Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

[ Bài Do Nhà Thơ Lê Hoàng chuyển ]

Police use pepper spray to subdue kangaroo

.............................................
(1) Chuyện Thời sự & Xã hội
(i) Ns Tuấn Khanh: Đối diện con quái vật
Thái độ công dân đối với quốc gia mình, phản ánh rất nhiều điều để nghĩ. Nó có thể người tay hân hoan vỗ tay cười, và có thể khiến từng cá nhân gục mặt khóc âm thầm.
Tháng 11/2015, sau khi nước Pháp bị tấn công bởi quân IS, số lượng thanh niên xin tòng quân để bảo vệ tổ quốc và đáp trả lại những kẻ đã giết hại đồng bào mình tăng gấp bốn lần. Các cơ sở tuyển quân của Pháp cho biết họ bất ngờ trước các lời xin nhập ngũ và các thư thắc mắc về tiêu chuẩn nhập ngũ lên đến 1500 hồ sơ, mỗi tuần. Theo ước tính, từ đây đên năm sau, Pháp sẽ nhận thêm 25.000 tân binh nữa. Hầu hết các lý do trong đơn xin nhập ngũ, được ghi rõ rằng họ muốn bảo vệ tổ quốc mình.
Tổ quốc là cái gì đó rất mơ hồ, không cụ thể. Nhưng đứng trước những hình ảnh nơi sinh sống của mình đang lâm nguy, những người chung tiếng nói, quốc tịch của mình bị giết, bị đe doạ, ý thức về tổ quốc bừng dậy như một bản năng cao quý.
Nước Pháp không phải là ngoại lệ. Vụ khủng bố ngày 9/11/2001 ở Mỹ cũng đã khiến tinh thần ái quốc của người Mỹ đa chủng tộc lên cao bất ngờ. Các thống kê cho thấy chỉ một tháng sau vụ đánh vào toà tháp đôi, trangmlive.com cho biết hàng chục ngàn thanh niên đã xin đăng lính vào nhiều binh chủng, đặc biệt ghi rõ là họ sẵn lòng đi đến bất cứ nơi đâu để tiêu diệt kẻ tấn công vào đất nước mình, người dân của mình. Năm 2002, nước Mỹ đón nhận thêm 80.000 tân binh. Tình trạng bùng nổ bất ngờ này làm gợi nhớ số lượt đăng lính tăng vọt sau vụ người Nhật tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào năm 1941.
Đọc những tin tức này, những ai yêu lẽ phải và mang trong mình lòng tự hào dân tộc đều có thể ứa nước mắt vì xúc động. Dâng hiến cuộc sống cho tổ quốc mình và giờ phút nguy nan, là niềm hãnh diện và cao quý mà không phải nền giáo dục nào, văn hoá nào cũng có thể may mắn có được.

Đã từ nhiều năm nay, các bản tin về tàu Trung Quốc tấn công ngư dân Việt mỗi lúc càng nhiều, càng hung hãn. Tàu “bạn hữu nghị” từ phương Bắc tràn xuống, cướp, giết, bắt cóc… kể cả bao vây đường biển của Việt Nam – nói chính xác là một cuộc xâm lăng trong thời đại mới. Thanh niên Việt trong đời sống xã họi chủ nghĩa đã làm gì?
Thật kinh ngạc, tăng dần theo thời gian là số lượng cha mẹ đưa con cái đi du học, đi xa đất nước như một cuộc đào thoát lớn lao và kiên nhẫn, bao gồm trong đó là các bậc phụ huynh có chức vụ, miệng luôn hô hào xây dựng đất nước và tồn tại hoà bình, 16 chữ vàng với Bắc Kinh.
Bối cảnh Việt Nam luôn thấp thỏm trước các lời đe doạ sẽ bị tiến và chiếm trong 24 giờ của báo chí chính thống Trung Quốc, thì thống kê cho thấy nạn trốn nghĩa vụ quân sự cũng tăng cao bất ngờ. Thậm chí. Trên các trang mạng xã hội, giới thanh niên nồng nhiệt bàn với nhau cách trốn nghĩa vụ quân sự. Thậm chí cẩm nang có 17 cách thoát chuyện đi lính được chia sẻ khắp nơi. Mệt mỏi đối phó với tình trạng này, năm 2013, Trung tướng Trần Đình Nhã, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội cũng đã từng đề nghị cho phép hợp pháp việc không phải đi lính, bằng việc đóng tiền thế thân.
Quả là một nghịch cảnh mà lịch sử Việt Nam từ thời sơ khai đến giờ mới có. Một dân tộc từng đánh bại mọi quân đội ngoại bang, ngay cả lúc túng cùng nhất, lại rơi vào thảm cảnh như vậy. Lẽ nào dân tộc Việt Nam hôm nay không còn yêu nước, hay không còn tin vào những món hàng vũ trang quân sự “khủng” hàng đầu thế giới vẫn được thông tin là đã về đến, đã trang bị cho cho quân đội nước mình?
Đây là một vấn đề thật đáng suy nghiệm lâu dài, nhưng để trả lời nhanh, rõ ràng con người đang mất niềm tin. Trong mọi sự hy sinh cho tổ quốc mình, chắc chắc nhân dân không ngại, nhưng họ muốn sự dâng hiến của mình phải có ý nghĩa. Và thật là ngu ngốc, nếu chết không cho ai, để làm gì, và chết thay một cách ngu ngốc.

Ngày 29/11/2015, thêm một ngư dân Việt bị bắn chết thảm thương trên biển ở Trường Sa, Quảng Ngãi. Ông bị bắn không có thông báo, không có lời cảnh cáo, bị bắn đến 2 phát đạn vào một cơ thể chỉ biết quăng lưới và thả câu. Người ngư dân này bị bắn chết trên biển, bởi niềm tin được thúc giục từ các nhà lãnh đạo trên bờ vẫn thúc giục rằng hãy cứ ra khơi và cứ đánh bắt như một cách “thực thi chủ quyền của tổ quốc”.
Những người còn sống hãi hùng đã đưa thi thể của người ngư dân này về đất mẹ, thật cô đơn, vì bởi hàng trăm hải lý đầy kẻ thù đó, cũng có những tàu cảnh sát biển đi tuần tra “khống”, báo cáo láo để ăn tiền dầu, tiền hoạt động, để vui vẻ an sinh trên bờ. Người ngư dân bị bắn chết ngày 26/11, đến ngày 30 thì thi thể mới giao được cho gia đình. Thế nhưng trong những ngày di chuyển về nhà, chiếc tàu này thật cô đơn vì chỉ có một mình, dù đã báo với bộ đội biên phòng chuyện mình bị tấn công và có người tử nạn. Không có tàu kiểm ngư nào ra đón, không có ai đi cùng nỗi kinh hoàng của họ trong chuyến quay về. Mọi trang thiết bị hiện đại trên biển luôn được tuyên truyền, như chỉ nặng phần trình diễn cùng sự thờ ơ của chính quyền.

Dân tộc Việt Nam hôm nay mới đáng thương làm sao, đi biển mà yếu ớt như trẻ nhỏ. Ai cũng có thể bắt nạt. Ai cũng có thể cướp và giết. Láng giềng thì mặt cười thân thiện, quay lưng thì tay súng, tay dao. Nhưng đáng thương hơn bao giờ hết là chuyện ngư dân chết trên biển đã ngày càng nhiều và thường hơn, còn những người trên bờ nghe chuyện tang thương ngoài khơi, giờ chỉ mệt mỏi, nhíu mày thương hại mà cũng không thấy cần phải làm gì. Người Việt Nam như đang được các chính sách đối ngoại của chế độ tập quen dần thói quen ích kỷ, sợ mình bị mất mát, nhưng lại im lặng và chọn lựa thay thế bằng mất mát của những ngư dân nghèo khó. Nó giống như những câu chuyện cổ tích về các ngôi làng xưa phải hiến tế ai đó cho con quái vật để được yên. Vẫn có những người tin rằng việc hiến tế không bao giờ đến lượt mình, và mỗi ngày vẫn ăn ngon ngủ yên với những con cá đẫm máu đồng loại. Họ không muốn một cuộc chiến đối diện thẳng với con quái vật vì chỉ sợ mất mát cho riêng họ.
Cũng như những ngôi làng khiếp nhược và u mê ấy, có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng chúng ta sẽ mất – mất rất nhiều – thậm chí mất tất cả, mà các loại quái vật không cần mất sức cho bất kỳ một cuộc chiến tranh nào.
Và những người lãnh đạo ngôi làng, nếu không có dũng khí để đối diện với cái ác để bảo vệ mọi người, thì họ tồn tại để làm gì? (Nguồn:https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2015/12/02/doi-dien-con-quai-vat/)
(ii) Ts Nguyễn Hưng Quốc: Việt Nam và Trung Quốc
Lâu nay, để biện hộ cho chính sách nhường nhịn đến nhu nhược trước những hành động xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc, chính phủ Việt Nam thường nêu lên ba lý do chính : Thứ nhất, về địa lý, Việt Nam nằm cạnh Trung Quốc nên ít nhiều phải chịu đựng Trung Quốc để có được hoà bình ; thứ hai, về ý thức hệ, Việt Nam và Trung Quốc đều theo chủ nghĩa xã hội, và do đó, đều là "đồng chí" của nhau ; và thứ ba, về lịch sử, Việt Nam từng chịu ơn Trung Quốc rất nhiều trong hai cuộc chiến tranh (chống Pháp, 1949-1954, và chiến tranh Nam Bắc, 1954-1975) trước đây. Những sự biện hộ ấy liệu có sức thuyết phục ?
Theo tôi thì không.
Trước hết, không ai phủ nhận Việt Nam vốn có hơn 1000 cây số chung biên giới với Trung Quốc, do đó, không thể không chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Tuy nhiên ở đây có hai điều nên nhớ : Mộtngày xưa, cha ông chúng ta cũng từng chung biên giới với Trung Quốc nhưng vẫn giữ được độc lập và chủ quyền của quốc gia. Không kể một ngàn năm Bắc thuộc, chỉ tính từ ngày độc lập (thế kỷ thứ 10), Trung Quốc từng âm mưu thôn tính Việt Nam gần cả chục lần, nhưng tất cả đều bị đánh bại. Hai, không phải nước nào gần Trung Quốc cũng đều cam chịu những sự ngang ngược của Trung Quốc. Đất rộng, ngoài Việt Nam, Trung Quốc có chung biên giới với 13 quốc gia khác, trong đó, trừ hai nước lớn là Nga và Ấn Độ, tất cả các nước khác, nhỏ hơn, vẫn giữ được vị thế độc lập với Trung Quốc. Tấm gương rõ nhất là Miến Điện, nước có hơn 2000 cây số chung biên giới với Trung Quốc, từng chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng mấy năm gần đây, vẫn thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc để bắt đầu dân chủ hoá. Ngay cả Bắc Hàn, nước có đường biên giới dài nhất với Trung Quốc, lệ thuộc Trung Quốc rất nhiều về kinh tế, vẫn giữ được ít nhiều sự độc lập với Trung Quốc về phương diện chính trị. Bởi vậy, sự gần gũi về phương diện địa lý không hề là yếu tố tất yếu dẫn đến sự lệ thuộc.
Thứ hai, việc hai quốc gia cùng theo chủ nghĩa xã hội không bảo đảm hoà bình và tôn trọng chủ quyền của nhau. Trước đây, các quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa, kể cả hai nước đứng đầu là Trung Quốc và Liên Xô, cũng thường xuyên xung đột, có khi là xung đột vũ trang, với nhau. Hai cuộc chiến tranh gần đây nhất của Việt Nam cũng là hai cuộc chiến tranh với hai nước xã hội chủ nghĩa : Campuchia (1978) và Trung Quốc (1979). Trong cuốn Imagined Communities : Reflections on the Origins and Spread of Nationalism (1983), Benedict Anderson cho hai cuộc chiến tranh ấy là bằng chứng rõ nhất cho thấy, đối với mọi quốc gia, quyền lợi dân tộc quan trọng hơn hẳn vấn đề ý thức hệ. Hầu hết các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đều có kinh nghiệm trực tiếp về hai cuộc chiến tranh ấy, họ không thể không biết điều đó. Hơn nữa, hầu như ai cũng biết, cái gọi là chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, thật ra, chỉ là một chiêu bài nhằm nguỵ trang một chế độ độc tài toàn trị mà thôi. Nó không còn là những niềm tin thực sự để người ta, vì nó, bỏ qua những mâu thuẫn về quyền lợi với nhau.
Thứ ba, về chuyện ân nghĩa. Quả thật, từ năm 1950 đến 1975, Trung Quốc từng giúp đỡ Bắc Việt rất nhiều. Họ không những cung cấp vũ khí, quân trang, quân dụng mà còn cung cấp cả thực phẩm cho dân chúng và bộ đội miền Bắc. Họ đưa phi công sang Việt Nam để huấn luyện các phi công Việt Nam. Trong vòng mấy năm, từ 1965 đến 1969, họ còn đưa cả mấy trăm ngàn kỹ sư và công nhân sang để giúp Việt Nam xây dựng cả trăm cây số đường sắt, xây dựng cả hàng chục chiếc cầu và đường hầm, v.v… Theo thoả ước giữa giới lãnh đạo hai bên, nếu lính Mỹ chỉ giúp quân đội miền Nam chống lại các cuộc tấn công của miền Bắc, Trung Quốc chỉ giữ vai trò là hậu phương của miền Bắc, chủ yếu là cung cấp toàn bộ những gì miền Bắc cần để tiến hành chiến tranh. Nếu Mỹ dùng hải quân và không quân để tấn công miền Bắc, Trung Quốc cũng sẽ đưa hải quân và không quân sang Việt Nam. Nếu Mỹ xua quân sang đánh chiếm miền Bắc, Trung Quốc cũng sẽ đưa bộ binh sang để trực tiếp đối đầu với Mỹ. Nói chung, Trung Quốc xem cuộc chiến tranh ở Việt Nam như là cuộc chiến tranh của chính họ. Có thể nói, nếu không có những sự trợ giúp tích cực của Trung Quốc, Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc) sẽ không có Điện Biên Phủ và ngày 30 tháng Tư 1975. Giới lãnh đạo cộng sản biết ơn Trung Quốc kể cũng phải.

Tuy nhiên, quan hệ chính trị giữa hai quốc gia khác quan hệ ân tình giữa các cá nhân trong đời thường. Trong quan hệ liên cá nhân, người ta giúp đỡ nhau có khi chỉ vì lòng tốt. Trong quan hệ liên quốc gia, mọi sự giúp đỡ đều xuất phát từ quyền lợi. Nói cách khác, Trung Quốc giúp miền Bắc chủ yếu là vì chính họ hơn là vì miền Bắc. Theo Chen Jian, trong bài "China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-1969" (đăng trên The China Quarterly, số 142, 1995), lý do khiến Trung Quốc nhiệt tình giúp miền Bắc có thể tóm gọn vào ba điểm chính :
Một là, sau sự thất bại của chiến dịch Đại nhảy vọt vào cuối thập niên 1950, uy tín của Mao Trạch Đông xuống thấp. Để củng cố lại quyền lực của mình, Mao muốn đóng vai trò một người kiên quyết chống lại chủ nghĩa đế quốc và người thúc đẩy cuộc cách mạng vô sản đến cùng qua việc ủng hộ cuộc chiến tranh "chống chủ nghĩa thực dân mới" ở Việt Nam. Qua động thái ấy, ông cũng đồng thời phê phán một số nhân vật lãnh đạo trong đảng, như Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, là theo chủ nghĩa xét lại và muốn hoà hoãn với Mỹ.
Hai là, qua việc giúp đỡ Việt Nam, Trung Quốc muốn tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô. Tuy là cùng theo chủ nghĩa xã hội, quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô từ giữa thập niên 1950, kể từ sau đại hội đảng lần thứ 20 của đảng Cộng sản Liên Xô, càng ngày càng căng thẳng. Dưới mắt Mao Trạch Đông, việc phê phán Stalin của Nikita Khrushchev là một hành động "xét lại", nhằm tái phục hồi chủ nghĩa tư bản ở Nga. Sang đầu thập niên 1960, hai bên công kích nhau kịch liệt. Qua việc giúp đỡ miền Bắc, Trung Quốc nhắm đến hai điều : lôi kéo miền Bắc vào quỹ đạo của Trung Quốc và chứng minh cho Liên Xô và cả thế giới thấy Trung Quốc mới thực sự là cộng sản với chủ trương cách mạng không ngừng.
Ba là, cũng qua việc giúp đỡ miền Bắc, Trung Quốc muốn đóng vai người lãnh đạo của khối xã hội chủ nghĩa trong công cuộc chống lại "đế quốc" Mỹ ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Họ muốn chuyển trục của chủ nghĩa xã hội từ Moscow sang Bắc Kinh. Họ cũng muốn xuất khẩu học thuyết lấy nông thôn bao vây thành thị trong sách lược chiến tranh của Mao Trạch Đông sang Việt Nam, và từ đó, đến các nước khác.
Tôi muốn thêm một lý do này nữa : Trung Quốc bảo vệ miền Bắc để bảo vệ biên giới phía Nam của Trung Quốc. Điều Trung Quốc sợ nhất là các chế độ được Mỹ ủng hộ tiến sát đến biên giới nước mình. Đó là lý do tại sao Trung Quốc tung quân ra bảo vệ Bắc Triều Tiên trong cuộc chiến tranh kéo dài ba năm với Nam Triều Tiên vào đầu thập niên 1950. Trung Quốc giúp miền Bắc tấn công miền Nam Việt Nam cũng cùng một lý do.

Nói một cách tóm tắt, việc Trung Quốc tận lực giúp miền Bắc trong cuộc chiến chống lại miền Nam chủ yếu xuất phát từ quyền lợi của chính Trung Quốc. Đó không phải là một ân nghĩa để khiến Việt Nam bây giờ phải nhường nhịn trước những hành động lấn chiếm hay gây hấn ngang ngược của Trung Quốc trên biển và đảo của Việt Nam. Hơn nữa, ngay cả đó là ân nghĩa thật, không ai có quyền đem độc lập và chủ quyền quốc gia để đền đáp. (Nguồn : VOA, 01/12/2015)
(iii) Dân Trí: Xúc động trước lá thư ông chủ Facebook gửi con gái mới chào đời
Chào đón sự ra đời của con gái đầu lòng, ông chủ Facebook - Mark Zuckerberg - đã cam kết hiến tặng 99% cổ phần Facebook của mình (tương đương 45 tỉ đô la) để làm từ thiện thông qua một lá thư ngỏ đầy cảm xúc gửi tới cho con gái mới sinh.
Báo chí thế giới hiện đang đồng loạt đưa tin về việc người sáng lập ra mạng xã hội Facebook - Mark Zuckerberg - tuyên bố sẽ hiến tặng 99% cổ phần Facebook để phục vụ cho các mục đích từ thiện. Tuyên bố này được đưa ra khi vào ngày thứ 3 vừa qua, Zuckerberg và vợ - cô Priscilla Chan đã đón con gái đầu lòng - Max.
Tổng trị giá số cổ phần mà Zuckerberg dự kiến hiến tặng hiện có trị giá vào khoảng 45 tỉ đô la. Tất cả những điều này họ làm vì sự ra đời của cô con gái nhỏ - Max. Một lá thư xúc động đã được ông chủ Facebook đăng tải lên trang cá nhân với một tiêu đề giản dị: “Lá thư gửi tới cho con gái của chúng tôi”:
Lời dẫn của Zuckerberg đề rằng: Priscilla và tôi rất hạnh phúc chào đón con gái Max đến với thế giới này! Nhân sự kiện con gái của chúng tôi chào đời, chúng tôi viết một lá thư gửi tới cho Max để nói về thế giới mà chúng tôi kỳ vọng Max sẽ trưởng thành từ đó.
Đó là một thế giới nơi chúng ta có thể phát triển những tiềm năng của con người và thúc đẩy sự bình đẳng - bằng những việc hữu ích như chữa trị bệnh tật, chuyên biệt hóa việc học, sản xuất năng lượng sạch, kết nối con người, xây dựng cộng đồng gắn kết, giảm thiểu nghèo đói, đưa lại công bằng luật pháp và đem tới sự thấu hiểu giữa các dân tộc.
Chúng tôi đang tận tâm thực hiện phần việc nhỏ bé của mình để giúp tạo nên một thế giới lý tưởng như vậy cho tất cả trẻ em. Chúng tôi sẽ hiến tặng 99% cổ phần Facebook của mình - hiện tại có trị giá vào khoảng 45 tỉ đô la - để trong suốt cuộc đời mình, chúng tôi sẽ cùng tham gia với những người khác cải thiện thế giới này cho thế hệ tiếp theo.
Cảm ơn tất cả các bạn vì tình cảm và sự động viên mà các bạn đã dành cho chúng tôi trong suốt thời kỳ Priscilla mang thai. Các bạn đã đem lại cho chúng tôi hy vọng rằng cùng với nhau, chúng ta có thể xây dựng thế giới lý tưởng cho Max và cho tất cả các trẻ em khác.
Dưới đây là Lá thư khá dài của Zuckerberg gửi cho con gái nhỏ mới chào đời:
Chào Max,
Mẹ và cha không có lời nào để nói hết niềm hy vọng về tương lai mà con đã đem lại cho chúng ta. Cuộc đời mới mẻ của con ngập tràn kỳ vọng, và chúng ta hy vọng con sẽ hạnh phúc, khỏe mạnh để có thể khám phá thế giới này một cách toàn diện. Con đã cho chúng ta lý do để suy nghĩ về thế giới mà chúng ta muốn con được lớn lên trong đó.
Giống như tất cả các bậc cha mẹ, chúng ta muốn con được lớn lên trong một thế giới tốt đẹp hơn thế giới của chúng ta hôm nay.
Trong khi tin tức thường tập trung vào những điều tiêu cực, thực tế, thế giới này vẫn đang trở nên tốt đẹp hơn. Sức khỏe được cải thiện. Nghèo đói đã giảm đi. Kiến thức được nhân rộng. Con người được kết nối. Công nghệ luôn phát triển. Những điều đó đảm bảo rằng cuộc sống của con sẽ tốt hơn rất nhiều so với cuộc sống của chúng ta hôm nay.
Chúng ta sẽ làm phần việc của mình để thế giới này tiếp tục tốt đẹp hơn, không phải chỉ bởi chúng ta yêu con, mà còn bởi chúng ta có trách nhiệm đối với tất cả trẻ em của thế hệ tiếp theo. […]
Hy vọng của chúng ta đặt vào thế hệ của con tập trung vào hai điều quan trọng: phát triển tiềm năng con người và thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng.
Phát triển tiềm năng con người nghĩa là đẩy lùi các giới hạn định nghĩa cho một cuộc đời tốt đẹp.
Liệu con có thể học và trải nghiệm nhiều gấp 100 lần chúng ta hôm nay? Liệu thế hệ của con có thể chữa được mọi bệnh tật để con người có thể sống lâu và sống khỏe? Liệu chúng ta có thể kết nối cả thế giới để con có cơ hội tiếp cận với mọi ý tưởng, mọi con người và mọi cơ hội? Liệu chúng ta có thể tạo ra những nguồn năng lượng sạch để con có thể sáng tạo ra nhiều thứ mà chúng ta chưa có hôm nay, nhưng vẫn đồng thời bảo vệ môi trường? Liệu chúng ta có thể xây dựng những doanh nghiệp sẵn sàng chung tay xử lý những thách thức đối với hòa bình và thịnh vượng của nhân loại?
Thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng nghĩa là đảm bảo rằng mọi người đều được tiếp cận với những cơ hội kể trên, bất kể quốc tịch, xuất thân của họ. […]

Nếu thế hệ của chúng ta đầu tư đúng đắn, câu trả lời cho mọi câu hỏi ở trên đều sẽ là “có”, và hy vọng những điều tốt đẹp đó sẽ kịp đến để chúng ta có thể chứng kiến trong quãng đời hạn hẹp của mình.
Sứ mệnh này đòi hỏi một cách tiếp cận mới. Chúng ta phải đầu tư dài hạn trong vòng 25, 50 hoặc thậm chí 100 năm. Những thử thách lớn lao nhất đòi hỏi tầm nhìn dài hạn và không thể giải quyết bằng những toan tính ngắn hạn. […] Chúng ta phải mạo hiểm hôm nay để học được những bài học cho ngày mai. […]
Thế hệ của chúng ta hôm nay lớn lên trong những lớp học nơi tất cả học sinh cùng học những thứ giống nhau với cùng một tốc độ như nhau, bất kể hứng thú và nhu cầu của mỗi người là gì.
Thế hệ của con sẽ tự mình lập mục tiêu cho điều mà con muốn đạt được… Con sẽ có công nghệ thông minh hiểu được cách giúp con học tốt nhất và hiểu con cần tập trung vào điều gì. Con sẽ tiến bộ nhanh chóng trong những lĩnh vực mà con hứng thú, và sẽ nhận được sự hỗ trợ cần thiết trong những lĩnh vực khó khăn đối với con. Con sẽ được khám phá những chủ đề thậm chí còn chưa được đề cập ở các trường học hôm nay. Giáo viên cũng sẽ có những công cụ và thông tin tốt hơn để giúp con đạt được những mục tiêu của mình. […]
Rất nhiều cơ hội tuyệt vời cho thế hệ của con sẽ đến từ internet. Người ta thường nghĩ internet chỉ là để giải trí và giao lưu. Nhưng đối với nhiều người trên thế giới này, internet còn là sợi dây huyết mạch. Nó đưa lại tri thức, thông tin sức khỏe, dịch vụ ngân hàng, cơ hội việc làm… Cứ 10 người có kết nối internet, lại có 1 người thoát khỏi đói nghèo và 1 người tìm được công việc mới.
Nhưng hơn nửa dân số thế giới - khoảng hơn 4 tỉ người - vẫn chưa được kết nối với internet. Nếu thế hệ của chúng ta có thể kết nối họ, chúng ta có thể đưa hàng trăm triệu người thoát khỏi đói nghèo, giúp hàng trăm triệu trẻ em được học hành và cứu sống hàng triệu sinh mạng bằng cách giúp họ biết cách phòng tránh bệnh tật. […]. Cùng với nhau chúng ta có thể thành công và tạo nên một thế giới công bằng, bình đẳng hơn.
Công nghệ không thể tự thân giải quyết những vấn đề này. Xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn bắt đầu từ việc xây dựng những cộng đồng gắn kết và khỏe mạnh. Để thế hệ của con được sống trong một thế giới tốt đẹp hơn, còn rất nhiều điều mà thế hệ của chúng ta phải làm.
Ngày hôm nay, cha mẹ hứa sẽ dành cả cuộc đời mình để thực hiện phần việc nhỏ bé mong giúp giải quyết những thách thức này. […]
Max, cha mẹ yêu con và cảm thấy mình có trách nhiệm chung tay giúp thế giới này trở nên tốt đẹp hơn cho con và cho tất cả trẻ em. Cha mẹ hy vọng con sẽ có một cuộc đời ngập tràn yêu thương, hy vọng và hạnh phúc như con đang đem lại cho cha mẹ. Chúng ta hồi hộp chờ đợi những điều con sẽ mang lại cho thế giới này.
Yêu con,
Cha và Mẹ
(iv) Le Figaro số cuối Tuần 28/29-11-2015: Luật Chúa trong kinh Coran là trọng tâm của Hồi Giáo
(Phong Uyên chuyển ngữ và giới thiệu)
Theo một Viện sĩ Hàn lâm viện Pháp: Luật Chúa trong kinh Coran là trọng tâm của Hồi Giáo
Khác với Thánh kinh của người Do Thái và Phúc âm của người Kitô giáo, được coi là do người viết lại theo sự gợi ý của Chúa, kinh Coran được mọi người Hồi giáo coi là Lời nói độc nhất về Luật của Chúa ban cho mọi người, được thiên thần Gabriel đọc lại bằng tiếng Ả Rập cho đấng tiên chi Mahomet để tất cả loài người trên trái đất phải tuân theo cho đến khi tận thế. Vì kinh Corran là lời nói độc nhất của Chúa bằng tiếng Ả Rập, nên kinh chỉ được đọc bằng tiếng Ả Rập và những bản dịch ra những tiếng khác đều không bao giờ được đọc một cách chính thức.
Sự coi kinh Coran là sáng tác độc nhất bằng tiếng Ả Rập của đức Chúa Trời, đã có đời đời ở trên trời trước khi được truyền xuống trái đất, đưa tới ba hệ quả về thần học đối với người Hồi giáo:
 Hệ quả thứ nhất: Người Hồi giáo không được giải nghĩa kinh Coran theo nghĩa bóng hay tùy theo trường hợp, mà chỉ được bình chú theo nghĩa đen để hiểu ý Chúa muốn nói gì cho đời đời.
 Hệ quả thứ hai: Người Hồi giáo cố ý nhắm mắt không nhìn thấy là tiếng Ả Rập trong kinh Coran chịu ảnh hưởng văn chương của rất nhiều từ ngữ tiếng những dân tộc khác như Ba tư, Do thái, , Syria, Êtiopi, Latinh, Hi Lạp. Vì một khi đã cho tiếng Ả Rập trong kinh Coran là tiếng thuần túy của Chúa đã có từ đời đời, thì khó có thể chấp nhận được một sự thật hiển nhiên là kinh Coran ra đời sau những kinh khác, sau những áng văn chương của những dân tộc khác, tất nhiên là phải chịu ảnh hưởng văn hóa của những dân tộc này.
 Hệ quả thứ ba: Hồi giáo không thể giảng nghĩa được , nếu đã coi kinh Coran là lời nói của Chúa, thì vì sao cũng cùng trong kinh Coran lại có những lỗi lầm, những lời nói trái ngược nhau, ngay trong những câu sát cạnh nhau: chẳng hạn như Câu (Sourate 4, 78) "Tất cả đều đến từ Chúa", thì ngay sau câu đó có Câu " Điều tốt đến với mi từ Chúa, điều xấu đến với mi từ ở chính mi ". Hệ quả này rất trầm trọng vì không thể giải thích được tại sao những lời nói của Trời, không do người đặt ra, mà lại tiền hậu bất nhất như vậy.

Sau vụ thảm sát ngày 13-11-2015 tại Paris, phóng viên nhật báo Le Figaro (1), bà Marie-Laetitia Bonavita có hỏi ông Rémi Brague, một viện sĩ hàn lâm viện Pháp, chuyên về triết học Hi Lạp và triết học Trung cổ Ả Rập và Do thái, giải thích làm sao sự những người thánh chiến Hồi giáo (les djihadistes) lại nhân danh Chúa gây ra nhũng cuôc khủng bố đẫm máu tại Paris tháng Giêng và tháng 11 vừa rồi. Tôi xin trích dịch dưới đây những phần chính của cuộc phỏng vấn này:
Le Figaro: Những người Djihađit, nhân danh Allah, làm những cuộc khủng bố tháng Giêng và ngày 13-11 vừa rồi, có liên quan gì đến Hồi giáo không?
Rémi Brague: Tôi không có quyền nghi ngờ sự thành thật của những người này về Hồi giáo của họ tuy họ chỉ là một thiểu số. Và tôi cũng không có những thống kê chính xác để biết thiểu số đó là bao nhiêu. Những người Djihađit này đều nhắc lại là đấng tiên chi Mahomet đã cho họ một ' thí dụ rất đẹp " (Coran XXXIII, 21) khi ra lệnh ám sát tất cả những thù địch của mình, khi tra tấn người thủ quỹ của một bộ lạc đã bị thua để người này phải phun ra nơi đã giấu tiền v.v... Những người này cũng kể lại là trong tiểu sử của đấng Tiên chi có đoạn đề cao trường hợp Umayr Ben al-Humam, một dũng sĩ trẻ tuổi đã tự lao mình chết trong đám quân địch đông hơn để được lên thẳng thiên đàng. Những djihadit ngày nay mang vòng đai thuốc nổ cũng chỉ bắt chước vị liệt sĩ này.
Le Figaro: Làm sao giảng nghĩa được là đạo Hồi có vẻ chỉ chú trọng về hình thức (trang phục, đồ ăn...) và rất khó chịu khi phải tuân theo luật của chế độ cộng hòa?
Trong đạo Hồi, những điều lệ của cuộc sống hàng ngày đều có tính cách bắt buộc đối với tất cả mọi người. Những điều lệ, luật lệ này đều đã được tự Chúa đọc cho mọi người phải theo và phải hiểu theo nghĩa đen của từng chữ. Thử hỏi có một chế độ cộng hòa nào có thể được coi là có đủ kilô để chống lại luật của Chúa?
Le Figaro: Giáo hoàng nói là kinh Coran chống sự dùng võ lực. Ông có cùng một quan điểm đó không?
Giáo hoàng đã đọc kinh Coran chưa? Đúng là trong Coran có những đoạn nói rất hòa hảo, kêu gọi mọi người bàn luận trong lễ độ v.v.. tuy những đoạn này rất giới hạn. Chẳng hạn như Tiết (Verset) nhắc lại đoạn trong kinh Talmud của người Do thái (bSanhedrin 37a) là giết một người bằng giết cả nhân loại (V, 32). Nhưng cũng ngay sau đó có chua thêm một câu là Tiết đó không áp dụng với "những kẻ gieo rắt sự tồi bại (fasàd) trên trái đất". Vậy cái tồi bại này được hiểu theo nghĩa nào? Và ai là người quyết định người nào sẽ bị kết cái tội tồi bại này? Thật ra những đoạn hòa hảo chỉ có ở trong Coran thời khởi đầu, khi Mahomet giảng đạo ở La Mecque trước một cử tọa lãnh đạm hay thù địch, để lôi kéo những nhóm theo những đạo giáo khác. Trong thời kỳ thứ hai ở Médine thì Mahomet đã trở thành một thủ lãnh chính trị và quân sự. Khi đó Mahomet chỉ lo dùng võ lực để chiến thắng, hạ những kẻ thù địch, bắt họ phải đóng thuế cho mình. Vấn đề là bắt đầu từ thời kỳ đó, những đoạn hòa hảo vẫn được tụng niệm nhưng chỉ lấy lệ chứ đã bị thay bằng những đoạn khá hung bạo sau này khi ở Médine.
Le Figaro: Kinh Coran coi thế nào vai trò của đàn ông và đàn bà? Sự đó có thể thích hợp vói ý tưởng bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà trong xã hội Tây phương không?
Sự bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà trong xã hội của chúng ta vẫn chưa được hoàn hảo trong thực tế. Nhưng nó đã bắt đầu từ trong Tân ước rồi để được tiếp tục sau này trong luật lệ của chúng ta. Kinh Coran ban cho đàn bà giá trị của một nửa người đàn ông: phải 2 người đàn bà làm nhân chứng mới bằng một người đàn ông (II, 282), và một người con gái chỉ được hưởng gia tài bằng một phần nửa gia tài của một người con trai (IV, II).
Le Figaro: Sự bắt buộc phải trùm khăn có nằm trong những giáo điều của kinh Coran không?
Sự bắt buộc đó nằm trong 2 Tiết Chúa đọc cho Mahomet: "Nói với những tín nữ là phải lấy khăn che mặt che luôn cả ngực" (XXIV, 31) và "... Nói với những người vợ của mi, với những người con gái của mi và những vợ của những thiện nam là phải trùm khăn (gilbàb). Thánh Paul của Kitô giáo cũng có nói như vậy trong thư gửi cho những người thành Corinthe (1 Corinthiens, II, 5). Nhưng thánh Paul chỉ là một con người, sống ở một thời kỳ mà phụ nữ đi ra ngoài không trùm khăn là một sự đáng hổ thẹn. Đối với kinh Coran, không thể suy luận như vậy được vì một lẽ dễ hiểu, đó là luật của Trời. Trời là vĩnh hằng, quán thế, biết hết mọi chuyện, nên cũng biết tiên liệu tất cả mọi trường hợp. Nếu Trời đã phán "Mọi ngừoi đàn bà đều phải trùm khăn", thì phải trùm khăn và phải được hiểu theo nghĩa đen chứ Chúa không nói bóng gió gì cả: khăn là một cái khăn thật, bằng vải. Người trùm khăn chỉ được quyền thắc mắc là cái khăn Trời muốn đó dài hay ngắn? Trong vắt hay dày đặc? Phần nhiều những giải nghĩa về những câu trong kinh Coran chỉ đại loại để trả lời những câu hỏi kiểu đó.
Kết luận
Theo kinh Coran, cả ba đạo Thiên chúa: Do thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, đều cùng một ông tổ là Abraham, đều thờ cùng một Thượng đế, đều cùng một Thánh kinh, nên Coran gọi những đạo này là những đạo cùng Kinh sách (Les religions du Livre). Chỉ có cái khác là, nếu Hồi giáo coi Do thái giáo là đạo nguyên thủy, Kitô giáo là đạo tiếp tục sự mặc khải của Chúa, thì Hồi giáo tự coi mình là sự mặc khải cuối cùng, toàn vẹn của Chúa. Sau Hồi giáo không có đạo nào khác và kinh Coran là luật lệ của Chúa ban cho tất cả loài người, bắt buộc mọi người đều phải tuân theo.
Tôi có thể nói, cho tới những ngày gần đây, những người tự cho là mácxít- Lêninít, chính cống cũng suy luận hệt như vậy khi nói về biện chứng lịch sử và đấu tranh giai cấp. Theo những người này, sự diễn tiến đi từ những chế độ phong kiến đến những chế độ tư sản, tư bản, trước khi đi đến thế giơi đại đồng của chế độ cộng sản, là sự tất yếu của lịch sử. Tất cà mọi học thuyết khác không chấp nhận biện chứng lịch sử đều là phản động, y hệt như những người bị coi là bất trung (infideles) hay vô tín ngưỡng (mécréants), cần phải bị tiêu diệt nếu không chịu tin kinh Coran là sự mặc khải cuối cùng và cũng là những điều luật của Chúa, được Chúa đọc cho mọi người và mọi người phải tuân theo.
***Hải Lý: Tôi đọc kinh Qur'an (Coran)
“Hồi giáo là tôn giáo của hòa bình!” (Islam is the religion of peace) dường như đã trở thành một điệp khúc quen thuộc của người Hồi giáo sau mỗi vụ tấn công khủng bố gây ra bởi những kẻ nhân danh đạo Hồi. Họ bảo những kẻ khủng bố ấy thì không theo một tôn giáo nào cả, họ kêu gọi thế giới đừng nhập chung người Hồi với những kẻ ấy, và họ còn trích dẫn điều ghi ở chương 5, điều 32 trong kinh Qur’an: “Kẻ nào giết một người vô tội thì cũng như hắn đã giết toàn nhân loại” (“Whoever kills an innocent person it is as if he has killed all of humanity”)
Trước mặt tôi là quyển kinh Qur’an của một anh bạn học người Hồi tặng lúc tôi còn đang học trung học. Tình bạn của chúng tôi kết thúc trong một tình cảnh chẳng vui vẻ gì cho lắm. Số là bữa nọ anh đến nhà tôi mượn bài vở, nói chuyện lan man thì chả hiểu sao lại đi qua đề tài tôn giáo, và anh nhìn thẳng tôi bảo rằng nếu tôi không tin vào Allah thì sẽ bị hỏa thiêu đời đời trong địa ngục. Điên tiết, còn chưa biết trả lời thế nào thì tôi chợt nhớ trong tủ lạnh mình có một thứ mà anh ta ghét cay ghét đắng. Mở tủ lạnh, quăng miếng thịt heo lên bàn, tôi nói gọn lỏn là cần phải chuẩn bị cho bữa cơm chiều nay. Anh tái mặt, kiếm cớ bỏ một mạch ra về.
Chúng tôi không còn nói chuyện nữa, nhưng quyển kinh Qur’an mà anh tặng trước đó (để chiêu dụ tôi theo đạo Hồi) thì tôi vẫn giữ trân trọng. Tôi bực anh, nhưng nghĩ Hồi giáo thì cũng như bao tôn giáo khác và kinh sách của họ nào có tội tình gì. Tôi cũng nghĩ là biết đâu sau này mình lại cần kinh Qur’an cho mục đích nghiên cứu.

Quyển kinh ấy vẫn trên giá sách của tôi trong nhiều năm như vậy cho đến một lần tôi quyết định giở ra đọc nó xem những lời vàng ý ngọc được truyền xuống cho tiên tri Muhammad là như thế nào. Đọc xong, cảm giác của tôi chỉ gói gọn trong một chữ: “Choáng!”... Choáng, vì ngoài những lời nhắn nhủ về sự yêu thương, bố thí, cầu nguyện, v.v… thì tôi có cảm giác ngài Allah rất hằn học với những kẻ ngoại đạo (disbelievers hoặc unbelievers) như tôi. Này nhé, dưới mắt ngài thì chúng tôi - những kẻ ngoại đạo - là “thứ súc sanh xấu xa nhất” (Qur’an - chương 8 điều 55 “For the worst of beasts in the sight of Allah are those who reject Him; they will not believe.”) Ngài Allah còn ân cần dặn dò người Hồi giáo là “chớ có nên kết bạn với kẻ ngoại đạo. Gặp những kẻ này ở đâu thì cứ giết chúng!” (Qur’an - chương 4 điều 89 “…seize them and slay them wherever you find them; and (in any case) take no friends or helpers from their ranks”)
Có nghĩa là nếu theo tinh thần của kinh Qur’an, tôi sẽ chỉ có hai lựa chọn. Một là tin theo Hồi giáo, còn không thì phải chết, và chết rất thảm khốc. Như Allah đã hứa hẹn sau đây: “Ta sẽ khiến trái tim của những kẻ ngoại đạo co rúm vì sợ hãi. Vì thế hãy chặt đầu chúng và chặt hết các đầu ngón tay của chúng” (Qur’an - chương 8 điều 12 “...I will instill terror into the hearts of the Unbelievers: smite above their necks and smite all their finger-tips off them”)
Chết, nhưng vẫn còn chưa yên, một hỏa ngục sẽ mở ra chào đón những người ngoại đạo với các hình phạt ghê rợn: “Những kẻ ngoại đạo sẽ được mặc quần áo bằng lửa, nước sôi sẽ được đổ lên đầu chúng. Cả thân người chúng từ trong lẫn ngoài sẽ bị tan chảy. Hơn nữa, chúng còn chịu nhục hình với các cầu gai sắt…” (Qur’an - chương 22 điều 19-21 “…for them will be cut out a garment of fire: over their heads will be poured out boiling water. With it will be melted what is within their bodies, as well as (their) skins. In addition there will be maces of iron (to punish) them”)

Và có vẻ là những người ngoại đạo, cho dù chọn cách sống yên phận không gây hấn với bất cứ một ai, vẫn là những phần tử phản động trong mắt ngài Allah, và như vậy, dù là hiền lành thì cũng cần bị tiêu diệt: “Hỡi những kẻ tin ta, hãy tuyên chiến với những kẻ ngoại đạo ở gần các ngươi. Cho chúng biết sự tàn độc của các ngươi, và biết rằng Allah ở bên cạnh những kẻ kính sợ Người” (Qur’an - chương 9 điều 123 “O you who believe! Fight the Unbelievers who are near to you and let them find harshness in you, and know that Allah is with those who fear Him”)
Cuối cùng, “chúng ta sẽ ngưng giết chóc khi không còn sự đàn áp trên thế giới này và tất cả mọi người đều tuân phục Allah” (Qur’an - chương 2 điều 193 “And fight them on until there is no more persecution and the religion becomes Allah’s”)
Gấp lại cuốn kinh Qur’an, cảm thấy ái ngại cho ngài Allah. Xuyên suốt từ đầu đến cuối của gần 1500 trang, cứ mỗi vài trang là những lời đả kích, nguyền rủa và hăm dọa những kẻ không tin đạo. Ngài có vẻ rất giận dữ với những kẻ như tôi, như thế rất không tốt cho sức khỏe. Và lại thêm ái ngại cho các bạn đạo Hồi dám mạnh miệng tuyên bố “Hồi giáo là tôn giáo của hòa bình” và còn trích dẫn Qur’an. Thôi thì tin là các bạn ấy có khi cũng chưa đọc qua cuốn kinh này, hoặc có đọc qua thì đa số các bạn cũng làm ngơ trước bao nhiêu đoạn kêu gọi giết chóc người ngoại đạo - muôn phần đội ơn các bạn ở điều này.

Chợt nhớ có một câu truyện hay được lưu truyền trong Phật giáo. Truyện kể là có ngày nọ đức Phật đang đi khất thực trên đường thì gặp một giáo sĩ của đạo Bà la môn. Ngài giáo sĩ Bà la môn này rất căm ghét đức Phật, nên lẽo đẽo đi theo đức Phật và chửi mắng bằng những lời lẽ tồi tệ nhất. Nhưng mặc bị chửi, đức Phật vẫn điềm nhiên đi như không có chuyện gì xảy ra. Chửi một lúc, mệt, ngài Bà la môn thở hổn hển:
- Này, Cù Đàm (tên của đức Phật), ông có bị điếc không?
- Không, ta không điếc.
- Không điếc thế sao ta chửi ông mà ông chẳng có phản ứng gì cả?
Đức Phật mỉm cười:
- Này nhé, để ta hỏi ông. Giả sử nếu có người đem một thùng rác tặng cho ông, ông không nhận. Thế thì thùng rác ấy sẽ về ai?
- Vậy mà cũng hỏi. Ta không nhận thì thùng rác ấy sẽ trở về lại với gã tặng ấy chứ ai!
- Thì với ông ta cũng vậy. Ông chửi ta nhưng ta không nhận, vậy thôi.

Cách giải quyết vấn đề của đức Phật với những kẻ ngoại đạo (đôi khi rất hung hăng), thật là… chuyên nghiệp, phải không mọi người?
(2) Thơ từ Bạn bè gởi:
(i) Hồ Chí Bửu: Cao Thủ
Mấy hào sĩ đùa ta là cao thủ
Cao thủ gì mà mê gái bẩm sinh
Sáng và chiều làm bạn cùng ly rượu
Chân dài, chân cong nhìn cũng giật mình
      Sự nghiệp cả đời không đầy lá mít
      Hào sảng nỗi gì – đi bộ mòn chân
      Như gã Kinh Kha chiều qua sông Dịch
      Lỡ phút chơi ngông hối hận trăm lần
Trời lỡ sinh ta là tên nát rượu
Thơ vắt từ tim chỉ một chữ yêu
Trong các cuộc chơi cuối cùng bị dụ
Xả láng quen thân nên cứ chơi liều
      Võ lâm ngũ bá – Hoa Sơn luận kiếm
      Ta lên Hoa Sơn tìm lá diêu bông
      Cao thủ hiên ngang vào Tầm Dương điếm
      Ta mãi loanh quanh kiếm gái chưa chồng..
Ta chẳng đổi thừa cái thời mạt vận
Tráng sĩ bẻ gươm, hàn sĩ lên chùa
Ta đứng giữa trời hét vào vô tận :
Ta đã chết rồi- chẳng biết chôn chưa ??
(ii) Huy Uyên: Sài-Gòn, Đà-Nẵng
Gởi em nụ hôn môi xa
gió ngủ mắt ai xanh biếc
ngậm ngùi chiều muộn vừa qua
những lần bên em nuối tiếc .
     Lá sao xa cành quá sớm
     mình ai đứng lại bên đường
     phố vắng chiều quên
     nước dưới cầu in bóng
     cải vàng cụm hoa đầy sương .
Em giờ quay lại sân ga
mùa đông hồi tàu da diết
bạc màu cách chia hai ta
tay ai vẩy sầu vĩnh-biệt .
     Ở Sài-Gòn sao sầu trăm ngả
     cầm tim ai dạo loanh quanh
     giấc mơ cũ hồn chia trăm ngã
     đêm ngũ quên ngoài chợ Bến-Thành .
Mới đó mà gần hết năm
đi lang bạt đất người hoài mãi
về Thủ-Thiêm đợi thuyền
người qua bên kia buồn thế .
     Chén rượu suông vơi cay đắng
     quán cóc xưa thiếp-mê-buồn
     thoáng trời dạt trôi mộng tưởng
     tình và tiền cũng bay luôn .
Đốt tim gởi Đà-Nẵng quê nhà
cay khói cuối năm
chen buồn lên mắt đỏ
son môi em hồng khúc đợi chờ
hàng cây đuổi tóc em theo gió .
     Thu vàng trên cao góc phố
     mùa đông phai chậm bước lối về
    kỷ niệm chợt bay đi cùng gió
    Chợ-Lớn lặng sầu,bên tách cà-phê .
Đà-Nẵng, Sài-Gòn, tôi, vạn nỗi buồn
áo bạc bụi trần phai dong ruổi
khuất chìm xưa đọng dấu mù sương
đêm ngày thương ai
tim sầu cố xứ .
(H.U - Mùa đông 2015)
......................................................................................................................
Kính,
NNS

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét