HẠNH
PHÚC?
Vương Đằng
Bây
giờ là cuối tháng 10 ở miền đông bắc Hoa Kỳ. Mùa thu với những tàn cây nhuộm
sắc vàng lẫn đỏ, với những chiếc lá bay lượn trong gió, với thời tiết lành lạnh
và da trời nhàn nhạt là mùa tôi yêu thích nhất kể từ khi đặt chân lên mảnh đất
hợp chủng nầy vào đầu năm 2002. Nắng thu trải nhẹ trên cảnh vật hai bên đường
tỉnh lộ 213 của tiểu bang New Jersey.
Tôi lái chầm chậm chiếc Ferrari 2007 (một
loại xe thể thao mui trần của Ý, giá 160 ngàn Mỹ kim) mới mua, còn trong thời
kỳ chạy rô-đai, trên đường đi đến Round Valley dự định ngắm cảnh đồi rừng tuyệt
sắc trong ban ngày và buổi tối ngắm ánh trăng rằm phản chiếu trên mặt hồ. Ngoại
cảnh thật thơ mộng, thanh bình, nhưng lòng tôi ngổn ngang hơn cuộn tơ vò, nghĩ
đến hoàn cảnh hiện tại của mình.
Tôi, không muốn quý độc giả biết tên thật, xin chỉ tạm
biết tên hiệu của tôi là Mỹ Nhân (không có nghĩa tôi có nhan sắc tuyệt vời mà
tên hiệu của tôi có liên quan đến lý tưởng hạnh phúc của tôi), là một người đàn
bà sống cô đơn trên xứ người: thằng chồng sĩ quan phế binh Mỹ, già hơn tôi hai
chục tuổi, bụng phệ, nặng 150 ký, cao 1m95, tên David của tôi mới chết. Dù tôi
không yêu thằng chồng bất đắc dĩ khi hắn chỉ là phương tiện để tôi được đi Mỹ,
dù trước đây tôi vẫn thường cầu mong hắn mau về bên kia thế giới bởi vì bệnh
tật liên miên khiến tôi vất vả chăm sóc (không tốn kém bởi chính phủ Mỹ lo hết,
nhưng tôi cũng phải tốn thời giờ và công sức thăm nuôi hàng tuần hay đôi ba
ngày một lần). Dẫu tuổi tác và thân xác của hắn quá chênh lệch với tôi (nặng 50
ký, cao 1m55), nhưng tôi đâu phải là cục đá. Với thời gian, rồi cái gì cũng
quen đi. Tôi đâm ra thích nằm co trong lòng hắn vào mùa đông; hơi nóng từ cái
bụng và ngực đầy lông của hắn phà vào người tôi như lò sưởi âm ấm được điều
chỉnh đúng mức để tôi ngủ ngon giấc mỗi đêm. Tuy nhiên, phải thú thực tôi cảm
thấy áy náy mỗi khi bị người Việt đâu đó nhìn vợ chồng tôi với cặp mắt tò mò,
lạ lùng. May mắn thay! Nhà của chúng tôi ở hướng tây bắc của tiểu bang, láng
giềng toàn người Mỹ da trắng nên hiếm khi gặp đồng hương ưa dòm ngó.
Thằng chồng già chết đi đem đến cho tôi bao nhiêu vui
buồn lẫn lộn. Vui là được hưởng gia tài và tiền bảo hiểm nhân thọ cả triệu
đô-la và không phải hầu hạ, chăm sóc ai nữa. Nhưng buồn là căn nhà quá rộng cho
một mình tôi và không còn ai để thảo luận, tán dóc, coi phim, kể chuyện tiếu
lâm và thỉnh thoảng hú hí bên nhau trên giường. Tôi không còn trẻ nữa. Tóc tôi
đã bạc hoa râm; mỗi tháng phải nhuộm một lần. Biết tìm đâu một người tình hay
một người chồng chân thực yêu tôi trên đất nước đầy giả dối, nhứt là ở trong
tiểu bang vắng vẻ người Việt nầy. Tôi vừa sợ đàn ông ngoại quốc đến với tôi chỉ
vì căn nhà và số tiền kếch sù trong các trương mục ngân hàng của tôi, vừa có
mặc cảm đàn ông Việt Nam không còn thực sự muốn kết nghĩa tóc tơ với một người
đàn bà đã có chồng Mỹ to tướng, nặng nề gấp ba lần.
Một tháng nay, tôi rối trí chưa biết phải làm gì.
Nhưng quyết định đầu tiên của tôi là đi mua trả tiền mặt chiếc xe Ferrari cao
giá nầy như một đền bù cho nỗi trống vắng và cũng là một niềm vui sướng, một
bóng mát hạnh phúc mà tôi ẩn núp trong đó. Nhắc đến hai chữ “hạnh phúc” khiến
tâm tư tôi miên man trở về quá khứ . . .
*
Kể
về gia thế, cha mẹ tôi làm chủ một tiệm cầm đồ ở Thị Nghè và một phòng trà
khiêu vũ trên xa lộ nằm giữa ngả tư Hàng Xanh và cầu Phan Thanh Giản cũ. Tôi
vai út và là con gái duy nhứt trong gia đình nên được cha mẹ cưng chiều và bốn
anh trai thương tôi vô cùng. Trước 1975, tôi chẳng phải phụ giúp công việc gì
cả, mà chỉ lo học tập, tiệc tùng, vui chơi với các bạn gái, chứ chẳng quan tâm
đến lời tán tỉnh của các thanh thiếu niên đồng lứa tuổi Có điều đáng nói là tôi
chuyên cần đèn sách nên cả hai kỳ thi tú tài ban C (văn chương và sinh ngữ) tôi
đều đậu hạng Bình ngay khóa đầu. Và sau bốn năm tôi đậu cử nhân Anh văn không khó
khăn. Rồi tôi tiếp tục ghi danh ban cao học (tức thạc sĩ bây giờ) trong khi đi
dạy bán thời ở Hội Việt Mỹ.
Hạnh phúc đối với tôi bao gồm hai mục tiêu: đậu được
bằng cử nhân để cảm thấy không hổ thẹn về trình độ giáo dục và đi Mỹ để được
sống thật tự do, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán cổ lổ khiến tôi cảm
thấy khó chịu, và thêm nữa có nhiều hy vọng trở thành triệu hay tỉ phú như bao
nhiêu gương ngoại kiều di dân qua đất Mỹ sau 1945. Bởi thế mà tôi học ban Anh
văn và tìm cách có thế đứng ở Hội Việt Mỹ.
Từ 30 tháng 4 năm1975, tôi tin tưởng câu “Họa vô đơn
chí” (tai họa không đến đơn độc) bởi vì biết bao nhiêu đau khổ, đắng cay dồn
dập vào gia đình tôi. Hai người anh kế tôi biệt tích trên chiến trường cao
nguyên. Tiệm cầm đồ và vũ trường bị đóng cửa. Cha mẹ tôi tốn hơn phân nửa vàng
vòng giấu giếm để lo cho anh Ba và vợ con vượt biên; nhưng họ mãi mãi bặt tin.
Rồi anh Hai bị tai nạn giao thông trở thành phế nhân ngồi xe lăn.
Còn tôi, tôi cũng chẳng may mắn gì. Hội
Việt Mỹ đóng cửa. Xe Honda 70 mới sắm và vòng vàng cá nhân cũng từ từ ra đi
không hẹn ngày tái ngộ. Cuối năm 1975, cả gia đình tôi dọn về Đà Lạt, sống cạnh
gia đình bên vợ của anh Hai ở Thái Phiên. Trong một năm trời, tôi—đã từng sống
như tiểu thư trước 1975—và cha mẹ già tôi phải đổ mồ hôi, phồng tay cuốc đất
trồng trọt để có củ khoai, hạt đậu, bắp cải, rau trái, mà sống qua ngày. Trời
ơi! Cực ơi là cực! Không chịu nổi nữa nên cha mẹ tôi tom góp hết gia sản và mở
cho tôi một cửa tiệm tạp hóa thật nhỏ ngay ở hàng ba và gian trước căn nhà ngói
cũ kỹ, thấp lè tè của chúng tôi.
Một năm sau thì tôi phải lấy chồng để
làm vui lòng cha mẹ. Chồng tôi là con một của đại gia trước kia, bây giờ suy
sụp. Và tôi sanh năm một, nhưng chỉ là hai con gái. Chồng và cha mẹ chồng rất
thất vọng. Thế là chồng tôi bắt đầu có nhân tình với hy vọng kiếm đứa con trai
nối dòng. Và chồng tôi đạt được ý nguyện trong nỗi chua chát và ganh tị của
tôi. Rồi chúng tôi chính thức ly dị. Tôi nhận nuôi hai con gái.
Năm năm sau cha mẹ tôi lần lượt qua đời. Anh Hai tôi
cũng nối gót theo họ vì bệnh tật. Thương yêu và niềm vui lớn nhất còn lại của
tôi là hai đứa con. Thế mà hai con tôi, không giống như tôi, chạy theo tiếng
gọi tình yêu và theo chồng, một đứa ở Sài Gòn, một đứa ở Mỹ Tho, bỏ tôi về sống
cô quạnh.
Không đủ sức cáng đáng tiệm tạp hóa, tôi bán tất cả
hàng hóa còn lại và mở dịch vụ vi tính nho nhỏ. Tuy khổ cực trăm bề, nhưng trời
thương và có lẽ khí hậu Đà Lạt không tàn phá nhan sắc của tôi nên dù đã non năm
mươi tôi vẫn còn nhiều đàn ông để ý. Tuy nhiên tôi sợ đàn ông ở Việt Nam lắm
rồi—không nhậu nhẹt thì cũng cờ bạc hay đĩ điếm, không ghiền thuốc lá hay chích
ma túy thì cũng khoái nhân tình dù đã có vợ con đùm đề, nhiều người có thói
quen nạt nộ hay đánh đập người bạn đời. Bởi vậy, tôi bắt đầu đăng ký hồ sơ trên
hai mạng lưới Vietfun và Romance. Chỉ trong một tháng, hằng chục Việt kiều ở
Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc xin làm bạn. Mỗi ngày tôi “chat” với một ông; ông nào
cũng than cô đơn, bị bỏ rơi hay chết vợ.
Bấy giờ, lý tưởng hạnh phúc được đi Mỹ của tôi như
sống lại sau hơn hai mươi lăm năm. Tôi chọn một Việt kiều Mỹ, ly dị vợ, muốn về
Việt Nam sống ở Đà Lạt. Nhưng rồi sau ba tháng về thăm tôi, dẫn tôi du lịch
Thái Lan, Singapore, Sapa, Vịnh Hạ Long, Huế, v.v., cuộc tình chúng tôi tan rã
khi người nầy khám phá mộng ước qua Mỹ của tôi. Cuối cùng tôi đành phải vớ một
tên Mỹ già phế binh, đem tôi qua Mỹ rất mau trong vòng một năm.
*
Tôi
ngồi dựa tảng đá, dọc bờ hồ. Sau lưng tôi là đồi lá rì rào; trước mắt tôi là hồ
nước trong xanh. Mắt tôi hướng về cánh buồm sặc sỡ lướt gió, nhưng hồn tôi nhớ
lại những gì có liên quan đến hai chữ “hạnh phúc” …
Trước 1970 tôi có cô bạn học khá thân qua ba lớp ban
văn chương và sinh ngữ ở trường nữ trung học Trưng Vương tên Minh Ngọc, vốn là
con gái của một đầu bếp ở cô nhi viện nhỏ thuộc tỉnh Gia Định cũ. Sau khi đậu
bằng Tú Tài 2, Minh Ngọc quyết định không đeo đuổi con đường học vấn như tôi
hay hầu hết bạn cùng lớp mà cộng tác với ban giám đốc để phục vụ cho các trẻ mồ
côi.
Bấy giờ, khi được tin ấy tôi vội vàng
chạy chiếc Honda 50 mới mua như một phần thưởng của cha mẹ tôi đến tận nhà Minh
Ngọc ở Hạnh Thông Tây để hỏi lý do và với mục đích khuyến khích cô ta cùng tôi
ghi danh ở Đại Học Văn Khoa. Minh Ngọc hân hoan đón chào tôi với tư cách một
người bạn học thân thiết. Chỉ có thế! Và cô ta không những từ chối tấm chân
tình của tôi về việc tiếp tục lên đại học để có tương lai rực rỡ, để sống sung
sướng như đại đa số người có bằng cấp cử nhân trở lên, mà còn quấn lên cổ tôi
một chuỗi châm ngôn, nào là “Một hành
động tốt vốn là một hành động của hạnh phúc”, “Chỉ kiếm hạnh phúc bạn sẽ
không bao giờ gặp; hãy tìm phận sự, rồi hạnh phúc sẽ theo sau như bóng mát đến
đi chung với ánh nắng”, “Hạnh phúc tùy thuộc vào khả năng nhận thức,
chứ không phải vào sự vật, nghĩa là có những gì ưa thích khiến chúng ta sung
sướng, chứ không phải có những gì mà người khác mong muốn”, “Hạnh
phúc chân chính khiến con người trở nên tử tế và biết điều; và hạnh phúc đó
luôn luôn được san sẻ với những người khác”, vân vân và vân vân, khiến tôi như ngộp thở và tiếc công, tiếc
thời giờ. Từ đó, tôi không còn muốn gặp Minh Ngọc nữa. Ba năm sau, Minh Ngọc
chết vì bịnh thương hàn, có lẽ quá tận tụy với công việc từ thiện mà không ngó
ngàng đến sức khỏe của chính mình. Tôi cũng có đến phúng điếu vì các bạn học cũ
thông báo, nhưng thầm hỏi trước quan tài của nàng: “Mầy đã đạt được con đường
hạnh phúc hay đã tự mua cái chết trong tuổi thanh xuân cho đám nhóc con?”
Và cuộc đối thoại giữa tôi và anh Hai
của tôi, cựu giáo sư triết ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, trong nhà hàng Thủy Tạ
trên Đà Lạt vào cuối mùa hè 1974 như sống lại trong tôi . . ..
Buổi chiều, khách ăn uống lưa thưa, và bên ngoài trời
bắt đầu đổ mưa nặng hột trên hồ Xuân Hương. Nhận thấy chắc còn lâu mới có thể
về nhà và cũng là dịp tốt để học hỏi và giải đáp các thắc mắc bấy lâu, tôi mở
đầu:
- Anh Hai! Hôm nay em muốn tham khảo với anh về đề tài
hạnh phúc. Đầu tiên, em xin hỏi hạnh phúc có thực hay chỉ là một ảo giác?
Anh
tôi chưng hửng nhìn tôi giả như không ngờ một con người như tôi bấy lâu chỉ
biết học hành và vui chơi mà hôm nay muốn dấn thân vào thế giới suy tư xa vời.
Nhưng rồi anh cũng ôn tồn trả lời:
- Em ơi, hạnh phúc có thực khi người ta
tin tưởng nó và kiên quyết thực hiện mà cũng là ảo giác khi người ta nhận định
nó một cách sai lầm, thiếu chín chắn hay không quyết chí.
-
Hãy cho em vài thí dụ đi anh Hai!
Qua một phút trầm ngâm, anh tôi nói:
- Thí dụ các nhà từ thiện, tu hành, đạo đức
chân chính tin tưởng rằng “quên mình là
sung sướng, hạnh phúc” theo R. L. Stevenson hoặc “Để được hạnh phúc người ta phải
tốt” theo Kirke White.
-
Thí dụ về ảo giác?
Anh tôi nhíu mày trong giây phút rồi tiếp tục:
-
Hầu hết hạnh phúc được xây dựng trên căn bản vật chất như tiền bạc, danh vọng,
nhà cửa, đồ đạc, vân vân, đều là ảo giác.
Tim tôi nhói lên, mặt tôi nóng bừng lên
khi anh tôi chạm mạnh vào con đường hạnh phúc của tôi. Tôi ấp úng:
- Sao anh nói vậy?
Anh tôi dư biết đã chạm tự ái cô em gái
cưng, nhưng vẫn bình tĩnh đối đáp:
- Nầy em! Hãy nhớ lại lịch sử, hãy quan sát chung
quanh em, thế giới con người đầy những triệu phú, những người quyền cao chức
rộng chỉ tạm hưởng sung sướng hay hạnh phúc một thời gian ngắn ngủi rồi rốt
cuộc sống trong đau khổ, bất hạnh hay mất mạng chỉ vì coi tiền bạc, danh vọng,
quyền lực là cứu cánh của cuộc đời hay hạnh phúc. Ngay cả những nhà cách mạng,
những người sống có lý tưởng tốt đẹp phục vụ quê hương hay xã hội, nhưng không
giữ vững niềm tin, gặp cảnh lao tù hay khốn khó, nghe lời dư luận, cảm thấy đau
khổ hay chán nản thì hạnh phúc cũng chỉ là ảo ảnh.
Bấy giờ tôi hầu như không tin lời anh tôi nói, nhưng
bên ngoài trời xám xịt, mưa vẫn xối xả, nên tôi đưa ý kiến:
-
Anh có nghĩ rằng hạnh phúc chính ở lòng ta: Cái gì mình cho là hạnh phúc thì đó
là hạnh phúc?
-
Em nói đúng năm mươi phần trăm: người nông dân với ruộng rẫy miền quê xa xôi,
đồng bào thiểu số sống đơn giản, thanh bình trong rừng núi vẫn nghĩ rằng mình
sống trong hạnh phúc. Nhưng một khi họ đặt chân xuống thị thành hay nền văn
minh khoa học kỹ thuật lan tràn đến nơi họ sống thì lúc đó hầu hết họ cảm thấy
đau khổ vì so sánh với tất cả những gì người khác có hay thụ hưởng mà họ không
có.
Uống một hớp cà phê sữa đá để thấm giọng, anh tôi nói
tiếp:
-
Bọn cướp của giết người, tên tham nhũng sống trên mồ hôi nước mắt của đám dân
lành, lũ ghiền xì ke ma túy, kẻ suốt đời chỉ sống và đặt lý tưởng cho cái tôi
của mình chỉ có ảo giác hạnh phúc cho chính họ. Một ngày nào đó, ảo giác sẽ
biến mất và họ sẽ cảm thấy mình đã tự lừa dối mình.
Tôi không ngờ mình dại dột tự nằm lên bàn mổ mà anh
Hai yêu quý nhứt của tôi làm bác sĩ giải phẫu mặc tình cắt thẻo may vá từng thớ
da, thịt, gân, sụn của tôi. Chuyện đã lỡ, tới đâu thì tới vì bên ngoài mưa vẫn
rì rào. Tôi đè bẹp tự ái, góp ý:
-
Như vậy nghèo cũng đau khổ, mà giàu cũng vậy? Có phải như thế không anh Hai?
Anh tôi nheo mắt, mỉm cười:
-
Không hoàn toàn như thế em ạ! Nghèo thì khổ nhiều hơn nhưng vẫn có cái vui đạm
bạc và giàu thì chắc chắn có nhiều điều vui hơn khổ, nhưng chưa chắc là họ có
hạnh phúc. Hạnh phúc không thể căn cứ vào giàu hay nghèo.
Trong khi anh tôi ngả lưng vào thành
ghế, tôi chất vấn:
-
Như vậy xin anh cho biết cái gì có thể đem lại hạnh phúc?
Anh tôi chớp mắt hai cái, tư lự trong
giây phút rồi trả lời:
-
Thật sự, rất khó nói cái gì đem lại hạnh phúc, nhưng anh có thể quả quyết với
em bốn điều. Một là hạnh phúc có thể được xây dựng bằng đức hạnh. Hai, chúng ta
không có quyền hưởng thụ hạnh phúc mà không sản xuất nó cũng như xài tiền mà
không làm ra tiền. Ba, hạnh phúc được chia sẻ với kẻ khác thì mới là hạnh phúc
trọn vẹn, chẳng hạn như cộng đồng người Amish ở Hoa Kỳ, đi bộ hay xe ngựa,
không xài bất cứ vật gì dùng điện, sống thương yêu tương trợ lẫn nhau, được coi
là những người hạnh phúc nhất ở Mỹ. Bốn, sống hạnh phúc là biết chấp nhận và
quý trọng những gì mình đang có, có thể có theo như câu “Biết đủ thời đủ, không biết đủ thì
đến bao giờ mới đủ” … Nầy em, anh không thể xác định con đường hạnh phúc mà
em nên theo. Hãy suy ngẫm những gì anh đã nói và tự vạch cho mình một lối đi
cho chính mình em ạ!
Tôi
im lặng, lắng hồn theo tiếng nhạc chết trong nhà hàng, không còn kiên nhẫn để
tìm hiểu hay tiếp tục thỉnh giáo lý thuyết cao siêu nữa. Anh tôi cũng thấm mệt
hay không muốn tạt nước lạnh vào mặt tôi nữa (bởi vì anh hiểu quá nhiều về cá
nhân tôi) nên châm điếu thuốc Kool và ngã đầu vào tường, mắt theo dõi làn khói
nhẹ bay lên trần.
*
Minh
Ngọc không còn nữa và anh Hai của tôi cũng thế, giờ đây nghĩ lại tôi tin rằng
cả hai đã sống trong hạnh phúc dù chết sớm dù tàn tật và đau ốm triền miên
trong năm cuối cùng. Tôi cảm thấy tự hổ thẹn cho mưu cầu hạnh phúc của mình. Đã
đậu bằng cử nhân và được đi Mỹ, nhưng tôi vẫn không thấy mình hạnh phúc như tôi
mơ tưởng khi còn trẻ tuổi. Thêm nữa, trong tay bây giờ tôi đã có bạc triệu, có
nhà, có xe đắc tiền, nhưng quanh tôi, không con, không chồng, không người yêu,
không bạn bè thân thiết, không bà con xa gần.
Nắng hoàng hôn le lói xa xa. Tôi suy nghĩ đi tìm lý do
tại sao tôi lâm vào hoàn cảnh kể trên. Tôi nghiền ngẫm những gì Minh Ngọc và
anh Hai của tôi đã nói với tôi về hạnh phúc …
A! Tôi nhận thức được rồi. Thì ra, tất cả chỉ vì tôi
sống quá ích kỷ. Trước 1975, chẳng phụ giúp gia đình, tôi chỉ lo học và vui
chơi, không hoạt động xã hội, đoàn thể sinh viên hay từ thiện nào, ngay cả khi
dạy học tôi chỉ coi đó là phương tiện kiếm tiền và có cơ hội bắt liên lạc đi
Mỹ. Sau 1975, dù tôi đã thay đổi nhiều vì hoàn cảnh cơ cực và có chồng con,
nhưng tôi vẫn là con người vị kỷ, nghĩ đến mình trước mọi người khác và sau đó
chỉ nghĩ làm sao được đi Mỹ, bất chấp ý kiến bà con thân hữu hay dư luận.
Tôi cười một mình trong bóng đêm dịu
dàng phủ xuống cảnh vật. Và ánh trăng như bắt đầu ló dạng khi tôi xếp đặt
chương trình hành động: bán nhà, dọn qua khu Sài Gòn Nhỏ ở Ca Li, tham gia đoàn
thể xã hội, dạy Anh văn miễn phí cho người Việt mới qua và quyên góp giúp
thương phế binh, người mù, người cùi, cô nhi viện, nạn nhân bão lụt, v.v.. Tôi
phải chịu đựng hoàn cảnh hiện tại một thời gian nữa và tin chắc rằng tôi sẽ
không còn cô đơn với những gì đã quyết chí thực hiện. Chắc chắn sẽ có người thương
tôi hay yêu tôi. Mà dù, không có đi nữa, thì tôi vẫn nhứt định tiến hành những
gì đã dự tính.
Tôi không cảm thấy lạnh nữa. Hồn tôi,
thân thể tôi nhẹ nhàng như quyện theo gió mùa thu, như tung tăng trên con đường
hạnh phúc mới được vẽ hoa, tô màu muôn sắc và đầy hy vọng kết trái ngon, trái
ngọt trong tương lai. Lần đầu tiên trong đời tôi thực sự cảm thấy mình biết
sống hạnh phúc bởi vì con người tôi đã thay đổi: chấp nhận những gì mình đang
có và biết san sẻ niềm vui hay hạnh phúc với những ai đáng cần nó.
Quý độc giả nghĩ sao? Xin cho biết ý
kiến!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét