơ múi gì với cái bao tử lúc nầy. Cả đám mong cho xe chạy nhanh về cứ điểm để
có chút gì lót bụng. Nhưng có ai biết đâu là đâu mà mong với đợi để kiếm hột cơm.
Giờ đây họ mới thấy đời là đáng qúy, bù với trước đây cái ăn, cái đổ, chả biết
chi mô là tương lai, lãng phí vô cớ. Rõ khốn!
Tri nhắm mắt để cho vận mệnh đẩy đưa. Đường cùng; giờ thì như rắn đứt đầu,
biến mình thành con trâu, tắc đường tắc, rì đường rì; thôi thì cứ nuôi hy vọng
biết đâu có ông thần sống nào ra tay cứu nhân độ thế thì họa may thoát thân.
Tri nghĩ điều nầy là vô tưởng. Hắn quay về với thực tại. Mưa như ai oán, ào ào
xán xuống con đường đèo với núi đồi, rừng rậm, xe chạy mang
theo hơi thở
của kẻ kiệt sức, viên quân xa lầm lì cầm tay lái, đôi chân run run theo nhịp rung của
xe, tấm gương chấn gió mờ hơi thở, quạt
nước không còn sức để quạt sáng, xe mù mắt chỉ
thấy lờ mờ hai vệt sáng đèn xe như hai ngọn đèn chìm trong biển nước.
Thắng gấp!
Xe tuột dốc. - Bọn bây ơi; xe tuột
dốc! Mọi người nháo lên. Chiếc ’cam-nhông’ chạy cuối không thể báo nguy cho xe
trước, mạnh ai nấy lái, xe chạy như con thú dữ chẳng kể gì sinh mạng, tài xế quân
xa không trở tay lái kịp thời, xe lao xuống vực, luôn trớn lăn dài xuống mấy dốc
núi, tiếng la hoảng, khủng khiếp trong nỗi sợ hãi và bất lực. Vô phương; người
và xe bó tay chờ chết, rơi từ độ cao xuống vực thẳm, chông chênh từng mũi đá nhọn.
Nghe ầm một tiếng lớn, ’đống sắt’ màu cứt ngựa nằm yên trên mỏm đá, thở khói và
bén lửa chờ nổ. Không còn nghe tiếng khóc la. Cõi chết! Tri rút đôi tay ra khỏi
thân xác đồng đội đằn lên người Tri. Hắn khó khăn mới luồn lách ra khỏi những
người chết. Tri đau đớn vết thương trên người, mò ra khỏi xe nằm thở, được một
lúc Tri nhận ra sự bất động hoàn toàn, chỉ còn nghe mưa, máu ở cánh tay bên trái
chảy dài hòa với nước mưa.Trời tối đen không tìm ra phương hướng hay vị trí nơi đây. Tri cố sức vật người đứng dậy, loạng
quạng giữa trời đêm, đi chưa vững, lại té xuống, đau nhói cả người, phần đói,
phần vết thương hành hạ, sợ không qua khỏi chốn nầy. Tri lạc vào khu rừng rậm,
mò mẫm ngắt từng cọng lá rừng bỏ vào miệng nhai, nghe rạo dưới răng của ốc sên, Tri nuốt luôn, ngồi thở và lần mò bước
đi về hướng đông mờ sáng; chân đạp lên mặt cát nghe rồn rột, đuối sức và nằm lịm
trong bờ bụi âm u của rừng lạ.
Bóng người phụ nữ mặc áo bông, đầu đội khăn đi vào rừng sớm để nhặt củi
khô và nấm sau cơn mưa, bất giác nhìn thấy xác người đàn ông nằm bất động phủ đầy
lá quanh người. Người hốt hoảng, rùng mình băng rừng chạy về nhà.
- Có việc gì mà quýnh lên thế ?
Người đàn ông tóc hoa râm nói.
- Người chết! người chết! Người
con gái tuổi chừng ba mươi nói.
Một lát sau cả hai cùng vào rừng, khoát đám lá cây phủ quanh người để
nhận diện. Người đàn ông tóc hoa râm rón rén đến gần và biết đây không phải xác
chết. Họ ì ạch dìu người lạ mặt đưa về nhà giữa lúc trời mờ sáng; cũng may ở đây
không có xóm giềng gần, dân cư sống rải rác từng khoảnh, chuyên nghề đi củi và đánh
cá. Họ đặt người đàn ông nằm trên bộ ván lát, áo quần rách tươm, dính đầy máu,
mắt nhắm cứng, vết thương ở tay tím bầm, máu sậm màu đen thẩm, máu tươi rỉ rướm
ở nơi vết chặt gần cả gang tay. Thần sắc bạc phếch và mình mẩy rã rời.
- Mầy xuống dưới nấu cho tao ấm
nước. Nhanh lên! Luôn tay luộc cho tao hai củ khoai với miếng nước lá vối. Người
đàn ông tóc hoa râm nói.
Ông lật người bị nạn xem xét có để lại dấu tích gì không hay giấy tờ cần
thiết, ông xét kĩ lưỡng trên người lạ nhưng không có gì khác, chỉ có áo và quần may
mặc không giống ở đây, ông có phần nghi ngại. Ông lại nghĩ: - Để rồi xem ra
sao. Có cần đi báo cơ quan không. Ông bước ra sân ngong ngóng nhìn trước, nhìn
sau rồi quay đầu vào trong. Lấy khăn nóng đắp lên trán, nâng đầu nhỏ ít giọt nước
gừng vào miệng, lau quanh người, đoạn ông rịt cứng vết thương.
Nhờ chăm sóc, Tri tĩnh người, mắt lim dim nhìn cảnh vật xung quanh và
Tri cũng không rõ tại sao mình nằm ở nơi đây và đây là chốn nào? Tri tỏ ra sợ hãi.
Nhà vắng tiếng người không nghe một tiếng
động, chỉ nghe tiếng rì rào của sóng biển từ xa đưa về. Tri nằm yên như chờ đợi
sự cớ đến với mình. Hắn đói và khát. Chừng như có tiếng chân ai, Tri nhắm mắt để
lắng nghe.
Từ ngày cứu sống Tri. Ông Vạn và Thâu coi Tri như người thân trong nhà,
ông Vạn tạo cử chỉ đó để che mắt thiên hạ, nhất là tay công an xã đội thỉnh
thoảng đi
’thực tế’ khỏi phải thắc mắc chất vấn cò cưa. Ngoài cái màn kịch
do ông Vạn đạo
diễn, bên trong Tri và Thâu đã có dấu hiệu, Tri sống như con rể của ông
Vạn. Cũng đi lưới, cũng vào rừng kiếm củi, đốn cây, sinh hoạt như người dân địa
phương ở đây. Tri và Thâu thường xuống chợ và mua những thứ cần dùng; mắm muối
gạo khoai... Tri ý thức được thứ tình cảm đó, một tình cảm bất vụ lợi nói lên tình
người và tình nhân đạo. Thật ra giữa tình thế bấy giờ khó kiếm cho ra một thứ tình
tầm thường như ông Vạn và Thâu. Cũng đầu đen, máu đỏ, cùng một ngôn ngữ, cùng một
gốc ngọn mà ra; thế nhưng trong máu vẫn luân lưu cái chất truyền kiếp ’Việt dỉ
Việt’ từ mấy ngàn năm nay chẳng qua cũng tại cái truyền thống bị trị, cái hồn ích
kỷ, cố vị mà không nương tay với người đồng chủng. Nó biến thành cái họa.
- Anh Tri vào ăn cơm. Sao anh thơ
thẩn ngoài bụi dứa làm chi rứa ? Thâu nói.
Nhịp sống cứ như thế mà trôi êm cả năm hơn. Dần dà người ta nhìn Tri là
con rể của ông Vạn. Vợ ông mất sớm khi Thâu được 3 tuổi. Hai cha con hẩm hiu sống
bên nhau, bửa có bửa không của thời gian phát động kinh tế mới ở những vùng đất
’khỉ ho cò gáy’ ít ai lai vãng, cha con Vạn cố gắng khắc phục sự khó và rồi
quen lần với phong thổ ở đây, đôi khi họ cũng quên luôn con chiên ngoan của Chúa.
Nhưng trên vòng cổ Thâu vẫn đeo giây Thánh giá như bùa hộ mạng. Tri chấp nhận
hoàn cảnh hôm nay như cuộc đổi đời, không còn mang trong lòng là kẻ thua cuộc mà
mang trong lòng một ý thức dấn thân để hòa đồng nhân ái với những người cùng khổ
và thiệt thòi như một chiến sĩ trước tuyến đầu; bởi trước và sau cuộc đời đã
cho Tri những bài học đau đớn, cả một thế giới lường gạt, ngu xuẩn, quên nước,
quên dân chỉ đâm đầu chạy vào tư kỷ riêng mình mà thực ra không cần phải làm điều
đó. Tri đang mông lung suy nghĩ, bỗng Vạn kêu giựt :
- Tao nghĩ chắc làm một lễ cưới
cho tụi bây. Trước giới thiệu bà con, sau che con mắt cú vọ của thằng cha công
an xã. Ông Vạn nói.
Thâu mong điều đó từ lâu. Mối tình đầu của Thâu tan vỡ cũng đi từ cái
giàu nghèo, tham quyền cố vị. Mà đành phải chia xa. Tình yêu thì không biên giới
mà đời thì luôn luôn có những hàng rào kẽm gai. Sợ tình yêu ăn trộm. Bây giờ Thâu
bình tâm trước cuộc tình mới, Thâu cảm thấy không mất cuộc tình đầu đời của mình,
từ khi dìu Tri ở rừng về nhà, nàng có cảm giác chàng như người yêu cũ của mình
ngày nào và cho Thâu một linh cảm: - tưởng như đã quen nhau. Định cư ở nơi đây;
Tri cảm thấy gần gũi, bao che cho nhau. Người và vật không khác ở quê nhà.
10 năm sau ông Vạn qua đời. Ông để lại căn nhà lá với mảnh vườn nho nhỏ
bao quanh ở chốn thâm sơn cùng cốc nầy, nơi ông đã đổ mồ hôi để có được một cơ
ngơi như ngày nay. Hình như ông Vạn mãn nguyện về những gì ông đã làm. Vợ chồng
Tri nhận ra được điều đó, họ thừa kế và gìn giữ dài lâu như cha ông để lại với
tâm hồn rộng mở biết yêu người, yêu đời như cuộc đời đang sống ở chốn xa.
Tri và Thâu có 3 mặt con. Từ đó Tri không bao giờ trở về quê cũ ./.
VÕ CÔNG LIÊM

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét