Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

Ảnh Lê Hoàng

            NẺO  ĐƯỜNG  QUÊ HƯƠNG


 Từ thuở xa xưa , con đường dài nhất của Việt Nam vẫn là con đường “ Cái Quan” . Trong nhạc phẩm trường ca của Phạm Duy đã dẩn dắt chúng ta đi từ Bắc vào Nam  qua các nẻo đường , sông ngòi , quê hương  và tự tình với những câu hò tiếng hát  ba miền .

    “ Thương người một cảnh  hai quê - Nẻo đi thì nhớ, nẻo về thì thương  (T. Đ) . Nguyển Bính cũng có ghi lại những lối đi quen “ Tôn nữ ngồi đan từng chiếc áo . Dân thường qua lại lối đi quen “ .
    Con đường  Cái quan nối liền   ải Nam Quan đến    mũi  Cà Mâu  trên hai ngàn cây số .
     Từ thời Trịnh - Nguyển phân tranh . Con sông Gianh đã chia cắt hai đàng . Rồi mãi tới năm 1954 . Chuyện chia cắt lại thêm một lần nữa . Con sông Bến Hải lại thay thế sông Gianh chia cắt đôi đường  kéo dài tới 20 năm sau  thì Việt Nam lại thông nối Nam -Bắc  một nhà . Chuyện chiến tranh , ý thức hệ hay nội chiến   cho dù nói theo cách nào đi nữa thì chiến tranh vẫn đem lại tàn khốc, đau khổ , chết chóc cho người dân Việt . Cho dù  bên này hay bên kia  thì ở đâu nơi nơi đều có tang thương cả.
     Theo sử sách để lại , được biết ngày xưa cái tên Đồng Hới (Quảng Bình ) chính tên là Động Hời , còn sông Gianh  còn gọi là sông Ranh ( chia ranh giới hai miền) .
    Động Hời : Có nghĩa là động của người Hời (Chàm) . Nguyên ở phía tây huyện Phong Lộc ( Quảng Ninh ) có một hòn núi tên là : Ông Hồi  hay là Hời , cách huyện hơn chừng 10 dặm  có định Bắc trường thành của Đào Duy Từ  cỡi lên trên . Cũng về phía tây đó  có khe   Động Hồi , bắt nguồn từ núi ông Hồi . Năm nhâm Dần (1662) , Nguyển hữu Dật sai Trương văn Vân  đem binh trá hàng binh của họ Trịnh , sau đó đánh phá kịch liệt binh họ Trịnh . Sau này ,những địa danh núi ông Hồi, và khe Động Hồi đã biến  tên thành ĐỒNG HỚI , theo phiên âm   Hán-Việt  Động Hải . Rồi sau đó người Pháp đọc là DONGHOI riết rồi dân chúng đọc thành ĐỒNG  HỚI . Tương tự như làng An Cư ở Thừa Thiên ( Huế) được người Pháp phiên âm thành  LANGCO , rồi  sau đó người dân đọc thành LĂNG CÔ ( Gần đèo Hải Vân) . Nơi đây có cảnh phong tình tuyệt đẹp . Trời mây, núi rừng và biển cả .

                 Thương thương ghé đến Lăng Cô
                  Tìm em gái nhỏ  đi mô không về ?
                  Non cao , mây trắng  buồn ghê
                  Xa xa lấp lánh  đêm khuya ánh đèn
                  Em ơi! Có nhớ anh chăng ?
                  Sao em đi mãi tháng năm  đợi chờ .
                                               Lê Hoàng

    Phía Nam Đồng Hới có lũy Trường Dục  hay còn gọi là lũy Hồi Văn  xuyên qua làng Xuân Dục, huyện Phong Lộc . Năm 1630 . Hoằng Quốc Công  Đào Duy Từ  dâng bản đồ để đắp một lũy dài từ trên núi Trường Dục  xuống đến bãi cát Động Hải , để làm kế phòng thủ .
      Năm Mậu Tí (1648) . Trịnh xua quân vào đánh , lúc ấy Trương Phúc Phấn cùng con trai là  Hùng , chung sức giữ vững  lũy Trường Dục  không  nao núng , cho nên về sau  thiên hạ gọi là lũy Phấn Cố Trì .
    Về phía đông nam có dinh cũ Võ Xá , ruộng nương bùn lầy rất sâu . Lúc quân Trịnh tiến đánh , quân nhà Nguyển  đánh bất ngờ  làm quân Trịnh  bị sa lầy … thất kinh bỏ chạy  cho nên mới có câu ca rằng :
       “Nhất khả ky hề Động Hải truờng lũy
       “Nhị khả ky hề Võ Xá nê điền .”
   Lại cũng có câu ca dao  trong dân gian thời đó :
      “ Khôn ngoan qua cửa song La ,
      “Đố ai có cánh bay qua lũy Thầy “

   Sông La cũng là tên sông Gianh , sông này chảy qua làng La Hà , phủ Quảng Trạch , còn lũy Thầy  do quân sư Đào Duy Từ (1572-1634) xây dưới thời chúa Sãi  Nguyển Phúc Nguyên (1562-1635)  từ núi Động Hồi tới sông Nhật Lệ , lũy cao một trượng , dài 30 dặm .
      Cũng có câu ca dao khác nhắc tới hai nơi này như :
           “ Ai về Đồng Hới , Lý Hòa
           “ Buồm giăng đôi ngọn , thương đà nên thương “

    Nói chuyện  thời  Hồng Đức  thứ 9. Năm 1478, vua Lê Thánh Tông  chinh phạt  Chiêm Thành , đóng quân nơi cửa biển Nhật  Lệ  có thơ rằng :
      “ Hiểu khóa lâu thuyền độ vỉ lư
      “ Phiên phiên chinh bái trú hà cừ
      “ Sa hàn địa lão tà dương ngạn
      “ Sương lẫm phong phi túc thảo khư
      “ Long ngự cữu truyền  Tiên Lý   tích
      “ Kình phong do ký Hậu Trần thư
      “ Chỉ kim Thiệu Bá tuần Nam Quốc
      “ Nhật tịch phong cương vạn lý dư “

    Tạm dịch  theo nghĩa :
       Sớm cởi thuyền lầu qua cửa biển
       Đóng quân trên bờ sông , cờ bay phất phới
       Cát lạnh, đất chai khi bóng xế
       Sương mù , gió thổi , cỏ gà hoang
       Vua Tiền Lý trú  nơi đây còn truyền thuyết
      Sử Hậu Trần còn ghi nơi đây dẹp tan sóng kình
      Đến nay Thiệu Bá đi tuần Nam Quốc
      Bờ cỏi mở rộng hơn muôn dặm 

Rời Quảng Bình  , chúng ta theo đường cái quan  vào tới Đông Hà , phía tây có một cái ao lớn gọi là Tây Trì  để đối với Đông Hà ( Sau này tên này còn đặt cho   gaxe lữa ) .
    Con sông chảy qua Đông Hà có tên là sông Hiếu Giang , chảy qua Cam Lộ , nên còn có tên là sông Cam Lộ , chảy mãi tới xã Điếu Ngao , cho nên khúc sông  dưới đó còn gọi là sông Điếu Ngao ( Ngao là nghiêu, sò, ốc hến). Theo Đại Nam nhất Thống chí , sông này khá dài chảy vào tới  sông Thạch Hãn  là con sông chính của tỉnh Quảng trị ( trước năm 1975)  rồi chảy dài về tới   Việt Yên tức là cửa Việt . Trên sông này có con ốc gạo nhỏ , nhưng ăn rất ngon .
      Ngao Cam Lộ , Ốc Thạch Hãn là hai thổ sản  của Quảng Trị  cho nên có câu đối ngộ nghĩnh như sau :
            Đông Hà  xúc hến hát nghêu ngao ( nghêu và ngao  cũng là hến)
            Tân Trúc trồng tre thở hoi hóp
( Câu trên có  hến và nghêu . Câu dưới có tre và hóp ( Hóp cũng là loại tre nhỏ ) Làng Tân Trúc thuộc huyện Cam Lộ  trồng nhiều trúc ( Quốc lộ 9 cây số 9 đường đi qua Lào)
      Cam Lộ có hai xã Cam Hiếu và Cam Giang , do dân địa phương căn cứ vào  tên sông mà đặt tên vậy .
    Theo nhà cổ học Claudius  Madrolle , danh từ Cam Lộ ( sương ngọt) là một cách Việt hóa tên của một bộ lạc Kha-Lu , một dân tộc gọi là Kha . Dân địa phương thường gọi là Cà Lơ ( Mọi) gốc từ MALAYO-Indonesien , đã chiếm cứ vùng này trước cuộc Nam tiến của dân tộc Việt .
     Từ trước Hiếu Giang là con sông ranh giới giữa Chiêm Thành và Đại Việt . Sau khi vua Lý Thánh Tông cử binh năm 1069 chinh phạt Chiêm quốc , họ phải dâng ba châu : Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính .
    Năm 1954 sau hiệp định  Genève  nước ta lại bị chìa đôi . Ngang vĩ tuyến 17 lấy sông Bến Hải làm ranh giới . Bến Hải , dân địa phương  còn gọi là bến Sai Hai  hay là bến Hói ( Hói là một con sông nhỏ) . tên chữ là Minh Lương , tiếp nhận sông Ô Giang  rồi chảy về cửa Tùng Luật. Hiện gọi là cửa Tùng . Ở đó có làng công giáo tên là DI LOAN  của cha Cả Léopold Cadière,một nhà bác học bậc thầy .
   Từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên chúng ta đi dần vào miền Nam  qua các tỉnh Quảng Nam, Ngải, Bình   Định , Phú Yên Khánh Hòa …. Cho tới Đồng Nai .
      Gia định thông chí  của Trịnh Hoài Đức ( 1765-1825) chúa Nguyển Phúc Chu (1691-1725)  vào năm Mậu dần (1698) cử một kinh lược   vào trấn đất Nông Nại ( Người Chân lạp gọi là : Daung Nay ) nay gọi là Đồng Nai . Đặt phủ Gia Định  rồi lập dinh trấn Biên ( Biên Hòa)  tại làng Phước Tư . Tại Sài Gòn lập huyện Tân Bình  và dinh của vị kinh lược   gọi là Phan Trấn dinh .
   Danh từ Nông Nại hay là Đồng Nai  là phần đất đã thiết lập phủ Gia Định , nhưng hiểu rộng ra thì danh từ ấy bao gồm  một xứ gọi theo tên chữ là Lộc Dã  hay Lộc Đồng có nghĩa là cánh đồng  có nhiều Nai  hiện nay chính là vùng Biên Hòa .
  Kể từ năm 1623 người Việt bắt đầu di dân vào Nam vào Mô Xoài ( Bà Rịa) nhờ chúa Sải Nguyển Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp  Chei Chetta  II . Sau Huyền Trân Công Chúa(1306) đem lại hai châu  Châu Ô và Châu Lý  tức là Thuận và Hóa về cho nước ta  do vua Chiêm Thành Chế Mân  dâng làm sính lễ , đến lượt công chúa Ngọc Vạn ngàn dặm ra đi , mở đường khai lối cho người Việt lũ lượt  vào Nam doanh cơ lập nghiệp .
    Thủ đô của người Chân Lạp thời đó là : Prei Kor ( Rừng Gòn)  được Việt âm hóa SÀI GÒN , Tây Cống ,  Đê Ngạn mà người Tàu đọc  Ngòn na ná giống Prei Kor thời xa xưa . Những địa danh liên tiếp chồng chất lên nhau , theo những lớp người , những đợt di dân qua bao giai đoạn lịch sử .
      Giữa dòng Đồng Nai có hòn cù lao Phố là căn cứ địa  đầu tiên của Hoa Kiều , thuộc nhóm Trần Thượng Xuyên , từ Trung Hoa chạy sang  xin tị nạn vào năm Kỷ Tị (1679) , không chịu làm tôi cho nhà Thanh  của Mãn Châu .
      Trong cù lao Phố có ngôi mộ lớn của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) gốc Minh Hương học trò của Võ Trường Toản đã từng phò tá vua Gia Long trong nhiều chức vụ thượng thư và đi sứ sang  Tàu để xin chuẩn nhận quốc hiệu Việt Nam và danh hiệu Gia Long .
     Bên bờ sông  Đồng Nai , gần đường xe lửa có đền thờ Nguyển Hữu Cảnh (1650-1700) tự là Kính, Lễ ( Lễ Thành Hầu) đã từng được vua  Nguyển Phúc Chu cử vào Nam làm kinh lược năm 1698. Ông là người có công lớn trong việc khai khẩn và bình trị xứ Đồng Nai , dân miền Hậu Giang còn ghi nhớ tên ông trong ca dao :

      “ Bao phen quạ nói với diều
      “ Cù Lao ông Chưởng có nhiều cá tôm” .
 Sông Đồng Nai nước ngọt, trộn với phèn ( cam thủy+đạm thủy ) của sông Tân Bình( sài Gòn) tại ngã ba Nhà Bè , trong sách nói là Phù Gia ( nhà nổi) Tam Giang Khẩu. Hai sông nhập  chí . Lúc đầu đặt ra  Trấn Biên ( Biên Hòa) và dinh Phan Trấn ( Gia Định) chưa có quan lộ dân phải đi đò dọc . Đầu bến phía Bắc là bến Sa Hà  thuộc Trấn Biên . Đầu bến phía Nam đặt tại Tân Long ( Chợ Lớn)  thuộc Phan Trấn . Chổ bến đò có cầu, để ghe thuyền đậu khi nước ròng , đợi nước lên mới đi được . Nhà bè còn lưu lại hai câu :
     “ Nhà Bè nước chảy chìa hai
     “ Ai về Gia Định , Đồng Nai thì về “

   Nay vì cuộc chiến Nam - Bắc phân tranh- Nội chiến – do thế lực quốc tế  gần một trăm năm  thuộc Pháp . Hai mươi năm  phân tranh . Máu đổ, xương rơi , tàn khốc và thống khổ. Con  dân Việt Nam hiện nay lưu vong khắp nơi trên thế giới . May mà chưa hờn  quốc như  xứ Chiêm Thành , Chân Lạp . Không biết tương lai đất nước Việt Nam có yên ổn  đê người dân tiếp tục cuộc sống bình an hay không ?  Thế lực  chính trị, mưu đồ  quốc tế  có  đưa đất nước chúng ta phải rồi đi vào con đưòng  bom rơi đạn xéo thêm một lần nữa hay không ? Mong rằng đất nước Việt Nam  sẽ bình  yên, an lạc và một ngày nào đó khắp bốn phương con cháu nhớ về tổ quốc – Quê hương và ngày đoàn tụ vui tươi hạnh phúc.

                                                                      Lê Hoàng

   Tham khảo : “ Việt Nam lược sử”  Trần Trọng Kim  .
                      :” Việt Nam gấm hoa” Thái văn Kiểm

                       “ Chiếc ấn cuối cùng dòng họ  nguyển” 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét