Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Ảnh Tuyền Linh

DU LỊCH TRUNG QUỐC
HÀN SAN TỰ
Thái Quốc Mưu
Phần 4



3. Hàn San Tự (寒山寺): Hàn San Tự là một ngôi chùa cổ, nhỏ ở sâu trong rừng rậm, nằm ở ngoại thành Cô Tô, phía tây của trấn Phong Kiều, Tô Châu, thuộc tỉnh Giang Tô. Chùa được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ VI, trong niên hiệu Thiên Giám (502-519) thời vua Lương Vũ Đế nhà Lương với tên gọi ban đầu là Diệu Lợi Phổ Minh Tháp viện.  

   
Trong loạn Thái Bình Thiên Quốc chùa bị phá hủy và được xây lại năm 1905. Đến khoảng niên hiệu Trinh Quán (627-649) thời Đường Thái Tông, tên gọi Hàn Sơn mới được đặt, nhằm tưởng nhớ đến nhà sư trụ trì nơi đây. Sau những thăng trầm, Hàn Sơn tự đã được các triều từ Tống tới Thanh gìn giữ, tu bổ cho đến ngày nay.

Hàn San Tự sẽ không được khách du lịch biết đến nhiều nếu không có bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. 
   
Nhà thơ Trương Kế sống vào thời Nhà Đường, khi An Lộc Sơn khởi nghĩa, Trương Kế xuống thuyền lẫn tránh giặc giã, dong thuyền khắp nơi. Một hôm đến Cô Tô ông nằm một mình trên con thuyền nhỏ, với nỗi lòng người xa xứ, ông cảm tác bài Phong Kiều Dạ Bạc:
             
               滿  
                
                
                
                                ( )  
          Phong Kiều Dạ Bạc
          Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
          Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
          Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
          Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
                                                       (Trương Kế)   
Trong bài thơ trên đây, câu cuối làm cho nhiều người thắc mắc, cho rằng tác giả ép vận vì: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” (nghĩa: nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San). Bởi, thông thường nhà chùa chỉ gióng chuông vào khi hoàng hôn và lúc trời hừng sáng, không bao giờ gióng chuông ở thời điểm nửa đêm. Từ đó, sinh ra điển tích. Khi Trương Kế hạ bút đề hai câu:
  
           Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
          Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.

vừa làm xong hai câu nhà thơ hết tứ, bí vận.
   
Trong thời điểm đó, dưới ánh trang lưỡi liềm có một nhà sư, phía sau là một chú tiểu đang theo lối mòn lên núi, trong lúc đi đường, nhà sư cảm hứng, xuất khẩu

hai câu (người viết không nhớ tên tác giả và cũng không nhớ rõ bài thơ, do đó, có thể có sai lầm, xin bạn đọc miễn thứ):

          Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
          Bán tợ ngân câu bán tợ cung.

Vừa viết xong hai câu, nhà sư cũng bí tứ, đọc đi đọc lại hai câu thơ vừa sáng tác, đọc đến nỗi chú tiểu theo sau cũng thuộc làu. Đến Hàn San Tự, trong khi nhà sư lấy nghiên bút tìm tứ cho bài thơ dang dở, thì chú tiểu ra sau chùa, rửa chân ở hồ bán nguyệt. Chú tiểu thấy nửa vành trăng trên trời chiếu xuống lòng hồ nửa vầng trăng khác, cậu ta cảm hứng đọc:

          Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn.
          Bán trầm thu thủy bán trầm không

Thấy mình tự nhiên làm được hai câu thơ, chú tiểu khoái chí, vào chùa đứng sau lưng sư phụ. Chú thấy đã nửa đêm rồi mà thầy mình chẳng chịu vào trong an nghĩ, nên chú bèn lên tiếng đọc đại hai câu thơ chú vừa làm. Không ngờ, hai câu thơ ấy phối hợp với hai cây thơ của nhà sư trở thành bài thơ quá hay! Nhà sư bèn vỗ tay bôm bốp, nói to: “Hay! thật là hay! Có lẽ thi bá Lý Bạch giục khẫu đồ đệ nên đệ tử mới làm được hai câu thơ nầy!” - Nói xong, nhà sư đích thân chạy lên lầu gióng lên ba tiếng chuông tỏ lòng nhớ ơn Lý Bạch. 
   
Trong khi đó, Trương Kế đang bí vận, nằm lim dim ngủ, chợt nghe tiếng chuông từ Hàn San Tự vọng đến, ông vỗ tay la lên, “tứ đây rồi” bèn ngồi bật dậy cất bút viết tiếp hai câu sau:

          Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,
          Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Do điển tích trên bài thơ mới có tiếng chuông chùa gióng lên giữa  đêm. Có lẽ đây là câu chuyện góp vào để hình thành một giai thoại văn chương làm cho văn học Trung Hoa thêm phong phú!
   
Đến Hàn San Tự, du khách thường hay lên lầu chuông gióng chuông, bất kỳ người đó thuộc tôn giáo, quốc gia nào. Họ xem đó như là một kỷ niệm.
   
Theo lệ, mỗi người chỉ được gióng ba tiếng chuông để cầu Phúc, Lộc, Thọ. Nếu ta gióng 4 tiếng chuông, lập tức các nhà sư sẽ đem dao kéo lên mời xuống cạo đầu. Vì theo quy ước, gióng liên tiếp bốn tiếng chuông là dành để cho người xin thí phát quy y.
    
* Tống Thành: Đó là một công trình tân tạo kiến trúc theo mô hình thành Nhà Tống ngày xưa.

Vào viếng Tống Thành, chúng ta sẽ được chứng kiến những sinh hoạt: quán ăn, tiệm thuốc Bắc, chỗ làm đậu hủ, quan, quân mặc y phục Nhà Tống đi đi lại lại... Hoạt cảnh “Gieo cầu kén chồng” rất được du khách xem đông đảo.
   
Tối đến vào xem một chương trình ca vũ nhạc rất đặc sắc. Sân khấu di động là cả một công trình to lớn, những hàng ghế ngồi phía trước, thỉnh thoảng chạy dang ra hai bên rồi chạy trở về chỗ cũ, phía dưới sân khấu những diễn viên từ từ nhô cao, và từ phía trên từ từ đáp xuống, không phải một, hai mà hàng mấy chục người, hai bên cánh gà bỗng dang rộng ra làm sân khấu, diễn viên lơ lửng cùng khắp.

* Ngũ Châu: Ở Trung Quốc có 4 câu thành ngữ, để nói về cái nhất ở mỗi địa phương:
          - Ăn ở Quảng Châu
          - Chơi ở Tô Châu
          - Lấy vợ Hàng Châu
          - Uống ở Qúy Châu
          - Chết ở Liễu Châu 

- Quảng Châu thuộc là thủ phủ tỉnh Quảng Đông mà Quảng Đông là nơi nổi tiếng chế biến thức ăn ngon nhất chẳng những ở Trung Hoa mà ở khắp nơi. Không có thứ gì người Quảng Đông không thể chế biến thành món ăn ngon. Người Trung Quốc, có câu chuyện vui: “Giả sử bắt được một người từ hành tinh khác, thì ở Quảng Đông, người ta sẽ tìm cách nấu nướng, ở Bắc Kinh thì nghiên cứu, tìm tòi”. Đại để, câu nói nầy có nghĩa người Quảng Đông thứ nào có thể ăn được thì họ chẳng tha.
   
- Chơi ở Tô Châu, vì Tô Châu có nhiều thắng cảnh đẹp. 
   
- Lấy vợ Hàng Châu, vì gái Hàng Châu đẹp, dịu dàng và là quê hương của tứ đại mỹ nhân, là: Tây Thi. Thời Xuân Thu, khoảng thế kỷ 7-thế kỷ 6 TCN; Vương Chiêu Quân. Thời nhà Tây Hán, khoảng thế kỷ 1 TCN; Điêu Thuyền. Thời Tam Quốc, khoảng thế kỷ thứ 3; Dương Quý Phi. Thời nhà Đường, 719-756.
   
- Uống ở Quý Châu, vì ở đó có rượu Mao Đài rất nổi tiếng. Nhưng đó là quan niệm của thời xa xưa, vì khi dùng qua rượu Mao Đài, chúng tôi cảm thấy nó thua rất xa các loại rượu Tây hiện tại.
   
- Chết ở Liễu Châu, vì Liễu Châu có một loại gỗ làm quan tài rất tốt, chôn ngàn năm không mụt. Với quan niệm “Sống gởi, thác về”, người Trung Hoa rất quan tâm đến việc chôn cất của mình. Đến Liễu Châu, vào những nơi bán vật kỷ niệm, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi trông thấy những chiếc quan tài nhỏ, xinh xắn bày bán trong tủ kính.

* Viện Ngọc Trai: Đó là một nơi trưng bày tất cả các thứ ngọc trai, từ bé đến lớn. Khi vào đó, chúng ta sẽ được mời trà và được xem tận mắt mỗ trai lấy ngọc. Ông Giám Đốc viện khi cầm con trai lên định mỗ, nói: “Ai nói đúng trong nầy có mấy viên ngọc, tôi sẽ tặng viên lớn nhất cho người đó.” Đa số, một, hai, ba, năm viên... trong khi con trai ấy có 33 viên ngọc lớn nhỏ, sắp thành hai hàng, thẳng băng. Những ai muốn du lịch Trung Quốc, nên nhớ kỹ điều nầy để hy vọng được tặng viên ngọc trai.
    
* Thái Y Viện: Nguyên là nơi làm việc của các quan Ngự Y của các triều vua ngày trước. Bây giờ là nơi tập trung các Đông Y Sĩ nổi tiếng của Trung Quốc để nghiên cứu ngành Đông Y.
    

* Viện Nghiên Cứu Phong Thủy Quốc Gia: Nơi đây tập trung các nhà địa lý, phong thủy bậc thầy để nghiên cứu môn học kỳ bí nầy cho Nhà Nước để chính quyền đem ra áp dụng vào thực tế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét